ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ HỒNG VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN VÀ KINH TẾ - KHOA QUỐC TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THEO TIẾP CẬN
QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ HỒNG VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN VÀ KINH TẾ - KHOA QUỐC TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THEO TIẾP CẬN
QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Đức Chính
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
CBQL
Bộ môn Khoa học Xã hội Nhân văn
và Kinh tế
Cán bộ quản lý
DH
Dạy học
ĐBCL
Đảm bảo chất lượng
ĐH
Đại học
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
GV
Giảng viên
1.2.2. Quản lý chất lượng ..........................................................................................20
1.2.3. Quản lý chất lượng trong giáo dục đại học .....................................................24
1.3. Quản lý chất lượng quá trình dạy học ................................................................ 27
1.3.2. Dạy học ............................................................................................................27
1.3.3. Quá trình dạy học ............................................................................................28
1.3.4. Quản lý chất lượng quá trình dạy học .............................................................29
1.4. Hoạt động dạy học của giảng viên Bộ môn Khoa học Xã hội Nhân văn và Kinh
tế – Khoa Quốc tế, ĐHQGHN .................................................................................. 35
1.4.2. Giảng viên Bộ môn Khoa học Xã hội Nhân văn và Kinh tế - Khoa Quốc tế
ĐHQGHN..................................................................................................................35
1.4.3. Chương trình đào tạo trong Khoa quốc tế ĐHQGHN .....................................35
1.4.4. Phương thức đào tạo trong Khoa Quốc tế ĐHQGHN .....................................35
1.4.5. Đối tượng sinh viên của Khoa Quốc tế ĐHQGHN .........................................37
1.5. Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 38
CHƢƠNG 2: THƢ̣C TRẠNG QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG DẠY HỌC CỦA BỘ
MÔN KHXHNV&KT KHOA QUỐC TẾ ĐHQGHN .........................................39
2.1. Khái quát về Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và Bộ môn Khoa học
Xã hội Nhân văn và Kinh tế trực thuộc Khoa Quốc tế .............................................39
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Khoa Quốc tế ĐHQGHN .................. 39
2.1.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Bộ môn KHXHNV&KT trong Khoa Quốc tế
ĐHQGHN..................................................................................................................47
2.2. Thực trạng dạy học và quản lý quá trình dạy học .............................................. 51
iii
2.2.1. Khái quát về quá trình khảo sát ....................................................................... 51
2.2.2. Thực trạng việc xây dựng quy trình dạy học ...................................................57
2.2.3. Thực trạng việc xây dựng tiêu chí đánh giá quy trình dạy học .......................58
2.2.4. Thực trạng việc tổ chức cho giảng viên xây dựng kế hoạch dạy học theo quy
iv
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .......................................................................100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 102
PHỤ LỤC ...............................................................................................................107
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Tên bảng
Nội dung các giai đoạn của Quy trình DH
Sản phẩm và yêu cầu của các giai đoạn trong Quy
trình DH
Cơ cấu đội ngũ GV Khoa Quốc tế ĐHQGHN (số
liệu năm 2010)
Thống kê diện tích sử dụng tại Làng Sinh viên
Hacinco
Trang
29
30
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
Bảng 2.12
Bảng 2.13
Bảng 2.14
Bảng 3.1
Nhận thức của GV và CBQL về các bước của quy
trình DH
Thực trạng việc xây dựng tiêu chí đánh giá quy
trình DH
Thực trạng việc thẩm định và duyệt đề cương
môn học
Thực trạng việc soạn đề cương theo quy trình
Sự khác biệt giữa GV và SV khi đánh giá thực
trạng GV soạn đề cương theo quy trình
Thực trạng việc tổ chức để GV thực hiện quy
trình
Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát việc thực
hiện quy trình DH
Thực trạng việc đảm bảo các điều kiện để thực
hiện quy trình
Các tiêu chí đánh giá quy trình DH của GV
vi
57
57
61
Hình 1.2
Ba giai đoạn của quy trình DH
29
Hình 2.1
Cơ cấu tổ chức của Khoa Quốc tế ĐHQGHN
40
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Ý kiến GV và SV đối với việc GV tìm hiểu phong
cách học tập của SV và việc GV điều tra hứng thú
học tập của sinh viên đối với môn học
Ý kiến GV và SV đối với việc GV điều tra hứng
thú học tập của SV đối với môn học
So sánh ý kiến đánh giá của SV, GV, CBQL đối
với thực trạng GV thực hiện quy trình DH
65
65
69
Hình 3.1
đại chúng và đại học tinh hoa, Chế độ chính sách cho giảng viên, Nghiên cứu
khoa học và chuyển giao công nghệ, Quản trị đại học v.v. là ý kiến cho rằng
một trong những vấn đề cốt lõi tạo điều kiện cho phát triển giáo dục đại học
chính là xây dựng môi trường cạnh tranh trong giáo dục đại học.
