Quản lí đào tạo tại trường đại học sân khấu điện ảnh hà nội theo tiếp cận đảm bảo chất lượng - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HỒNG HIỀN

QUẢN LÍ ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Thị Hồng Hà

HÀ NỘI, 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ và hỗ trợ của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và các em sinh viên.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn - Tiến sĩ
Trịnh Thị Hồng Hà – người đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn. Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học
cũng như kinh nghiệm trong công tác quản lí của cô chính là tiền đề giúp tôi đạt
được những thành tựu và kinh nghiệm quý báu để hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu và Phòng
Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện tốt
nhất để tôi được học tập, rèn luyện trong suốt thời gian học tập tại Trường.

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý đào tạo các ngành năng khiếu nghệ
thuật ở trường đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng .......................... 6


iv

Chương 2. Thực trạng quản lí đào tạo các ngành năng khiếu nghệ thuật
tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội ....................................... 35

Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo ngành năng khiếu nghệ thuật tại
Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội theo tiếp cận đảm bảo chất
lượng ............................................................................................................... 70


v

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 100


vi

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cán bộ quản lý
Công tác chính trị, Quản lí học sinh, sinh viên
Đảm bảo chất lượng
Đào tạo, Quản lí khoa học
Giáo dục đại học
Giáo dục và Đào tạo

KT&KĐCLGD
KH&CN
KĐCL
KSCL
NSND
NSƯT
NCKH
NGND
PGS
PTTH
PPGD
QLĐT
QLGD
QLTH
ThS
TNCS
TS
TCCB, ĐN
VHCL
VHNT
VH,TT&DL


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

TT
I.
1.

Biểu đồ 2.4. Đánh giá chung của CBQL và giảng viên về thực
hiện quản lí nội dung và chương trình đào tạo
Biểu đồ 2.5. Đánh giá chung của CBQL và giảng viên về thực
hiện quản lí hoạt động dạy của giảng viên
Biểu đồ 2.6. Đánh giá chung của CBQL và giảng viên về thực
hiện quản lí hoạt động học của sinh viên
Biểu đồ 2.7. Đánh giá chung của CBQL và giảng viên về thực
hiện quản lí cơ sở vật chất, tài chính phục vụ dạy học
Biểu đồ 2.8. Đánh giá chung của đội ngũ CBQL và giảng viên
về thực hiện quản lí môi trường đào tạo

39
39
42
45
48
54
57
62

Biểu đồ 3.1. Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp

93

10. Biểu đồ 3.2. Kết quả đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp

94

9.


công tác tuyển sinh qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.3. CBQL và giảng viên đánh giá về quản lí nội dung và
chương trình đào tạo qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.4. CBQL và giảng viên đánh giá thực hiện quản lí hoạt
động dạy của giảng viên qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.5. CBQL và giảng viên đánh giá thực hiện quản lí hoạt
động học của sinh viên qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.6. CBQL và giảng viên đánh giá về thực hiện quản lí cơ
sở vật chất, tài chính phục vụ dạy học qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.7. CBQL và giảng viên đánh giá thực hiện quản lí môi
trường đào tạo qua các tiêu chí cụ thể
Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL và giảng viên về thực trạng các
biện pháp quản lý đào tạo
Bảng 2.9. Đánh giá chung của CBQL và giảng viên về thực
trạng công tác quản lý đào tạo

40
43
46
49
55
57
62
64
65

10. Bảng 3.1. Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp

92


nhân lực cho ngành và cho xã hội, Trường đã xây dựng Đề án “Phát triển
Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội giai đoạn 2014 – 2020, tầm nhìn
đến năm 2030”. Trong đó xác định những mục tiêu cơ bản phải thực hiện là:


2

“Đổi mới căn bản và toàn diện các hoạt động giảng dạy - học tập, tiếp tục nâng
cao chất lượng đào tạo, đưa Trường thực sự trở thành một trung tâm đào tạo và
nghiên cứu có uy tín trong cả nước với các chương trình đào tạo, các cấp học
tiên tiến, hoàn chỉnh; có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đủ năng lực và điều
kiện để giao lưu hội nhập quốc tế; đáp ứng nhu cầu và cung cấp cho xã hội
những nghệ sĩ có tài năng, những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực nghệ thuật, lí
luận, kỹ thuật và quản lí các ngành sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh,
múa và truyền hình. Trường phải là trung tâm đề xuất, góp phần tích cực giải
quyết những vấn đề thuộc các lĩnh vực lí luận và lịch sử nghệ thuật liên quan
đến các ngành nghệ thuật biểu diễn và nghe nhìn; sưu tầm, khai thác và phát
huy những di sản truyền thống, góp tiếng nói riêng của mình vào việc xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” [50]
Công tác đào tạo của Nhà trường đóng vai trò sống còn trong việc đào
tạo nguồn nhân lực nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển của VHNT trong
giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên hiện nay kết quả đào tạo của Nhà trường chưa
hoàn toàn đạt được như mong muốn: nhiều sinh viên thuộc khối ngành điện
ảnh – truyền hình ra trường còn bỡ ngỡ khi tiếp cận với các trang thiết bị kỹ
thuật hiện đại tại cơ sở sản xuất; chất lượng sinh viên một số ngành, chuyên
ngành chưa thực sự đáp ứng được đúng theo chuẩn đầu ra nhà trường đã công
bố; Mặc dù Trường là một trong rất ít trường ở Việt Nam đào tạo nhân lực
trong lĩnh vực sân khấu – điện ảnh, nhưng tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm
đúng chuyên môn chưa cao: Ngành Lí luận phê bình điện ảnh – truyền hình
(khóa học 2009 – 2013: đạt 76%, khóa học 2010 – 2014 đạt 80%), Ngành

