Đa dạng thành phần loài và đăc điểm phân bố của bọ nhảy (insecta collembola) ở khu vực đại lải và vùng phụ cận - Pdf 31

Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: SINH – KTNN
**********

PHẠM THỊ KIM DUNG

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA BỌ NHẢY
(INSECTA: COLLEMBOLA) Ở KHU VỰC
ĐẠI LẢI VÀ VÙNG PHỤ CẬN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

HÀ NỘI – 2008


Lun vn tt nghip

Phm Th Kim Dung

Lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được
nhiều sự giúp đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân. Nhân dịp này,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Trí Tiến, GVC. Ths Vương Thị Hoà - những
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo trong suốt quá trình

nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Phạm Thị Kim Dung


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
MỞ
ĐẦU…………………………………………………………………….…1
Chương
1:
TỔNG
QUAN
TÀI
LIỆU………………………………………….4
1.1.
Tình
hình
nghiên
cứu
bọ
nhảy
trên

2.4.
Phương
pháp
nghiên
cứu……………………………………….………...13
2.4.1.
Nghiên
cứu
ngoài
thực
địa……………………………………………..13
2.4.2.
Nghiên
cứu
tại
phòng
thí
nghiệm…………………….………………...14
2.4.3.
Xử

số
liệu……………………………………………………………16
2.5. Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên
cứu……….……16
2.5.1.
Vị
trí
địa
lí……………………………………………………………...16

Thành
phần
loài

khu
vực
nghiên
cứu…………………………….…….19
3.1.1.
Danh
sách
thành
phần
loài……………………………………………..19
3.1.2.
Thành
phần
phân
loại
học……………………………………………...29
3.1.3.
Nhận
xét………………………………………………………………..29
3.2. Đặc điểm phân bố của bọ nhảy ở khu vực nghiên
cứu…………………..30
3.2.1.
Phân
bố
theo
sinh

cảnh
theo
độ
sâu………………………………………..37
3.3.3.
Nhận
xét………………………………………………………………..38
KẾT
LUẬN……………………………………………………………….…..39
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO……………………………………………….……40
PHỤ LỤC ẢNH
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thời gian, số lượng mẫu định lượng bọ nhảy ở khu vực Đại lải và
vùng phụ cận đã được thu thập và phân tích
Bảng 2: Thành phần loài và phân bố của bọ nhảy theo sinh cảnh, theo độ sâu
và theo mùa ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 3: Thành phần phân loại học bọ nhảy ở Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 4: Các bậc taxon của bọ nhảy phân bố theo sinh cảnh
Bảng 5: Phân bố theo mùa của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 6: Phân bố theo độ sâu của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận


Luận văn tốt nghiệp

Lepidocyrtus (Lepidocyrtus) cyaneus Tullberg, 1871
(Bourlet, 1842)

Phạm Thị Kim Dung

Sminthurides aquaticus


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

Calvatomina antena (Nguyen, 1995)

SINH CẢNH RỪNG TỰ NHIÊN

Seira sp.1


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

SINH CẢNH RỪNG TRỒNG


Luận văn tốt nghiệp

môi trường đất. Nhiều nhóm động vật hiển vi (Microfauna) ở trong đất là đối
tượng thuận lợi cho những nghiên cứu về sinh thái, tiến hóa, nguồn gốc phát
sinh đặc biệt là chỉ thị về điều kiện sinh thái.
Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nhà động vật học, thổ
nhưỡng học, sinh thái học đã đặc biệt quan tâm đến các hoạt động tạo đất của
các nhóm sinh vật sống trong môi trường này. Tuy nhiên, chỉ đến những năm
40-50 của thế kỉ XX, nghiên cứu các nhóm sinh vật đất cùng các hoạt động
sống của chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường đất mới thực sự
phát triển. Ngày nay, số lượng nghiên cứu về sinh vật đất ngày càng đông
đảo, công trình nghiên cứu cùng kết quả của các công trình này ngày càng đa
dạng và phong phú, cả trong lĩnh vực khoa học cơ bản cũng như trong lĩnh
vực ứng dụng.
Bọ nhảy (Collembola) – một trong những đại diện chủ yếu của nhóm
động vật chân khớp nhỏ (Microathropoda) hiện là đối tượng thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu sinh thái học, phân loại học không chỉ bởi


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

những tính chất ưu thế của mình: có số lượng cá thể đông, cư trú khắp mọi
nơi, ở mọi loại hình sinh cảnh, dễ thu lượm, là thành viên tích cực tham gia
vào các quá trình mùn hóa, khoáng hóa trong đất, góp phần vào sự cân bằng
của các chu trình vật chất và trao đổi năng lượng trong hệ sinh thái mà chúng
còn được coi là một trong những nhóm sinh vật chỉ thị nhạy cảm, có thể sử
dụng như một công cụ tin cậy và cập nhật phục vụ cho công tác điều tra, giám
sát chất lượng môi trường.
Trên thế giới cho đến nay, đã có hơn 7000 loài bọ nhảy được mô tả và hàng
năm lại có thêm hàng chục loài mới được công bố. Số lượng các công trình

vùng phụ cận thuộc xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
- Phân tích đặc điểm phân bố của bọ nhảy trong các sinh cảnh nghiên
cứu theo mùa, theo độ sâu tầng đất.
- Phân tích một vài chỉ số định lượng của bọ nhảy ở khu vực nghiên
cứu: số lượng loài, mật độ trung bình và sự thay đổi giá trị các chỉ số này theo
mùa, theo độ sâu tầng đất.