Nói tới cạnh tranh là nói tới chất lượng, chất lượng chính là đòn bẩy để
nâng cao sức cạnh tranh của một tổ chức. Đã từ lâu việc kiểm định chất lượng
đào tạo trong giáo dục đại học đã được tiến hành ở các nước phát triển trên
thế giới và trong khu vực, đó là điều kiện tồn tại của trường đại học.
Nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đào tạo của trường ĐH, nhà
trường cần quản lý chất lượng tất cả các lĩnh vực quản lý. Đối với một trường
đại học các lĩnh vực quản lý chất lượng có thể nhìn nhận trên các lĩnh vực bao
ix
gồm: Quản lý đào tạo, Quản lý QTDH, Quản lý NCKH, Quản lý đội ngũ cán
bộ GV, Quản lý SV, Quản lý tài chính, Quản lý cơ sở vật chất và các điều
kiện hỗ trợ…
Trong các lĩnh vực quản lý nêu trên, quản lý QTDH là lĩnh vực quan
trọng nhất bởi nó quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đào tạo, tác
động đến uy tín, thương hiệu của nhà trường đồng thời ảnh hưởng đến chất
lượng nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội. Vì vậy, QLCL QTDH là vấn đề
cấp bách và cần thiết đối với tất cả các cơ sở đào tạo nói chung, các trường
ĐH nói riêng. Với tất cả các phân tích nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
Quản lý hoạt động dạy học của Giảng viên bộ môn Khoa học Xã hội
Nhân văn và Kinh tế - Khoa Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp
cận Quản lý chất lƣợng để thực hiện luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát tình hình thực tiễn về quy
trình quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên Bộ môn Khoa học xã hội
nhân văn và Kinh tế - Khoa Quốc tế ĐHQGHN, luận văn đề xuất một quy
7.1.1.Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:
Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu, phân tích phần
tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức để tìm hiểu được những dấu hiệu
đặc thù, bên trong của lý thuyết và trên cơ sở đó tổng hợp lại để tạo ra hệ
thống, thấy được mối quan hệ và tác động biện chứng giữa chúng. Trên cơ sở
đó rút ra kết luận về các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó xây dựng cơ
sở lý luận cho việc nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động dạy học của
giảng viên Bộ môn Khoa học Xã hội Nhân văn và Kinh tế - Khoa Quốc tế
ĐHQGHN theo tiếp cận quản lý chất lượng.
7.1.2.Phương pháp phân loại tài liệu:
Trên cơ sở phân tích lý thuyết tiến tới tổng hợp chúng, tác giả tiến hành
thực hiện quá trình phân loại tài liệu với thao tác sắp xếp tài liệu theo những
vấn đề, theo những đơn vị kiến thức có cùng một dấu hiệu bản chất, cùng một
hướng phát triển về vấn đề quản lý QTDH theo tiếp cận quản lý chất lượng.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3
7.2.1.Điều tra, khảo sát thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi là phương pháp thu thập thông tin
trên phổ rộng, với lượng khách thể lớn, có thể cho phép người nghiên cứu rút
ra kết luận có độ tin cậy cao. Nhằm mục đích thu thập thông tin về thực trạng
hoạt động dạy học của giảng viên Bộ môn Khoa học Xã hội Nhân văn và
Kinh tế - Khoa Quốc tế ĐHQGHN theo tiếp cận quản lý chất lượng, chúng tôi
tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi trên 03 nhóm đối tượng: Cán bộ quản lý,
giảng viên và sinh viên Khoa Quốc tế ĐHQGHN.