ĐH SK-ĐA HN để ĐBCL, góp phần đào tạo sinh viên ra trường đáp ứng được
yêu cầu xã hội và có đóng góp tích cực vào sự phát triển VHNT của đất nước?
Vì những lí do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lí đào tạo tại
Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội theo tiếp cận đảm bảo chất
lượng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.


4

2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lí đào tạo ở Trường ĐH SK-ĐA HN theo
tiếp cận đảm bảo chất lượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các ngành sân
khấu, điện ảnh, truyền hình, múa, nhiếp ảnh và thiết kế mỹ thuật; góp phần
quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển
của Nhà trường giai đoạn 2014 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận về QLĐT theo tiếp cận ĐBCL ở trường đại học
- Đánh giá thực trạng QLĐT ngành năng khiếu nghệ thuật tại Trường
ĐH SK-ĐA HN
- Đề xuất các biện pháp QLĐT ngành năng khiếu nghệ thuật tại Trường
ĐH SK-ĐA HN theo tiếp cận ĐBCL.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lí đào tạo tại Trường ĐH SK-ĐA HN theo tiếp cận ĐBCL.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu QLĐT được giới hạn ở các ngành đào tạo nghệ
thuật trình độ đại học được coi là truyền thống của Trường ĐH SK-ĐA HN
và cũng là ngành đào tạo giúp Nhà trường khẳng định vị trí dẫn đầu trong lĩnh
vực nghệ thuật trong cả nước, đó là các khối ngành: sân khấu, điện ảnh truyền hình và thiết kế mỹ thuật.

Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý đào tạo các ngành năng khiếu nghệ thuật ở trường đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Chương 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐÀO TẠO
NGÀNH NĂNG KHIẾU NGHỆ THUẬT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu về đảm bảo chất lượng trong giáo dục – đào tạo
ĐBCL là một khâu trong hệ thống QLCL. QLCL bao gồm: lập kế
hoạch chất lượng (quality planning), giám sát chất lượng (quality control),
đảm bảo chất lượng (quality assurance) và cải thiện chất lượng (quality
improvement). ĐBCL là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện nhằm
phòng ngừa sự xuất hiện những sai sót bằng các quy trình và cơ chế, chính
sách, thủ tục… nhất định nhằm đảm bảo cho sản phẩm cuối cùng ra đời
không bị lỗi.
Bàn về vấn đề ĐBCL trong GDĐH, đã có nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả nước ngoài phân tích, đề cập đến những khía cạnh khác nhau.
Một số công trình tiêu biểu như sau:
Trong bài “Con đường đưa tới chất lượng giáo dục ở giáo dục đại học”
của tác giả Fabrice Henard và Solenie Leprince – Ringuet [59] nhấn mạnh
chất lượng giáo dục là một vấn đề quan trọng ở bậc đại học, việc ĐBCL giáo
dục sẽ là nhân tố làm chất lượng giáo dục thay đổi và là nhân tố thay đổi cho
sự phát triển của xã hội, thay đổi ý thức học tập của sinh viên, gia tăng nhu
cầu giá trị đồng tiền và là cơ sở cho sự phát triển khoa học kỹ thuật. Hầu hết ở
các quốc gia, ĐBCL giáo dục được xây dựng trên các nguyên tắc: sự liên kết
của các thành viên trong nhà trường, việc thi hành tiến trình ĐBCL giáo dục,
thực hiện các báo cáo về ĐBCL của bản thân các giảng viên, nhân viên trong
nhà trường dựa trên kết quả đánh giá.




