1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu thường gặp trong nội khoa và
ngoại khoa. Là biến chứng của nhiều bệnh, nó có thể do tổn thương trên
đường tiêu hóa hay ngoài đường tiêu hóagây chảy máu từ mức độ nhẹ đến
mức độ nặng thậm trí có thể sốc và tử vong [17], [18], [19].
Tại các khoa hồi sức cấp cứu, tỷ lệ trẻ bị XHTH trên vào khoảng 6 20% và tỷ lệ tử vong chung 0,4 - 2% [17], theo Đỗ Văn Niệm tỷ lệ tử vong do
XHTH trên ở trẻ vào khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 là 5,7%, trong đó
nguyên nhân hàng đầu gây XHTH trên là bệnh lý dạ dày - tá tràng và biến
chứng đáng ngại nhất trong điều trị bệnh xảy ra do truyền máu khối lượng lớn
[17], [18].
Trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ của y học trong việc
chẩn đoán và điều trị XHTH trên ở trẻ em.Với sự xuất hiện của nội soi cấp
cứu đường tiêu hóa giúp cho việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân, vị trí
xuất huyết và điều trị đặc hiệu cho từng bệnh cảnh đã không ngừng được cải
thiện, góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng điều trị bệnh giảm tỷ lệ
các biến chứng và tử vong [17], [55], [82], [83], [93]. Tuy nhiên nội soi cấp
cứu không phải lúc nào cũng thực hiện được, đặc biệt ngoài những giờ hành
chính và đòi hỏi phải có một kíp chuyên nghiệp.Do vậy cần dựa vào lâm sàng
và hầu hết các bệnh nhân được điều trị nội khoa trước khi được thực hiện thủ
thuật [21].
Việc sử dụng các yếu tố lâm sàng và hình ảnh nội soi để tiên lượng tỉ lệ
xuất huyết tái phát và tỉ lệ tử vong là rất quan trọng, từ đó có thái độ điều trị
phù hợp đối với từng bệnh nhân. Đồng thời trên thực tế bệnh nhân xuất huyết
tiêu hóa vào Khoa Cấp cứu thường có mức độ mất máu nặng, cần phải có
1
mạng và thường ngừng hẳn. Mặc dù các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên
vẫn không đổi, nhưng những tiến bộ trong việc điều trị như sử dụng liệu pháp
nội soi cầm máu hay dùng octreotide đã cho những kết quả tốt. Xuất huyết
tiêu hóa trên được xem là một dấu hiệu “cờ đỏ” của tổn thương hệ tiêu hóa và
luôn luôn đặt ra câu hỏi cần phải tìm hiểu rõ nguyên nhân và những biện pháp
điều trị ban đầu [54], [58], [87].
1.1. SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC.
Xuất huyết tiêu hóa trên là cấp cứu về tiêu hóa phổ biến ở trẻ em, bằng
cách sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội soi về nhi khoa kết hợp với phương
pháp nghiên cứu về các kết quả lâm sàng, Bancroft và cộng sự đã xác định được
rằng nôn ra máu chỉ chiếm khoảng 5% (327 trong số 6.337) bệnh nhân có các
chỉ định cho nội soi dạ dày, tá tràng ở trẻ em [56]. Ở trẻ em nhập vịện tại các
khoa điều trị tích cực, xuất huyết tiêu hóa trên phổ biến hơn, có tỷ lệ mắc bệnh từ
6 - 25% [17], [19]. Tuy nhiên, trong nhóm bệnh nhân nặng này, xuất huyết tiêu
hóa trên đe dọa đến tính mạng xảy ra chỉ khoảng 0,4% ở trẻ em [17], [18], [54].