7.2.2.Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với CBQL và GV những thông tin về thuận lợi, khó khăn
trong quá trình quản lý quá trình dạy học của GV bộ môn theo tiếp cận quản
lý chất lượng.
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về mặt lý luận, nhiều thuyết về ĐBCL GDĐH bắt đầu xuất hiện ở châu
Âu với xuất phát điểm từ lĩnh vực kinh doanh và sản xuất hàng hóa, sau đó
được đưa vào GD. Trong số đó, có thể kể đến ISO 9000 - bộ Tiêu chuẩn về
quản lý chất lượng ra đời vào năm 1955. Trải qua nhiều lần cải tiến, đến nay
bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được chính thức ban hành ngày 15/12/2000, bao
gồm 04 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng
những sản phẩm, dịch vụ không những đáp ứng được yêu cầu đã đề ra mà còn
thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tương lai.
Bên cạnh đó, có một số phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện,
chẳng hạn như các giải thưởng chất lượng quốc gia Baldrige ở Hoa kỳ, các
giải thưởng chất lượng ở Châu Âu hoặc một số nước khác như Giải thưởng
chất lượng Deming (Nhật Bản); Giải thưởng chất lượng Hàn Quốc; Giải
thưởng chất lượng Singapore; Giải thưởng chất lượng Philipines; Giải thưởng
chất lượng Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó một số đã được áp
dụng vào lĩnh vực giáo dục [21].
Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công
tác KĐCL và ĐBCL GDĐH như: Tổ chức Mạng lưới ĐBCL giáo dục đại học
quốc tế (INQAHE), Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA), Mạng lưới
Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN), Mạng lưới ĐBCL ASEAN
(AUN), mà ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh là thành viên.
Mạng lưới ĐBCL ASEAN được thành lập vào năm 1998, đến năm
2004 tài liệu Hướng dẫn AUN – QA được thông qua và trở thành một cẩm
nang cho các hoạt động ĐBCL trong khu vực ASEAN [18, tr.54].
6
Hiện nay, ĐBCL GDĐH được sử dụng rộng rãi trên thế giới như là một
công cụ nhằm duy trì các chuẩn mực và để không ngừng cải thiện chất lượng
bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường và
kiểm định công nhận (Tadjudin, 2001 trong [41].)
Một số các nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định
quốc gia như : BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia),
FAAP (Philippines), ONESQA (Thái Lan). Trọng tâm kiểm định của mỗi
quốc gia có sự khác nhau. Những nước như Indonesia thực hiện kiểm định ở
cấp chương trình trong đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện kiểm định
ở cấp trường.
Theo Len (2005), dẫn theo tác giả Phạm Quang Thanh [40] thì trong
khu vực châu Á- Thái Bình Dương, hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia đều
do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện
nhiệm vụ kiểm định.
Các vấn đề về ĐBCL GDĐH nói chung, hệ thống ĐBCL trường ĐH
nói riêng, còn được đề cập đến trong hầu hết các tài liệu của các tổ chức
KĐCL hoặc ĐBCL trên thế giới ([46], [47], trong [21].)
Năm 2005, Hiệp hội ĐBCL giáo dục đại học châu Âu (European
Association for Quality Assurance in Higher Education - ENQA) đã đề ra bảy
tiêu chí và nội dung hướng dẫn cho hoạt động ĐBCL bên trong ở các trường
ĐH như sau [25]:
- Chính sách và quy trình ĐBCL: Nhà trường cần có chiến lược, chính
sách và các quy trình hoạt động nhằm không ngừng nâng cao chất lượng toàn
diện; xây dựng và phát triển nếp văn hóa chất lượng trong toàn bộ các hoạt
động.
- Xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn
bằng, chứng chỉ: Nhà trường cần có cơ chế, quy trình để duyệt xét và định kỳ
rà soát các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.
- Đánh giá người học: Người học được đánh giá dựa trên các chuẩn
mực, qui định và quy trình được công khai và có tính nhất quán.
8
Trung Tâm ĐBCL Đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục (CEQARD)
thuộc Đại học quốc gia Hà Nội. CEQARD là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực
ĐBCL ở Việt Nam và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của
hệ thống ĐBCL của đất nước.
Tuy nhiên, theo Phạm Xuân Thanh trong bài viết Hệ thống ĐBCL giáo
dục Đại học: sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam [41], ở cấp độ quốc gia,
việc hình thành và phát triển hệ thống ĐBCL giáo dục được bắt đầu quan tâm
từ năm 2002 bằng việc hình thành phòng Kiểm định chất lượng đào tạo trong
Vụ đại học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, và năm 2003 thành lập Cục khảo
thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo, chuyên
trách về vấn đề này.
Việc phát triển hệ thống ĐBCL giáo dục đại học nói chung và kiểm
định chất lượng giáo dục đại học nói riêng ở Việt Nam bao gồm việc phát
triển hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐBCL và kiểm định chất lượng
giáo dục đại học, xây dựng mô hình phát triển và triển khai thực hiện, tranh
thủ sự hỗ trợ của quốc tế vì đây là một công việc còn non trẻ nên cần có
những bước đi căn bản từ ban đầu.
Sau một vài năm triển khai thực hiện, hoạt động kiểm định chất lượng
giáo dục được quy định trong Luật giáo dục năm 2005 (Điều 17 và 58), Nghị
định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Giáo dục (Chương VII, Điều 38-40), trong các văn
bản quan trọng khác của Chính phủ như Chiến lược phát triển giáo dục giai
đoạn 2001-2010 và 2009-2020, các văn bản quy hoạch mạng lưới các trường
đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010 và 2008-2020, và Đề án đổi mới toàn
diện và tổng thể giáo dục đại học .v.v.[41].
Các giáo trình, tài liệu tham khảo về ĐBCL trong giáo dục Đại học đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và xuất bản các như: Kiểm định chất
lượng trong giáo dục đại học (Nguyễn Đức Chính, 2002) [9], Đánh giá chất
lượng trong giáo dục (Nguyễn Đức Chính, 2008) [11], Tài liệu tập huấn Kỹ
10
11
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong bài viết Tiêu chuẩn chất lượng giáo
dục đại học đăng trên tạp chí Tia Sáng tháng 2/2008 [42] cho rằng vấn đề
kiểm định chất lượng cần được đặt ra nghiêm túc. Nếu chúng ta không làm, sẽ
có người khác làm cho chúng ta và điều đó khó chấp nhận được. Ông cũng
hoan nghênh nỗ lực của Bộ GDĐT trong việc ban hành 10 tiêu chuẩn “đánh
giá chất lượng giáo dục trường đại học”, mặc dù theo ông, các tiêu chuẩn do
Bộ ban hành còn quá chung chung và khó có thể triển khai 10 tiêu chuẩn này
trong thực tế. Bằng việc trình bày nguyên lý đằng sau những tiêu chuẩn chất
lượng, tác giả Nguyễn Văn Tuấn đề xuất một danh sách gồm 43 tiêu chuẩn
được tuyển chọn từ các đại học ở Mĩ, Anh, Canada và Úc, trong đó một số
tiêu chuẩn mang tính đặc thù cho tình hình ở Việt Nam (và không có trong
danh sách tiêu chuẩn của các nước khác).
Nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế bàn về chất lượng GDĐH,
KĐCL, ĐBCL ở trường đại học đã được tổ chức.