8

chỉ số thực hiện, chuẩn mực chất lượng trong GDĐH, một số hình thức đánh
giá trong GDĐH. Ngoài ra trong tài liệu này tác giả cũng đề cặp tới vấn đề vai
trò của cán bộ giảng dạy trong quá trình ĐBCL v.v…
Cuốn “Đánh giá chất lượng giảng dạy - Nội dung - Phương pháp - Kỹ
thuật” [36], Trần Thị Bích Liễu đã cho rằng đánh giá chất lượng giáo dục như
là một hoạt động thường xuyên và được chú trọng trong một tổ chức nhà
trường, nơi mà chất lượng giáo dục được đặt lên hàng đầu. Tác giả đưa ra rất
nhiều phương pháp và hình thức đánh giá chất lượng giáo dục để nhằm
ĐBCL giáo dục và quá trình giảng dạy của giảng viên là một phần trong
ĐBCL giáo dục.
Trong cuốn “Giáo dục đại học, một số thành tố của chất lượng” [39],
Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Quý Thanh đã đề cập đến các thành tố dẫn
đến chất lượng như việc cải tiến thi đại học, sinh viên đánh giá giảng viên,
hoạt động học tập của sinh viên, học vị khoa học của giảng viên v.v… và
phương pháp giáo dục là một trong những thành tố ĐBCL trong GDĐH.
Ngoài ra còn có các báo cáo khoa học, các bài báo khoa học nghiên cứu
về quản lí chất lượng và ĐBCL trong GDĐH.
Bài báo “Về quản lí chất lượng và đảm bảo chất lượng trong giáo dục
đại học” [10] Trịnh Thị Hồng Hà đã cho rằng quản lí chất lượng gồm: lập kế
hoạch chất lượng, giám sát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất
lượng, như vậy ĐBCL là một khâu trong quản lí chất lượng. Và ĐBCL trong
GDĐH là việc hoạch định và thực hiện các chính sách, thủ tục, qui trình v.v…
nhằm đảm bảo cơ sở GDĐH hoặc chương trình GDĐH đạt các chuẩn đã đề ra.
Bài “Đề xuất quản lí chương trình đào tạo theo cách tiếp cận đảm bảo
chất lượng của AUN” in trong kỷ yếu Hội thảo “Đảm bảo chất lượng” Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,
2014 khẳng định: ĐBCL bên trong là một yêu cầu không thể thiếu đối với các



10

Một số khái niệm cơ bản
Quản lí và Quản lí giáo dục
Quản lí
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong
và ngoài nước đã đưa ra cách giải thích không giống nhau về quản lí. Một số
định nghĩa tiêu biểu hay gặp trong các tài liệu như sau:
- Theo Hard Koont: “Quản lí là xây dựng và duy trì một môi trường tốt
giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”. [52]
- Theo Fayel: “Quản lí là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình,
doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lí chính là thực hiện kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. [52]
- Theo Peter. F. Dalark: “Định nghĩa quản lí phải được giới hạn bởi môi
trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lí bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lí
doanh nghiệp, quản lí giám đốc, quản lí công việc và nhân công” [52].
Một số cách giải thích rất quen thuộc ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu
trong các giáo trình, tài liệu và bài báo:
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là
khách thể quản lí) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [44].
- Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ định nghĩa “Quản lí là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này
đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn” [21]
Hoặc cũng có cách giải thích khác: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của

hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và
phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được


12

mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục
và các nguồn lực giáo dục” [26].
Theo ông, QLGD thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp
địa phương và cấp cơ sở. Cấp trung ương và cấp chính quyền địa phương
tỉnh, thành phố được gọi chung là cấp cao. Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và
cấp chính quyền quận. huyện gọi là cấp trung, và cấp trường là cấp cơ sở.
Những cấp quản lí này có lẽ không đồng nhất với ý tưởng quản lí vĩ mô và
quản lí vi mô. Ở cấp quản lí nào cũng có cả quản lí vĩ mô lẫn quản lí vi mô.
Đối tượng của QLGD vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng đến toàn cục, đến
toàn bộ hệ thống giáo dục. Đối tượng của QLGD vi mô là những yếu tố chỉ
ảnh hưởng cục bộ, đơn lẻ [26].
Quản lí trường học
Chúng tôi tán thành và sử dụng quan điểm của Đặng Thành Hưng [28]
về quản lí trường học. Theo ông, trường học là đơn vị cơ sở của tổ chức và hệ
thống giáo dục, đồng thời là một dạng của tổ chức trong xã hội. Vì vậy có thể
hiểu QLTH theo hai nghĩa cơ bản sau:
1. Là quản lí giáo dục tại cơ sở.
2. Là quản lí một loại tổ chức trong xã hội, cụ thể ở đây là tổ chức giáo dục.
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng theo nghĩa thứ nhất. Theo nghĩa này,
QLTH lại có hai khía cạnh khác nhau nhưng thống nhất với nhau mật thiết
đến mức đôi khi khó phân biệt. Khía cạnh thứ nhất liên quan đến các cấp quản
lí chính quyền và chuyên môn thuộc các cấp trên của trường. Mỗi trường học
thực chất vẫn do các cấp nhà nước từ địa phương đến trung ương quản lí. Khi
nói quản lí dựa vào trường học chính là bàn đến quản lí của các cấp trên

