1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tật khúc xạ là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực ở trẻ em tại
nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam, kể cả các nước đang phát
triển và các nước phát triển. Theo nghiên cứu của Mau tại Chi Lê, Zhao tại
Trung Quốc và Pokharel tại Nê Pan (2000), tật khúc xạ chiếm hơn 50%
nguyên nhân gây giảm thị lực ở trẻ em từ 5 đến 15 tuổi [1],[2],[3].
Tỷ lệ và mức độ tật khúc xạ ở trẻ đẻ non cao hơn so với trẻ đủ tháng
[4],[5],[6]. Trong quá trình khám, điều trị và theo dõi nhiều tác giả nhận thấy,
tật khúc xạ ở trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non (BVMTĐN) cao hơn ở trẻ đẻ
non không bị bệnh hoặc bệnh tự thoái triển, đặc biệt là cận thị [7],[8],[9],
[10],[11]. Tình trạng khúc xạ của trẻ đủ tháng chủ yếu là chính thị và viễn thị
chiếm 93,3%, tỷ lệ cận thị rất thấp 6,7%, ở trẻ đẻ non tỷ lệ cận thị là 33% [6],
trong khi đó theo Al-Otaibi trẻ bị BVMTĐN phải điều trị laser, tỷ lệ cận thị
cao hơn rất nhiều chiếm 64%, viễn thị 29% chỉ có 7% chính thị [12].
Cơ chế cận thị đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng phần lớn các tác
giả đều đồng tình với nhận định tỷ lệ và mức độ cận thị của BVMTĐN liên
quan đến mức độ nặng nhẹ của bệnh (trẻ bị bệnh càng nặng thì tỷ lệ và mức
độ cận thị càng cao) [8],[13],[14]. Tật khúc xạ ở trẻ đẻ bị BVMTĐN còn ảnh
hưởng bởi phương pháp điều trị. Điều trị bằng laser quang đông có tỷ lệ và
mức độ cận thị thấp hơn phương pháp lạnh đông [14],[15]. Theo Knight Nanan, trẻ bị bệnh được điều trị bằng laser có tỷ lệ cận thị là 45,5% và không
có trường hợp nào bị cận thị cao trên -6D, trong khi đó trẻ được điều trị bằng
lạnh đông tỷ lệ cận thị là 91,1% và tỷ lệ cận thị cao trên -6D là 55% [14].
Trong những năm gần đây, trên thế giới, nhiều tác giả đã sử dụng tiêm
Avastin nội nhãn để điều trị trẻ bị BVMTĐN hình thái nặng cho kết quả khỏi
2
bệnh cao và thấy rằng tỷ lệ và mức độ cận thị và loạn thị thấp hơn khi điều trị
công suất thể thủy tinh không thể tiếp tục bù đắp cho sự phát triển dài thêm của
trục nhãn cầu thì có thể dẫn đến mắt có tật khúc xạ. Các yếu tố trên liên tục thay
đổi phát triển hài hòa trong quá trình phát triển của nhãn cầu [18],[19].
Bán phần trước của nhãn cầu phát triển nhanh trong giai đoạn sơ sinh và
đạt tỷ lệ gần như người lớn vào cuối năm thứ hai. Sự thay đổi công suất giác
mạc lớn nhất là trong vòng một năm đầu. Không như các phần còn lại của
nhãn cầu vẫn tiếp tục phát triển, công suất thể thủy tinh giảm dần từ 3 đến 14
tuổi do sự phát triển của thể thủy tinh theo xu hướng dẹt dần.
Trục nhãn cầu trải qua hai giai đoạn phát triển là giai đoạn sơ sinh (kết
thúc vào lúc 3 tuổi) và giai đoạn thiếu niên (kết thúc vào lúc 14 tuổi). Chiều
dài trục nhãn cầu trung bình trong giai đoạn sơ sinh tăng từ 18 đến 22,8mm,
trong giai đoạn thiếu niên chiều dài trục nhãn cầu chỉ tăng 1mm và mắt đạt
được chiều dài đầy đủ như mắt người lớn vào lúc 14 tuổi [18].