Theo các nghiên cứu ở người lớn, thống kê nguyên nhân gây xuất huyết
tiêu hóa trên ở Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy hay gặp nhất là chảy
máu do loét dạ dày - tá tràng trong đó tỷ lệ loét hành tá tràng cao hơn loét dạ
dày. Theo thống kê của Nguyễn Khánh Trạch tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa do loét
dạ dày tá tràng trên tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa nói chung là 34,56%, Nguyễn
Thị Hòa Bình - 42,1%, Hà văn Quyết - 52%. Nghiên cứu của E.M Vreeburg
3
4
4
(1997) trên địa bàn Amsterdam của Hà Lan cho thấy tỷ lệ loét chảy máu là
5
5
dâu tây, có thể có màu sắc giống máu nhìn thấy khi trẻ nôn ra. Xuất huyết tiêu
hóa trên khi trẻ đi ỉa có thể phân có màu đen. Một lần nữa cần nhắc lại là các
thực phẩm như rau chân vịt, cam thảo và các loại thuốc nhất định như
bismuth và sắt có thể làm cho phân cũng có màu đen. Cần chẩn đoán phân
biệt dựa vào xác định máu có trong dịch dạ dày và trong phân, tốt nhất có thể
sử dụng “kỹ thuật cạnh giường”để xác định hemoglobin (ví dụ như Hemocult,
Gastrocult, SmithKline Diagnostics) hoặc dùng test nhanh Fecal Occult Blood
- FOB để xác định máu trong phân. Nguyên lý ở cả hai sản phẩm dựa trên sự
ôxi hóa của thuốc chiết xuất bằng nhựa cây guaiac bởi nước ôxi già thành một
hợp chất quinone màu xanh. Guaiac là một hợp chất không màu, chuyển
thành màu xanh khi cho tiếp xúc với các chất có hoạt động peroxidase hóa và
sau đó tiếp xúc với nước ôxi già. Loại giấy thí nghiệm được ngâm tẩm với
guaiac, một chất keo tự nhiên được chiết xuất từ gỗ cây guaiac. Nếu trong
phân có chứa máu, thì hoạt động peroxidase hóa của phần hem của
hemoglobin sẽ xúc tác quá trình ôxi hóa của axit guaiaconic khi nước ôxi già
(thuốc tráng) được đổ lên giấy. Quá trình thử nghiệm này đơn giản và thuận
tiện, nhưng có những hạn chế nhất định. Phản ứng oxi hóa guaiac không đặc
hiệu cho máu, nhưng lại đặc hiệu đối với hoạt động peroxidase hóa. Nhiều
loại thức ăn như thịt đỏ tươi và các loại rau nhất định như dưa hấu, nho, củ
cải, cải trắng, xúp lơ và cây bông cải.v.v... có chứa đủ hoạt động peroxidase
hóa để sinh ra được một phản ứng guaiac dương tính. Thật may mắn là các
quá trình peroxidases hóa thực vật tương đối không ổn định và mặc dù vẫn có
khả năng, nhưng lại hiếm khi gây ra phản ứng dương tính giả. Sắt không còn
khả năng sinh ra phản ứng Hemocult dương tính giả nữa [3], [5], [54].
1.4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ TRÊN
vị hoặc ở các điểm khác của ổ bụng, có thể có rối loạn tiêu hoá, hoặc không
đau bụng [3], [4], [5], [11], [25].
Cảm giác cồn cào, nóng bỏng, mệt lả sau uống các thuốc hạ sốt - giảm
đau - chống viêm hay các thuốc khác.
Lúc thời tiết thay đổi, sau gắng sức, hoặc không có một lý do gì tự
nhiên thấy hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng buồn nôn, có thể ngất [3],
[4], [5], [11], [32].
6
7
7
1.5.1.2. Lâm sàng
Nôn ra máu có thể biểu hiện là nôn đột ngột ra máu đỏ tươi và nhìn
chung là do các tổn thương gây chảy máu nhanh. Chất nôn có thể như màu cà
phê, thành cục... do ảnh hưởng tác động của axit dạ dày lên máu,nó thường là
chảy máu chậm hơn và từ một tổn thương gây xuất huyết lành tính hơn. Đặt
sonde dạ dày có máu đỏ tươi hoặc máu nâu đen là một dấu hiệu gợi ý quan
trọng [3], [5], [17], [19], [62].