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu bọ nhảy trên thế giới
Trong cấu trúc hệ động vật đất, nhóm chân khớp bé (Microathropoda)
với kích thước cơ thể hiển vi (từ 0,1- 0,2 đến 2 - 3mm) thường chiếm ưu thế
về số lượng so với các nhóm khác. Hai đại diện quan trọng của chúng là
nhóm ve bét (Arachnida: Acarina) và bọ nhảy (Insecta: Collembola)
(Ghilarov, 1941; Delamare – Deboutteville, 1950; Vannier, Cancela da –
Fonseca, 1966 – theo Ghilarov, 1975) [8] đã được biết đến từ lâu cách đây
hàng trăm năm. Chúng là một trong những nhóm chân khớp nguyên thủy,
sống trong đất. Tính nguyên thủy của bọ nhảy được nhiều nhà khoa học nhấn
mạnh như: Tillyard, 1930; Ghilarov, 1958; Handschin, 1958;…vv [9,17].
Hóa thạch đầu tiên của chúng (Rhyniella paraecursor Hirst et Maulik,
1926) đã phát hiện ở vùng đầm lầy Thụy Điển cách đây khoảng 400 triệu năm
(Palacois – Vargas, 1983). Một số dạng hóa thạch khác như Protantomobrya
walkeri Folsom, 1937 được phát hiện ở vùng Ban tích đã hình thành vào kỉ
Paleozoi. Những hóa thạch này cho thấy chúng đều thuộc vào họ hiện đại
ngày nay (Greenslade, 1986) [17].
Trên thế giới, loài bọ nhảy đầu tiên được Linne mô tả vào năm 1758 tại

ở đất nhiễm mặn đã nhận định: thành phần loài, độ phong phú và sự phân bố
của bọ nhảy bị hạn chế bởi các yếu tố sinh thái đó là các yếu tố lí, hóa, sinh
như độ ẩm, thành phần hữu cơ, độ mặn, mật độ CO2, mật độ của lớp thực vật
che phủ …Do vậy chỉ một số loài có tính chuyên hóa cao, thích nghi với điều
kiện biệt hóa mới tồn tại được ở môi trường nhất định. Tuy nhiên, thực
nghiệm lại cho thấy hàng loạt loài cư trú trong phân động vật và phần thực vật
bị thối rữa rất bền vững với nồng độ cao của một số khí độc [7,17,18,19].


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

Đã có khá nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bọ nhảy đến quá trình
tạo đất. Simonov (1984) đã chứng minh sự tham gia của bọ nhảy trong phân
hủy lá rụng ở điều kiện thí nghiệm đã làm tăng cao chất lượng mùn do chúng
rất ưu thế khi điều khiển thành phần và hoạt tính của vi sinh vật, ảnh hưởng
đến các giai đoạn phân hủy vụn hữu cơ theo hướng tăng mạnh sự mùn hóa
của nó và làm tăng chất lượng mùn được tạo thành. M. Sterzynska (2000) cho
rằng: Sự phân bố theo độ sâu của bọ nhảy liên quan chặt chẽ với mức độ phân
hủy chất hữu cơ trong đất. Đa số loài bọ nhảy sống tập trung ở lớp đất mặt (0
– 10cm) [7,10,12,17].
Sự hình thành cấu trúc các nhóm bọ nhảy cho thấy: điều kiện sinh cảnh
càng bất thường thì thành phần loài càng nghèo và số lượng cá thể của một
vài loài càng tăng [33]. Thành phần loài giảm đi ở giai đoạn đầu tiên của quá
trình hình thành đất khi sự diễn thế sinh thái bắt đầu từ đá mẹ, ở đáy các hồ
khô cạn. Đặc biệt hơn nữa, trong môi trường đất ô nhiễm do chất thải công
nghiệp có chứa kim loại nặng, chỉ có một số ít loài tồn tại. (Stebaevaetal,
1984; A. Babenko, 1988) [7,37].
Bọ nhảy rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố môi trường như:

[17, 39].
Từ năm 1980, nhiều công trình nghiên cứu về thành phần, phân bố, số
lượng và vai trò của các nhóm Microathropoda nói chung và bọ nhảy nói
riêng trong môi trường đất ở nhiều địa điểm thuộc các kiểu hệ sinh thái khác
nhau ở nước ta, từ phía Bắc, qua Tây Nguyên đến Năm Căn, Cà Mau, Bạc
Liêu, từ vùng núi cao Đông bắc đến miền duyên hải ven biển Quảng Ninh,
Hải Phòng, Thanh Hóa, tiếp tục được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt
Nam [5,10].
Từ năm 1995 đến nay, các đề tài nghiên cứu về bọ nhảy vẫn được kế
tục và phát triển, tập trung vào các hướng: nghiên cứu đa dạng sinh học và
khu hệ; nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái và nghiên cứu về vai trò chỉ thị
sinh học của bọ nhảy trong môi trường đất [1,2,3,4,5,6,10,11,15…].