Quá trình chính thị hóa là sự tác động qua lại giữa các yếu tố liên quan đến
khúc xạ của mắt. Quá trình chính thị hóa vẫn chưa biết được một cách rõ ràng
4
nhưng có một điểm nổi bật là khả năng kiểm soát của mắt để duy trì một tình
trạng khúc xạ gần sát tình trạng chính thị cho dù các thành phần cấu tạo quang
hệ mắt chịu nhiều biến đổi trong khi cơ thể phát triển. Giác mạc và độ sâu tiền
phòng đóng góp một phần trong quá trình này thông qua sự bù đắp phần nào hậu
quả giảm sút gây ra bởi sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu. Biến đổi thể thủy
tinh bao gồm giảm độ dầy và độ cong của các bề mặt và thay đổi chỉ số khúc xạ
được xem là góp phần lớn trong quá trình chính thị hóa, đáp ứng phần lớn sự gia
tăng chiều dài trục nhãn cầu trong quá trình phát triển.
Ở trẻ đủ tháng, quá trình chính thị hóa hoàn thành được 82% trong năm
đầu tiên của cuộc đời. Trong quá trình này sự phát triển theo chiều dài của
khoang dịch kính được cân bằng bởi sự giảm sút của công suất giác mạc khi mới
(2011), khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non 28 tuần là 60D, giảm thêm 8D khi trẻ
được 3 tháng tuổi sau sinh, còn khúc xạ giác mạc ở trẻ đủ tháng là 51D [19].
Bảng 1.1. Khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non theo tuổi thai và cân nặng [24].
Khúc xạ giác mạc
Khúc xạ giác mạc
theo kinh tuyến ngang
theo kinh tuyến đứng
≤1500g (n = 56)
61,3 ± 3,9D
56,0 ± 2,9D
1500-2500g (n = 30)
58,6 ± 2,3D
52,7 ± 1,9D
>2500g (n = 13)
51,3 ± 2,1D
48,6 ± 1,8D
p < 0,001
6
Như vậy, trẻ đẻ non có cân nặng và tuổi thai càng thấp có khúc xạ giác
mạc càng cao, khúc xạ giác mạc theo kinh tuyến ngang cao hơn kinh tuyến
đứng và có thể yếu tố này có liên quan đến tình trạng loạn thị ở trẻ đẻ non [24].
Bán kính cong giác mạc ở trẻ đẻ non 32 tuần là 5,9 mm thấp hơn trẻ sơ
sinh đủ tháng là từ 6,6mm đến 7,4mm [10].
1.2.2. Thể thủy tinh
Thể thủy tinh là thấu kính hai mặt lồi. Ở trẻ sơ sinh, thể thủy tinh có
bán kính cong mặt trước là 5mm, mặt sau 4mm, độ dầy 4mm và công suất hội
tụ 34,4D. Trong quá trình phát triển về sau thể thủy tinh dẹt dần và ổn định
với bán kính mặt trước 10mm, mặt sau 6mm do đó công suất hội tụ của thể
thủy tinh cũng giảm xuống chỉ còn từ 16D đến 20D. Sự thay đổi về độ cong
và chỉ số khúc xạ trong quá trình phát triển của thể thủy tinh sẽ làm thay đổi
khúc xạ nhãn cầu và bù đắp cho sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu. Thể thủy
tinh có một đặc điểm quan trọng là có thể thay đổi độ hội tụ thông qua điều
tiết. Khi điều tiết công xuất thể thủy tinh thay đổi từ +19D đến +35D do tính
chất co giãn của mô thể thủy tinh [18].
Độ dầy thể thủy tinh ở trẻ đẻ non lúc mới sinh thấp hơn trẻ đủ tháng, ở
trẻ đẻ non 33 tuần độ dầy thể thủy tinh là 3,82 ± 0,33mm và ở trẻ đủ tháng là
3,9 ± 0,13mm [23]. Tuy nhiên, trong quá trính phát triển về sau một số tác giả
nhận thấy độ dầy thể thủy tinh ở trẻ đẻ non cao hơn trẻ đủ tháng cùng độ tuổi
đặc biệt ở những trẻ đẻ non có cận thị [7],[26].
Choi và cộng sự (2000), độ dầy thể thủy tinh ở nhóm trẻ đẻ non bị cận
thị cao trên -6D là 4,01 ± 0,29mm cao hơn so với nhóm trẻ không bị cận thị là
3,82 ± 0,32mm (p < 0,05) [7].
7
mắt bị cận thị dưới -6D và mắt không bị cận thị [7]. Theo Yang và cộng sự
(2010), trẻ bị BVMTĐN được điều trị bằng laser sau 9 năm có độ sâu tiền phòng
là 2,92 ± 0,35mm nông hơn so với trẻ đủ tháng cùng độ tuổi là 3,58 ± 0,35mm
(p < 0,001) [27].