Đại tiện ra máu đen giống màu hắc ín, mùi khẳn. Màu đen sẫm thường
là do hetamin, sản phẩm oxi hóa của hem sản sinh ra bởi sự lên men của vi
khuẩn đường ruột. Đại tiện ra máu đen cũng có thể do những lượng máu
tương đối nhỏ khoảng từ 50 - 100ml trong dạ dày tá tràng. Đại tiện máu đen
có thể kéo dài 3 - 5 ngày và do đó, không thể chẩn đoán là xuất huyết vẫn
đang diễn ra, số lượng và hình thái phụ thuộc vào mức độ chảy máu.Nói
chung, hầu hết xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ em là lành tính và tự ngừng mà
không cần phải can thiệp [54], [58], [59].
thường là ở dạ dày hoặc thực quản, nhưng chưa loại trừ chảy máu từ tá tràng và
đường mật [3], [5], [19], [27], [54].
Trong một cuộc hội thảo quốc gia về xuất huyết tiêu hóa trên ở người
lớn, theo báo cáo của Gibert và các cộng sự, xuất huyết tiêu hóa trên ở người
lớn được xác định có trong 16% bệnh nhân hút dịch dạ dày [54].
Phương pháp trị liệu bằng việc rửa nước muối sinh lí với nước đá không còn
được khuyến cáo. Nghiên cứu được chứng minh là làm chậm quá trình xuất
huyết tiêu hóa trên không hiệu quả ở động vật và có nguy cơ gây ra hạ thân
nhiệt và rối loạn điện giải ở trẻ sơ sinhvà trẻ nhỏ [54], [94].
Sau khi đánh giá nhanh về các dấu hiệu chức năng sống, việc khám
xét lâm sàng kỹ lưỡng và một số xét nghiệm ban đầu có thể đưa ra dấu hiệu
của bệnh, gợi ý nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên. Chẳng hạn, các thương
tổn ở ngoài da tương tự với thương tổn mà chúng ta có thể thấy ở đường tiêu
hoá trên. Các phát hiện về da như sao mạch, u mạch hình mạng nhện, và vàng
da có thể là biểu hiện rối loạn chức năng gan. Các phát hiện ở ngoài da khác
như u mạch máu và dãn mao mạch có thể là thương tổn ở dạ dày - tá tràng.
8
9
9
Ban xuất huyết thể hiện rõ trên da có thể là ban xuất huyết Schonlein Henoch. Khi khám lâm sàng phát hiện gan lách to có thể là triệu chứng của
bệnh xơ gan [5], [14], [54], [68], [70].
Hình 1.1. Ban xuất huyết Schonlein – Henoch
Lưu đồ chẩn đoán và xử trí xuất huyết tiêu hóa trên
(XHTHT) ở trẻ em [54]
Phương pháp tiếp cận XHTHT
Các xét nghiệm ban đầu nói chung cần phải tính đến [3], [5], [17], [54], [94].
- Công thức máu: Số lượng hồng cầu, số lượng tiểu cầu và hồng cầu
lưới, hemoglobin, hematocrite.
- Thời gian prothrombin và thời gian thromboplastin một phần,
Fibrinogen.
- Nhóm máu và phản ứng chéo.
- Các xét nghiệm bổ sung để đánh giá chức năng gan: Men alanine amino
transferase (AST), aspartate amino transferase (ALT), protein và albumin.
- Chức năng thận như ure máu và creatinin máu cũng cần thiết.
Sự tăng bất thường men gan và giảm albumine hoặc tăng protein có thể chỉ
điểm bệnh gan mạn tính gây xuất huyết tiêu hóa trên. Hay các enzym thận bất
thường hay albumin thấp hay proteine tăng có thể là một biểu hiện của bệnh
thận mãn tính. Urê máu tăng có thể là một biểu hiện của xuất huyết tiêu hóa
trên vì có thể là kết quả của việc hấp thu sản phẩm giáng hóa máu của ruột và
giảm thể tích máu lưu thông [5], [54].
Bảng 1.1. Các xét nghiệm cơ bản đánh giá xuất huyết tiêu
hoá trên ở trẻ em [54]
Xét nghiệm đánh giá mức độ mất máu
Số lượng hồng cầu, hồng cầu lưới, hemoglobin, hematocrit.
Thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin (APTT), Fibrinogen.
Nhóm máu và phản ứng chéo.
ALT, AST, albumine.
Nitơ máu: Ure, creatinin máu.