- Theo Polat: Đào tạo được hiểu là hoạt động cùng nhau có hướng đích
của người dạy và người học mà trong đó thực hiện sự phát triển nhân cách,
trình độ học vấn và mức độ giáo dục của nhân cách. [51]


14

- Theo Cenzo & Robbins: Đào tạo được hiểu là tiến trình bao gồm
những phương pháp được sử dụng tác động lên quá trình học tập nhằm nâng
cao kiến thức và kỹ năng thực hành. [51]
- Theo Nguyễn Minh Đường: Đào tạo là quá trình hoạt động có mục
đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thái độ... để hoàn thiện nhân cách cho mọi cá nhân, tạo tiền đề cho họ
có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. [9]
- Theo Đào Quang Ngoạn: Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,
có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo và thái độ, nhân cách... trong lí thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực cho
mỗi cá nhân để thực hiện thành công một hoạt động chuyên môn nhất định.
Quá trình này được thực hiện chủ yếu trong hệ thống các nhà trường chuyên
nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề) và hệ thống các trường đại học,
cao đẳng với những chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, quy trình
đào tạo cụ thể nhằm giúp người học đạt được trình độ đào tạo nhất định về
một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp. Khi nói đến đào tạo là nói đến
lĩnh vực cung ứng nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội. [42].
Chúng tôi hiểu đào tạo nói đến các hoạt động giáo dục, dạy học trong
nhà trường chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp cho người học đạt được các
mục tiêu về phẩm chất, năng lực và các điều kiện cần thiết khác của một nghề
chuyên môn theo chuẩn đầu ra đã được các trường xác định từ trước. Trung
tâm của quá trình đào tạo trong nhà trường là hoạt động của người dạy, người
học và các tổ chức sư phạm trong nhà trường nhằm thực hiện các kế hoạch,

ra của quá trình đào tạo trong trường đại học trong sự tác động của bối cảnh
cụ thể. QLĐT theo tiếp cận CIPO được thể hiện trong sơ đồ 1.1 ở trên (các
yếu tố này đặt trong bối cảnh cụ thể).
QLĐT nhìn dưới góc độ các hoạt động sẽ bao gồm nhiệm vụ hoặc nội
dung yếu sau: Quản lí mục tiêu đào tạo; quản lý công tác tuyển sinh; quản lí
nội dung, chương trình đào tạo; quản lí hoạt động của người dạy, người học
trong việc thực hiện kế hoạch, chương trình đào tạo của nhà trường; quản lí
đánh giá kết quả đào tạo; quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ cho đào tạo.
Ngành năng khiếu nghệ thuật
Trong luận văn này, chúng tôi hiểu ngành năng khiếu, nghệ thuật là
một chuyên ngành trong GDĐH. Đó là một chuyên ngành trong đào tạo
chuyên môn (professional) về nghệ thuật đòi hỏi người học phải có năng
khiếu về nghệ thuật trong lĩnh vực mình muốn theo đuổi. Đặc trưng của các
ngành nghệ thuật là nếu không có năng khiếu thì không thể thành công. Năng
khiếu là nói về phẩm chất hoặc tiềm năng riêng có của cá nhân do khi sinh ra
đã vốn có tuy nhiên muốn thành nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật
nào đó thì cần được đào tạo, rèn luyện.
Trường ĐH SK-ĐA HN đào tạo những sinh viên có năng khiếu về nghệ
thuật như: biên kịch, đạo diễn, quay phim điện ảnh; biên tập truyền hình, đạo
diễn truyền hình; nhiếp ảnh nghệ thuật, nhiếp ảnh báo chí; diễn viên kịch nói,
diễn viên điện ảnh; diễn viên tuồng, chèo, cải lương; nhạc công kịch hát dân
tộc; biên đạo múa, huấn luyện múa; thiết kế mỹ thuật sân khấu, điện ảnh,
phim hoạt hình; công nghệ dựng phim, âm thanh điện ảnh – truyền hình v.v…
Những yêu cầu cơ bản đối với sinh viên theo học ngành này là trước
hết cần phải có năng khiếu, lòng đam mê nghệ thuật, tiếp đến là khả năng tư
duy sáng tạo, học tập và rèn luyện các kỹ năng dàn dựng các tác phẩm sân
khấu, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, hội họa… Sau khi tốt nghiệp ra trường,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status