1.3. Các loại tật khúc xạ
Trên lâm sàng người ta chia làm hai loại: tật khúc xạ hình cầu và tật
khúc xạ không hình cầu.
1.3.1. Tật khúc xạ hình cầu
1.3.1.1. Cận thị
Hình 1.1. Mắt cận thị
Mắt cận thị có công suất quang học khá lớn so với trục nhãn cầu. Ở mắt
cận thị khi không điều tiết, các tia sáng ở một vật từ vô cực sẽ hội tụ trước
võng mạc, do đó ảnh bị mờ và lớn hơn bình thường, mắt cận thị không nhìn
thấy rõ các vật ở xa.
Có hai loại cận thị:
+ Cận thị trục: Do trục nhãn cầu quá dài.
+ Cận thị khúc xạ: Do công xuất khúc xạ của hệ quang học mắt cao
và chiều dài của trục nhãn cầu bình thường.
9
1.3.1.2. Viễn thị
Hình 1.2. Mắt viễn thị
Mắt viễn thị có công suất quang học không đủ so với độ dài trục nhãn
cầu. Ở mắt viễn thị không điều tiết, các tia sáng của một vật ở vô cực sẽ hội tụ
ở phía sau võng mạc, càng di chuyển dần về phía mắt ảnh của vật càng lùi ra
xa sau võng mạc. Như vậy, về lý thuyết viễn thị không nhìn rõ vật dù vật ở
loạn thị đều và loạn thị không đều. Trong loạn thị đều các kinh tuyến chính
của loạn thị có hướng không đổi ở mọi điểm qua đồng tử và mức độ loạn thị
bằng nhau ở mỗi điểm. Trong loạn thị không đều, các kinh tuyến chính của
loạn thị thay đổi giữa các điểm qua đồng tử và mức độ loạn thị thay đổi từ
điểm này sang điểm khác.
1.4. Khúc xạ hai mắt không đều nhau.
Là sự lệch khúc xạ hai mắt từ 2D trở lên bất kể là tật khúc xạ cầu hay
loạn thị. Tuy nhiên, ở trẻ nhỏ mức chênh lệch khúc xạ dưới 2D cũng có ý
nghĩa vì có thể gây ra nhược thị. Theo một số tác giả, lệch khúc xạ trong tật
11
khúc xạ cầu từ 1,5D trở lên đã có thể gây nhược thị ở mắt có tật khúc xạ cao
hơn, nhưng nếu cả hai mắt đều loạn thị thì chỉ cần lệch khúc xạ 1D đã có thể
dẫn đến nhược thị [9],[18].
1.5. Bệnh võng mạc trẻ đẻ non.
BVMTĐN là tình trạng bệnh lý tại mắt do sự phát triển bất thường của
mạch máu võng mạc ở trẻ đẻ non. BVMTĐN là nguyên nhân chủ yếu gây
giảm thị lực ở trẻ em, chiếm 15% tổng số ca mù ở các nước phát triển và lên
tới 60% ở các nước đang phát triển [29].
1.5.1. Phân loại quốc tế về BVMTĐN.
Phân loại quốc tế BVMTĐN (1984) căn cứ vào các yếu tố như vị trí,
phạm vi tổn thương, giai đoạn tiến triển và mức độ giãn của mạch máu võng
mạc ở hậu cực [30].
Vị trí:
Để khu trú vị trí của tổn thương người ta phân chia võng mạc làm 3 vùng:
Hình 1.4. Sơ đồ phân chia võng mạc theo 3 vùng và theo số múi giờ
- Vùng I: là vùng võng mạc xung quanh gai thị có bán kính bằng 2 lần
13
Hình thái nặng của BVMTĐN:
Năm 2005, phân loại quốc tế BVMTĐN đã mô tả thêm hình nặng nhất
của bệnh với tên gọi: BVMTĐN hung hãn cực sau. Hình thái nặng diễn ra ở
cực sau của đáy mắt (vùng I và nửa sau vùng II), với các biểu hiện mạch máu
dãn to, ngoằn ngoèo làm cho khó phân biệt giữa động mạch và tĩnh mạch,
nhiều mạch máu bất thường tạo ra các búi tân mạch, có thể kèm theo xuất
huyết ở ranh giới giữa vùng võng mạc có mạch với vùng võng mạc vô mạch .