10
11
11
12
12
1.5.2.5. Nội soi tiêu hoá.
Nội soi thực quản, dạ dày, tá tràng (EGD) là phương pháp rất có giá trị
hay dùng để đánh giá vị trí xuất huyết tiêu hóa trên [3], [5], [14], [18], [93].
Triệu chứng nôn ra máu được coi là một dấu hiệu rất quan trọng gợi ý
và là dấu hiệu báo trước cho chỉ định EGD [3], [5], [56], [83].
EGD nhìn chung rất cần cho việc đánh giá xuất huyết tiêu hóa trên cấp
tính bắt buộc phải truyền máu hoặc xuất huyết tái phát không xác định được
nguyên nhân [14], [18], [19], [54].
EGD có thể xác định vị trí xuất huyết trên 90% các trường hợp nếu nội
soi trong vòng 24h có biểu hiện XHTH [3], [4], [18], [55].
EGD đặc biệt hiệu quả trong chẩn đoán tổn thương niêm mạc ví dụ viêm dạ
dày, viêm thực quản, loét cơ quan tiêu hóa, hội chứng Mallory - Weiss [62].
Trong một nghiên cứu gần đây về 6.337 trường hợp EGD sử dụng cơ sở dữ liệu
PEDS - CORI, Bancroft và đồng nghiệp đã thấy rằng 20% trường hợp bị viêm
thực quản, 17% bị bất thường niêm mạc dạ dày, 6% loét dạ dày - tá tràng, 2% hội
chứng Mallory - Weiss, và 8% giãn tĩnh mạch thực quản [54], [56], [87]. Nghiên
cứu này khác đôi chút với các báo cáo của các nhóm khác như Cox và Ament đã
báo cáo 20% trẻ em khi EGD bị loét hành tá tràng, 18% bị loét dạ dày, 15% viêm
thực quản, 13% viêm dạ dày, và 10% bị dãn tĩnh mạch thực quản [56], [61].
Hầu hết xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ em tự cầm một cách tự nhiên; vì
vậy, nội soi cấp cứu chỉ cần thiết khi các phát hiện dự kiến trên nội soi sẽ ảnh
hưởng đến quyết định lâm sàng, chẳng hạn như yêu cầu cần phẫu thuật điều
trị [19], [42], [54], [59].
EGD chống chỉ định khi tình trạng lâm sàng bệnh nhân không ổn định,
ví dụ như bị sốc giảm khối lượng máu, thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc mất máu
nặng [3], [5], [54].
Bệnh liên quan đến tiêu Bệnh liên quan đến
Viêm hoặc loét dạ dày
hóa do tăng tiết axit
tiêu hóa do tăng tiết
Hội chứng Mallory - axit
Bệnh liên quan đến tiêu Weiss
hóa do tăng tiết acid
Giãn tĩnh mạch thực
Dị dạng dạ dày - tá tràng quản
Dị dạng mạch máu
Viêm mao mạch dị
Giãn tĩnh mạch dạ dày ứng
Rối loạn đông máu
và thực quản
(Schonlein - Henoch)
Dị ứng với sữa
Thoát vị hoành
1%. Sau 2 phút, nếu dung dịch vẫn có màu hồng, đó chính là huyết sắc tố thai
nhi, ngược lại, dung dịch có màu nâu vàng là huyết sắc tố của người mẹ [14],
[18], [19], [54].
Trẻ em được sinh ra khỏe mạnh có triệu chứng nôn ra máu có hoặc không
đi kèm với các triệu chứng xuất huyết khác như chảy máu cam hoặc dễ dàng bị
bầm tím trên da. Trong trường hợp này, có thể bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh phát
sinh do thiếu vitamin K. Các trường hợp này có thể được điều trị dễ dàng bằng
cách bổ sung vitamin K tiêm bắp hay tĩnh mạch [14], [54].
Biểu hiện xuất huyết còn được theo dõi bằng kết quả xét nghiệm để
đánh giá về rối loạn các yếu tố đông máu, bệnh Von Willebrand và xuất huyết
nội tạng khác. Việc thiếu vitamin K có thể do sự kém hấp thu chất béo ở ruột
như trong bệnh lý xơ nang tụy và hội chứng ứ mật, mặc dù các vấn đề này
hiếm gặp trong giai đoạn mới sinh [11], [14], [19].