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

Đã tiến hành nghiên cứu khu hệ bọ nhảy ở một số vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên, ở một số hệ sinh thái (HST) điển hình (HST rừng nhiệt
đới, HST đô thị, HST nông nghiệp…) hoặc ở một số vùng, miền, khu vực
khác nhau, trải dài từ phía Bắc vào đến phía Nam Việt Nam như: Vườn quốc
gia (VQG) Tam Đảo (1992-2002), VQG Cát Tiên (2002-2004), VQG Cát Bà
(2005-2006), VQG Ba Bể (2002), khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Na Hang
- Tuyên Quang (2002-2003), KBTTN Đakrong - Quảng Trị (2002-2005),
KBTTN Thượng Tiến - Hòa Bình (2005), HST gò đồi Bắc Trung bộ (20032004), HST đô thị vùng đồng bằng sông Hồng (2002-2003), HST nông
nghiệp miền núi phía Bắc (2004-2005), vùng đồi núi Phú Thọ (2003-2005),
thành phố Hà Nội (1998-2001), thành phố Hải Dương (1999-2005), khu vực
phía tây Hương Sơn - Hà Tĩnh (2005), vùng ven biển Hải Phòng - Quảng
Ninh (2005), khu vực miền trung Nam Trung bộ và Nam bộ (20042006)…Trong thời gian từ 1995-2005, đã mô tả và công bố 27 loài bọ nhảy

Năm 2003- 2005, Nguyễn Trí Tiến và c.s đã tiến hành thực địa ở 7 địa
phương Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Cà Mau thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ đã thống kê được 43 loài thuộc 35
giống 11 họ phân bố tại 4 sinh cảnh rừng tự nhiên, rừng trồng, vườn quanh
nhà, trảng cỏ hoang [25].
Tại VQG Cát Bà, Hải Phòng đã thống kê được 78 loài bọ nhảy thuộc
48 giống, 14 họ phân bố trong 8 sinh cảnh. Trong số này, đã bổ sung thêm 46
loài cho VQG và 5 loài bọ nhảy cho khu hệ Việt Nam. Lần đầu tiên ghi nhận
có 4 loài bọ nhảy phân bố ở vùng bãi triều ven biển: Oudemansia sp.1,
Pseudanurida sp.1, Isotoma (Desoria) sp.1 và Axelsonia nitida (Folsom, 1899)
sensu Yosii, 1966. Đồng thời đã ghi nhận một tập hợp 16 loài bọ nhảy phổ
biến và 21 loài bọ nhảy ưu thế của VQG [28].
Tại VQG Xuân Sơn, Phú Thọ qua điều tra đã lập được một danh sách
gồm 89 loài thuộc 47 giống, 15 họ. Trong số đó có 2 loài mới cho khu hệ bọ
nhảy Việt Nam là: Ceratophysella sahbergi (Reuters, 1895) và Sminthurinus


Luận văn tốt nghiệp

Phạm Thị Kim Dung

igniceps (Reuters, 1881). Số loài tăng tập trung chủ yếu ở họ Entomobryidae
(chiếm 21,28% tổng số giống, 33,71% tổng số loài). Có 4 họ mới được phát
hiện 1 giống, 1 loài. Khu hệ bọ nhảy ở VQG Xuân Sơn có mức độ đa dạng
loài, giống, họ cao hơn so với một số địa điểm khác của Việt Nam như: VQG
Tam Đảo, VQG Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, Dackrông [26].
Tại khu vực phía Tây 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị
đã ghi nhận được 116 loài bọ nhảy thuộc 50 giống, 15 họ. Đã bổ sung cho khu
hệ Việt Nam 4 loài: Friesea claviseta Axelson, 1900; Mesaphorura
krausbaueri Borner,1901; Aselson nitida Folsom, 1899 và Lepidocyrtus

Sau khi lấy mẫu tiến hành lọc, thu, bảo quản mẫu tại Phòng Sinh thái
Môi trường đất của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Khu vực Đại Lải và vùng phụ cận, thuộc xã Ngọc Thanh thị xã Phúc
Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
Bảng 1: Thời gian, số lượng mẫu định lượng bọ nhảy ở khu vực Đại lải và
vùng phụ cận đã được thu thập và phân tích
Sinh cảnh
Thời gian
Tháng 12-2006

RTN

RT

TCCB

VQN

ĐCT

A1

A2 A1 A2 A1

A2

A1


Phạm Thị Kim Dung

Tháng 3–2006

5

5

5

5

5

5

5

5

5

5

50

Tháng 8- 2007

5


15 15

15 150

Chú thích: RTN - rừng tự nhiên; RT - rừng trồng; TCCB - trảng cỏ cây
bụi; VQN - vườn quanh nhà; ĐCT - đất canh tác
A1 - độ sâu 0 – 10cm; A2 - độ sâu 10 – 20cm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status