Những thay đổi này diễn ra nhanh chóng, thường ở toàn chu vi võng mạc, bệnh
có thể tiến triển thẳng đến giai đoạn 5 nếu không được điều trị kịp thời [31].
1.5.2. Các phương pháp điều trị.
•
Lạnh đông.
Lạnh đông vùng võng mạc vô mạch được đề xuất vào năm 1972 ở Nhật
Bản. Người ta cho rằng lạnh đông làm phá hủy vùng võng mạc thiếu máu sẽ
làm giảm việc tạo thành các yếu tố thích tạo ra tân mạch (VEGF), nhờ vậy đã
ngăn chặn được sự tiến triển của bệnh [32].
•
Quang đông điều trị BVMTĐN bằng laser.
Từ những năm 90 cho đến ngày nay, BVMTĐN chủ yếu được điều trị
bằng laser. Chùm tia laser được bắn xuyên qua đồng tử lên võng mạc làm
hoại tử khô vùng võng mạc vô mạch, làm võng mạc thiếu máu không tiết ra
chất VEGF nhờ đấy ngăn chặn được sự phát triển của bệnh [14].
•
1.6. Tình trạng tật khúc xạ ở trẻ có BVMĐN.
1.6.1. Tật khúc xạ trên trẻ có bệnh võng mạc trẻ đẻ non.
Tình trạng tật khúc xạ ở trẻ đẻ non có sự khác biệt so với trẻ đủ tháng.
Hầu hết các nghiên cứu ở trẻ đủ tháng cho thấy trẻ đủ tháng mới sinh ra đều
viễn thị hoặc chính thị, tỷ lệ cận thị rất ít [5],[36]. Theo Larsson và cộng sự
(2003), nghiên cứu tình trạng khúc xạ ở trẻ đẻ non và trẻ đủ tháng sau 10 năm
nhận thấy ở trẻ đủ tháng tỷ lệ cận thị chiếm 11,1%, viễn thị và chính thị
chiếm 88,9% trong khi đó ở trẻ đẻ non tỷ lệ cận thị là 25,4% [37].
Trái ngược với tình trạng tật khúc xạ ở trẻ đủ tháng, tật khúc xạ hay
gặp nhất ở trẻ đẻ non là cận thị.
15
Bảng 1.2. Tỷ lệ và mức độ cận thị ở trẻ đẻ non theo các tác giả khác nhau.
Tác giả
Đối tượng nghiên cứu
Chen (2014) [38]
Điều trị bằng Avastin
Điều trị Avastin + laser
Điều trị Avastin +
Cắt dịch kính
Cận thị
Tỷ lệ (%)
TB ± SD (D)
47,5
-3,87 ± 4,78
-4,87
-2,22
Nissenkorn (1983)
Đẻ non không bị bệnh
15,9
-1,5
[8]
Như vậy, trong các nghiên cứu đều cho thấy trẻ bị BVMTĐN được
điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn có tỷ lệ và mức độ cận thị thấp hơn ở trẻ
điều trị bằng laser võng mạc hoặc điều trị phối hợp bằng tiêm Avastin với
laser võng mạc hoặc tiêm Avastin với cắt dịch kính [9],[16],[26],[38]. Tuy
nhiên, tỷ lệ cận thị ở trẻ điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn vẫn cao hơn so
với trẻ đẻ non không bị bệnh hoặc bị bệnh nhưng tự thoái triển [8],[9].
Mức độ loạn thị ở trẻ đẻ non được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn
theo Wu (2013) là -2,1 ± 1,1D [17] và Chen (2014) là -2,23 ± 1,53D [38]
cũng thấp hơn khi điều trị bằng laser võng mạc theo Yang (2013) là
-2,89 ± 1,22D [27].
1.6.2. Các yếu tố liên quan đến TKX ở trẻ có BVMTĐN.
1.6.2.1. Cân nặng và tuổi thai khi sinh.
Nghiên cứu O’ Connor (2006) chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa tật
khúc xạ với tuổi thai và cân nặng khi sinh của trẻ. Tuổi thai càng thấp tỷ lệ và
16
mức độ cận thị càng cao, cận thị ≥ -3D gặp ở nhóm trẻ có có tuổi thai 28,6 ±
2,06 tuần còn cận thị < -3D gặp ở nhóm trẻ có tuổi thai cao hơn là 31,3 ± 3,68
trẻ nào bị BVMTĐN mức độ nhẹ mắc cận thị cao trên -6D trong khi đó nhóm
bị BVMTĐN mức độ nặng tỷ lệ cận thị cao trên -6D chiếm 15% [41].