Ở trẻ mới sinh được nuôi bằng sữa mẹ, máu của người mẹ có thể được
đưa vào đường tiêu hoá trẻ từ vú mẹ bị nứt hoặc bị viêm [14], [19], [54]. Ở
một số trẻ sơ sinh mức độ mẫn cảm với chế độ ăn giàu protein, đặc biệt là sữa
bò có thể có biểu hiện triệu chứng nôn ra máu. Nguyên nhân của xuất huyết
tiêu hóa ở nhóm tuổi này luôn được chú ý bao gồm dị ứng với sữa giàu
protein [54], [65], [85].
Chít hẹp môn vị và các dị dạng về giải phẫucủa dạ dày và tá tràng có
thểgây xuất huyết tiêu hóa trên [54], [63], [85].
Xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ mới sinh thường đi kèm với tình trạng
bệnh lý nguy kịch như sốc, suy hô hấp hay nhiễm khẩm nặng. Đường tiêu hoá
của trẻ dễ bị tổn thương do niêm mạc bị thiếu máu cục bộdo sốc gây ra,
dosang chấn về thần kinh (stress) gây viêm loét dạ dày và tá tràng. Những
nguyên nhân này có thể gây ra xuất huyết tiêu hóa trên nghiêm trọng [54],
[57], [85].
15
giống dạ dày có thể gây ra loét và xuất huyết tiêu hóa trên. Trong trường hợp
16
17
17
này cần chỉ định chụp transit hoặc CT - scanner để chẩn đoán. Các tổn thương
khác như hẹp môn vị phì đại, màng ngăn tá tràng và hang vị cũng được xem
là nguyên nhân gây ra xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ bú mẹ [54], [63].
1.6.3. Trẻ lớn.
Buồn nôn, nôn là triệu chứng phổ biến ở trẻ lớn khi bị bệnh về tiêu hóa.
Nôn trong hội chứng Mallory - Weiss là dấu hiệu điển hình và phổ biến nhất
trong xuất huyết tiêu hóa trên ở trẻ em [54], [62].
Tổn thương niêm mạc tiêu hóa do axít gây ra ví dụ như viêm thực quản,
viêm dạ dày tá tràng và loét dạ dày tá tràng.Viêm thực quản thực tế khá phổ
biến, được báo cáo trong 34.6% trẻ có hệ thần kinh bình thường qua nội soi bị
xuất huyết tiêu hóa trên. Ở người lớn, việc uống rất nhiều loại thuốc chống
viêm không chứa steroid như aspirin, ibuprofen, naproxen và ketorolac có thể
gây ra tổn thương niêm mạc tiêu hóa, dẫn tới xuất huyết tiêu hóa trên [7],
[30], [36], [38], [65], [66], [89], [90].
Viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori có thể dẫn đến loét dạ dày
- tá tràng gây xuất huyết tiêu hóa mà loét hành tá tràng là phổ biến nhất [9],
[10], [14], [19], [41], [67].Các trường hợp hiếm gặp hơn là u bạch huyết dạng
lympho liên kết màng nhầy (MALToma) đã xảy ra thứ phát với nhiễm khuẩn
H. pylory, và cũng có thể gây ra xuất huyết tiêu hóa trên [17], [18], [19], [91].
1.6.3.1. Bệnh căn –bệnh sinh loét dạ dày – tá tràng ở trẻ lớn.
Nhiều công trình nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng đã nêu ra
20
Sơ đồ cơ chế gây viêm loét HTT bởi HP [10].
Nhiễm HP
Viêm hang vị
Tế bào D giảm tiết Somatostatin
Tăng tiết Gastrin
Tăng tiết HCl
PH dạ dày giảm
PH tá tràng giảm
Dị sản DD
HP (+)
Viêm HTT mạn
Pepsin HCl
Loét HTT
20
21
thực quản trong khoảng 48 giờ [15], [17], [68]. Lách to, xuất hiện ở 80 - 90%
bệnh nhân có tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thường mật độ chắc, hình dạng ít
thay đổi và là một dấu hiệu quan trọng. Khi không sờ thấy lách hoặc hình ảnh
lách trên X - quang không to, chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa trên do tăng áp
lực tĩnh mạch cửa phải hết sức thận trọng [15], [17], [18], [19], [95]. Giai
đoạn đầu lách chưa bị xơ, nên co lại nhiều sau mỗi đợt xuất huyết tiêu hóa.