Tác giả Lê Văn Hảo trong bài viết Chu trình phát triển giá trị: Một
công cụ thực hiện ĐBCL bên trong cho trường đại học, đăng trên Tạp chí Tia
sáng 3/2009 [25] cho rằng công tác ĐBCL bên trong của mỗi nhà trường là
việc xây dựng và triển khai có hiệu quả chiến lược phát triển chất lượng toàn
diện. Để làm được điều này, rất cần có một công cụ tư duy quản lý mang tính
tổng thể. Tác giả cũng đưa ra một chu trình phát triển giá trị có thể được xem
là một công cụ tư duy mạnh, giúp ích rất tốt cho việc đánh giá thực trạng nhà
trường để từ đó xây dựng chiến lược phát triển chất lượng các nguồn lực, các
sản phẩm của GDĐH, và các hoạt động cần phải có ở một trường ĐH.
Ngày 4-5/03/2009, Hội thảo Thường niên ĐBCL Giáo dục Đại học: Sự
cân bằng giữa bối cảnh quốc gia và mong muốn quốc tế của Mạng lưới Chất
lượng Châu Á-Thái Bình Dương đã được tổ Chức tại Khách sạn Melia, Hà
đào tạo theo quan điểm QLCL.
Ở mức độ chi tiết hơn, Đỗ Thị Hồng Ý (2011) nghiên cứu ở đề tài
Quản lý quá trình dạy học các môn chuyên ngành theo học chế tín chỉ tại
trường cao đẳng công nghệ Viettronics [44]. Trần Phương Thủy (2012) trong
luận văn Nghiên cứu đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên trường
13
Đại học Quy Nhơn đã đề xuất bộ công cụ đo lường, đánh giá chất lượng hoạt
động giảng dạy của GV trường Đại học Quy nhơn, đánh giá kết quả điều tra
thực trạng chất lượng hoạt động giảng dạy của GV tại trường ĐH Quy Nhơn
và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của GV.
Nguyễn Quang Giao (2011) trong luận án tiến sỹ Xây dựng hệ thống
ĐBCL quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
[21] đã hệ thống hóa các quan điểm cơ bản về quản lý chất lượng trong giáo
dục đại học, làm rõ khái niệm quản lý chất lượng là quản lý theo hướng
chuẩn hóa, duy trì cho sự vật ở trạng thái ổn định và phát triển, tựu trung bao
gồm 3 hoạt động được tiến hành đồng thời, liên tục, bao gồm: Xác lập các
mục tiêu và chuẩn mực; Đánh giá thực trạng đối chiếu với chuẩn; Cải tiến
thực trạng theo chuẩn. Cùng với việc làm rõ đặc trưng của quá trình dạy học
(QTDH) các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHNN), tác
giả đã đề xuất một quy trình dạy - học các môn chuyên ngành ở trường
ĐHNN sau khi đã khảo nghiệm khẳng định tính cấp thiết và khả thi của các
biện pháp. Đây là công trình nghiên cứu gần gũi với đề tài luận văn và đã trở
thành khung lý thuyết quan trọng để chúng tôi phát triển, áp dụng cho việc
tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học của giảng viên Bộ môn Khoa học Xã
hội Nhân văn và Kinh tế - Khoa Quốc tế ĐHQGHN, từ đó đề xuất một quy
trình dạy học theo tiếp cận quản lý chất lượng.
1.2. Các khái niệm cơ bản của luận văn
1.2.1.Chất lượng
kiểm định [49, tr.44-49]; trong nhiều bối cảnh, nó còn phụ thuộc vào tình
trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước.
Đối với GDĐH, việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của „khách hàng‟ khó
có thể diễn ra một cách triệt để, bởi lẻ sản phẩm của GDĐH cần thời gian „sản
xuất‟ khá lâu (chẳng hạn 4-6 năm cho một khóa đào tạo bậc đại học), trong
khi nhu cầu và thị hiếu thường thay đổi nhanh chóng hơn. Vì vậy, hoạt động
„sản xuất‟ của GDĐH cần có sự định hướng mang tính chiến lược hơn là sự
thõa mãn những nhu cầu và thị hiếu trước mắt. [25]
15