1.6.2.3. Phương pháp điều trị.
Phương pháp điều trị cũng có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng
TKX ở trẻ bị BVMTĐN. Hầu hết các nghiên cứu đều nhận thấy trẻ bị bệnh
điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn có tỷ lệ, mức độ cận thị thấp hơn điều trị
bằng laser võng mạc, điều trị bằng laser võng mạc lại thấp hơn điều trị bằng
lạnh đông.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nhãn khoa trên thế giới đã điều
trị BVNTĐN hình thái nặng bằng phương pháp tiêm Avastin nội nhãn.
Avastin có tác dụng ức chế hoạt tính sinh học của VEGF mà không phá hủy
vùng võng mạc vô mạch, sau khi tiêm Avastin tân mạch và xơ sẽ dần dần tiêu
đi, mạch máu võng mạc sẽ tiếp tục phát triển ra vùng võng mạc vô mạch ở
chu biên, biến vùng võng mạc vô mạch bị bệnh thành võng mạc lành.
Harder và cộng sự (2013) so sánh tật khúc xạ giữa nhóm điều trị bằng
tiêm Avastin nội nhãn với nhóm điều trị bằng laser võng mạc nhận thấy, mức
độ cận thị ở nhóm điều trị bằng tiêm Avastin là -1,04 ± 4,24D thấp hơn so với
nhóm điều trị bằng laser võng mạc là -4,41 ± 5,50D, mức độ loạn thị trung
bình ở nhóm tiêm Avastin là -1,0 ± 1,04D cũng thấp hơn so với nhóm điều trị
bằng laser võng mạc là -1,82 ± 1,41D [16].
Bảng 1.3: Tật khúc xạ ở trẻ bị BVMTĐN theo phương pháp điều trị [38]
Điều trị
Tật khúc xạ
Khúc xạ tương
Avastin
Avastin +
Laser
-14,38 ± 6,02D
100%
100%
0,001
< 0,001
0,001
3,11 ± 1,54D
100%
85,5%
0,097
0.681
Như vậy, trong nhóm điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn đơn thuần có
khúc xạ tương đương cầu trung bình, tỷ lệ cận thị và tỷ lệ cận thị cao trên -5D
thấp hơn ở hai nhóm điều trị phối hợp bằng tiêm Avastin với laser võng mạc
hoặc tiêm Avasin với cắt dịch kính. Mức độ loạn thị cao trên 1,5D ở nhóm
điều trị bằng tiêm avastin nội nhãn cũng thấp hơn ở hai nhóm còn lại và ở cả
3 nhóm loạn thị thuận chiếm tỷ lệ cao nhất.
Việc điều trị bằng laser hay lạnh đông đều tác động vào vùng võng mạc
vô mạch phía trước gờ xơ với mục đích phá hủy hoàn toàn vùng võng mạc
bệnh lý để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tuy nhiên, phương pháp lạnh
đông gián tiếp qua thành củng mạc gây hiệu ứng phá hủy mạch, làm giãn, yếu
củng mạc trong khi đó laser tác động trực tiếp lên vùng võng mạc vô mạch
nên mức độ phá hủy võng mạc ít hơn, tỷ lệ và mức độ cận thị khi điều trị
bằng laser thấp hơn khi điều trị bằng lạnh đông.
So sánh tật khúc xạ ở trẻ bị BVMTĐN đến ngưỡng được điều trị bằng
nhóm điều trị bằng laser là -2,4D và điều trị bằng lạnh đông là -6,5D [42].
1.6.2.5. Thời gian theo dõi.
Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tình trạng cận thị tăng lên theo
tuổi ở những những mắt bị BVMTĐN thoái triển cũng như phải điều trị.
20
Đánh giá ảnh hưởng điều trị tiêm Avastin lên BVMTĐN hình thái
nặng sau 5 năm, Martinez-Castellanos và cộng sự (2014) nhận thấy, tỷ lệ
cận thị sau tiêm Avastin tại thời điểm 3 năm là 55,6% tăng lên 88,9% khi
trẻ 5 tuổi [43].