21
22
22
Sau đó lách bị xơ khả năng co hồi kém nên thường xuyên sờ thấy trên lâm
sàng. Gan có thể to hoặc bình thường tuỳ theo nguyên nhân tăng áp lực tĩnh
mạch cửa, cần đánh giá mật độ và bề mặt gan, mật độ mềm thường gợi ý tăng
áp lực tĩnh mạch cửa do tắc tĩnh mạch cửa trước gan giai đoạn sớm, gan mật
độ chắc hay gặp trong xơ gan. Tuần hoàn bàng hệ là tuần hoàn phụ hay phát
triển ở những nơi mà hệ thống mạch máu trong thời kỳ bào thai chúng đã có
lúc nối thông nhau. Sự nối thông giữa hệ thống cửa và hệ thống chủ dưới sẽ
gây ra trĩ, tuần hoàn phụ lách - thận, sau phúc mạc và thành bụng.Sự nối giữa
hệ thống cửa với tĩnh mạch chủ trên sẽ tạo ra vòng nối giữa tĩnh mạch đơn với
tĩnh mạch thực quản - dạ dày. Sự mở thông trở lại tĩnh mạch rốn sẽ xuất hiện
những búi tĩnh mạch từ rốn toả đi xung quanh như đầu sứa, gặp trong hội
chứng và bệnh Cruveilhier - Baumgarten.Tuần hoàn bàng hệ cũng có thể phát
triển do dính sau những lần mổ trước hoặc viêm màng bụng. Biểu hiện cường
lách: lách to phối hợp với thiếu máu, giảm số lượng bạch cầu, tiểu cầu làm
tăng nguy cơ chảy máu. Cổ trướng thường gặp trong xơ gan, suy giảm chức
năng gan hay kèm rối loạn nước điện giải. Biểu hiện bệnh gan mạn tính ngoài
dấu hiệu gan to , chắc và có thể gan không to cần tìm các dấu hiệu như xạm
coi là nguyên nhân của xuất huyết tiêu hóa trên [14], [19], [54].
1.7. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ MẤT MÁU.
Đánh giá mức độ mất máu rất quan trọng giúp xử trí kịp thời và hiệu
quả nhất nhằm cứu sống tính mạng trẻ, đồng thời giúp tiên lượng gần, xa về
bệnh, có tái phát hay phải can thiệp ngoại khoa không [2], [11], [23].
1.7.1. Triệu chứng sốc mất máu
Mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ, áp lực tĩnh mạch trung tâm hạ và thường
hạ trước huyết áp động mạch. Huyết áp giảm xuống trên 10mmHg so với bình
thường là lượng máu mất khoảng 20% [2], [11].
Chóng mặt, ù tai, vật vã, rối loạn ý thức.
Da niêm mạc nhợt nhạt.
Rối loạn hô hấp: thở nhanh, tím môi, đầu chi.
Khát nước, nhiệt độ hạ, đái ít, vô niệu.
Nếu không can thiệp ngay, có thể thấy tổn thương tế bào và rối loạn
chuyển hoá: phổi, thận, não, tim, tiêu hoá, gan, nội tiết, máu. Cuối cùng sốc nặng
23
24
24
dẫn đến ngừng tuần hoàn [2], [11]. Nghiên cứu của Ghosh cho thấy những
trường hợp có sốc nguy cơ chảy máu tái phát trong bệnh viện tới 80% [23].
1.7.2. Phân loại mức độ mất máu.
Ngay khi xác định có xuất huyết tiêu hóa, phải đánh giá nhanh mức độ
xuất huyết, đặc biệt cần phát hiện sớm các dấu hiệu của sốc mất máu. Chẩn đoán
mức độ xuất huyết, sốc mất máu dựa vào triệu chứng tuần hoàn và toàn thân [2],
Thời gian mao mạch hồng trở lại kéo dài trên 2 giây.
Nước tiểu ít < 1ml/kg/1 giờ hoặc vô niệu.
Khối lượng máu mất trên 30% khối lượng tuần hoàn, Hb