Sahni và cộng sự (2005), đánh giá tình trạng tật khúc xạ ở trẻ bị
BVMTĐN giai đoạn 3 tự thoái triển hoặc phải điều trị tại thời điểm trẻ 6 tháng
và 36 tháng nhận thấy, tại thời điểm trẻ được 36 tháng tỷ lệ cận thị cao trên
-5D là 28,7% cao hơn tại thời điểm khi trẻ 6 tháng là 11,9%. Khúc xạ tương
đương cầu ở cả 3 nhóm bệnh tự thoái triển, phải điều trị bằng lạnh đông hoặc
phải điều trị bằng laser khi trẻ 36 tháng đều cao hơn khi trẻ 6 tháng tuổi [42].
Trái ngược với cận thị, tỷ lệ loạn thị lại có xu hướng giảm theo tuổi ở
trẻ đẻ non [21],[44].
Khi nghiên cứu 228 trẻ đẻ non có cân nặng dưới 1500g, Homstrom
và cộng sự (1998) nhận thấy, tỷ lệ loạn thị ≥ 1D giảm từ 52% ở trẻ 6 tháng
tuổi xuống còn 28% khi trẻ được 30 tháng tuổi, tỷ lệ loạn thị cao
≥ 2D giảm từ 18% ở trẻ 6 tháng tuổi xuống còn 5% khi trẻ được 30 tháng
tuổi [44].
Theo Saunders và cộng sự (2002), khi nghiên cứu 27 trẻ đẻ non ở tuổi
thai từ 18-35 tuần nhận thấy, tỷ lệ loạn thị khi trẻ 6 tháng tuổi là 48% giảm
xuống còn 27% khi trẻ 12 tháng tuổi và chỉ còn 8% khi trẻ 4 tuổi [21].
1.6.2.6. Một số yếu tố khác
Connolly và nhóm nghiên cứu (2002) nhận thấy có nhiều yếu tố có thể
-
Năm 2010, Vũ Thị Bích Thủy, Nguyễn Văn Huy đánh giá khúc xạ nhãn cầu
trên trẻ có BVMTĐN cho thấy:
+ Tỷ lệ tật khúc xạ là 96,94%.
+ Tỷ lệ cận thị là 37,7%, viễn thị là 30,7%, loạn thị 28,1% và lệch khúc
xạ là 39,7%.
22
+ Tỷ lệ cận thị ở nhóm cần điều trị laser (61,1%) cao hơn so với nhóm tự
thoái triển (16,6%).
+ Tỷ lệ cận thị cao trên -5D ở nhóm cần điều trị laser là 84,3% cao hơn
nhiều so với nhóm tự thoái triển là 15,7% [9].
-
Năm 2011, Đinh Thị Thanh đánh giá kết quả điều trị BVMTĐN bằng laser
sau 5 năm cho thấy:
+ Tỷ lệ tật khúc xạ chiếm 94,9%, trong đó cận thị là 71,8% với độ cận
thị trung bình là -3,88 ± 3,63D, viễn thị là 23,1% với độ viễn thị
trung bình 1à 1,19 ± 1,15D.
+ Tỷ lệ lệch khúc xạ là 83,3% [46].
23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
n: là cỡ mẫu nghiên cứu.
Với độ tin cậy là 95% thì Z1-α/2 = 1,96.
p: tỷ lệ tật khúc xạ của BVMTĐN được điều trị bằng tiêm
Avastin nội nhãn 66,7% (nghiên cứu của MatinezCastellanos [43]).
ε : Độ chính xác tương đối (chọn ε = 0,14).
Với công thức trên n tính được = 98 mắt.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.2.3.1. Phương tiện thăm khám
- Máy soi đáy mắt gián tiếp.
- Sinh hiển vi khám mắt.
- Máy đo khúc xạ tự động.
- Bộ soi bóng đồng tử bao gồm:
Bộ thước Parent.
Máy soi bóng đồng tử đèn khe.
- Máy siêu âm: Dùng máy siêu âm nhãn cầu Humphrey A/B Scan
System - Mode 835 của hãng Carl - Zeiss, sử dụng đầu dò A: 10MHz.
- Thuốc giãn đồng tử liệt điều tiết: dung dịch cyclogyl 1%.
25
2.2.3.2. Phương tiện theo dõi:
- Bệnh án theo dõi BVMTĐN của khoa Mắt trẻ em.
- Sổ y bạ của bệnh nhân.
- Bệnh án nghiên cứu được chuẩn bị để ghi chép lại các thông tin cần thiết.
2.3. Quy trình nghiên cứu
Tiến hành lần lượt qua các bước sau:
2.3.1. Thu thập thông tin.
- Kiểm tra bệnh án theo dõi BVMTĐN của khoa mắt trẻ em để lập danh