BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN
ÂN THI, HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN
ÂN THI, HƯNG YÊN
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Hoài Nga
6
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
CBTD
CLMS
CNTT
DNNVV
DP
KH
KHCN
KHDN
NH
NHNN
NHNo&PTN
T
NHTM
NQH
PGD
QTRRTD
RRTD
TCBS
TCKT
TCTD
TCTD
TSBĐ
:
:
:
:
:
:
:
:
thôn
Ngân hàng thương mại
Nợ quá hạn
Phòng giao dịch
Quản trị rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Hệ thống quản trị ngân hàng
Tổ chức kinh tế
Tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng
Tài sản bảo đảm
Xếp hạng tín dụng
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
7
Tên bảng
Trang
đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất có thể làm cho hoạt động NHTM
trì trệ và có thể dẫn đến phá sản. Việc mở rộng, tăng cường hoạt động QTRR tín
dụng có mối liện hệ chặt chẽ và tác động qua lại mật thiết với nhau. Việc làm thế
nào để tăng cường QTRR tín dụng nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng luôn là
vấn đề mà NHNN và các NHTM quan tâm.
Tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ân Thi Hưng Yên, việc quản trị hoạt động tín dụng luôn được ban lãnh đạo chi nhánh quan
tâm, và thực tế đã đạt được kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã
đạt được vẫn còn những hạn chế cần được giải quyết để để góp phần thúc đẩy tăng
trưởng tín dụng song cùng với nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh nhằm tạo
ra sự tăng trưởng tín dụng bền vững. Tăng trưởng tín dụng bền vững là yếu tố tiên
quyết góp phần thúc đẩy chi nhánh phát triển, mở rộng qui mô hoạt động, đặt biệt là
hoạt động tín dụng để có thể sánh kịp với các NHTM Nhà nước khác trên địa bàn.
Với ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn đề tài “Giải pháp tăng cường quản trị rủi
ro tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ân Thi,
Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
9
10
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng tại NHN0&PTNT huyện
Ân Thi thông qua kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng QTRRTD, đưa ra một số
nguyên nhân dẫn đến chưa xây dựng mô hình QTRRTD để sử dụng và xác định nhu
cầu thông tin của nhà quản lý. Từ cơ sở đó đưa ra một số giải pháp hợp lý, khả thi
tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tín dụng huyện Ân Thi giai đoạn 2015 - 2018.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín
dụng, các chỉ tiêu đánh giá cũng như các đề xuất tăng cường QTRRTD của ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ân Thi giai đoạn 2012 - 2014.
Nguồn thu thập thông tin: Từ ngân hàng NNo&PTNT chi nhánh Ân Thi,
ngân hàng NNo&PTNT tỉnh Hưng Yên, trung tâm CIC, tạp chí ngân hàng, báo chí
và Internet…
- Thu thập dữ liệu:
Giai đoạn đầu của thu thập dữ liệu là việc xác định nguồn dữ liệu nghiên
cứu, mẫu biểu và cách tiến hành điều tra. Nghiên cứu này tập trung vào việc quản
trị tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Ân Thi, Hưng Yên. Dữ liệu được thu thập
tại các nguồn như báo cáo hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Ân
Thi, Hưng Yên, của NHNN Việt Nam Chi nhánh Hưng Yên, các số liệu từ cơ quan
thống kê… Các số liệu dùng để phân tích được lấy từ số liệu thứ cấp, đây là kỹ
thuật lấy dữ liệu, mẫu biểu đơn giản, dễ kiểm tra và có thực.
Ngoài ra luận án còn tham khảo các văn bản như nghị định, quyết định của
chính phủ, các văn bản pháp quy, định hướng phát triển của ngân hàng nhà nước,
của tỉnh Hưng Yên; các thông tin trên các tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa
học liên quan. Đồng thời sử dụng các kiến thức được trang bị và những hướng dẫn
của các nhà khoa học, các góp ý khác của các đồng nghiệp và các nhà quản lý kinh
tế ngành ngân hàng trong nghiên cứu.
Quy trình thu thập điều tra dữ liệu: Xác định dữ liệu cần thiết và lên kế
hoạch thu thập Thu thập số liệu và lên mẫu biểu, bản vẽ Lựa chọn dữ liệu và
phân tích, đánh giá độ tin cậy
- Phân tích dữ liệu:
Dữ liệu thu thập sẽ được thống kê, tổng hợp, lựa chọn, hiệu chỉnh, mã hoá và
11
12
phân tích, đánh giá, đồng thời sử dụng các bảng, biểu đồ… để minh hoạ cho những
nội dung phân tích. Qua đó sẽ đưa ra những kết luận để chỉ rõ bản chất của các dữ
liệu thu thập được nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cho các kết quả nghiên cứu.
ro tín dụng cũng gây thiệt hại khôn lường thậm chí làm phá sản ngân hàng.
Trong tài liệu “Financial Institutions Management - A Modern Perpective”
A.Saunder và H.Lange định nghĩa: rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân
hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự
tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về
cả số lượng và thời hạn”
Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy
ra khi khách hàng sai hẹn, có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi
theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá
của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank
Management, University of South Caro1ina, The Dryden Press, 1995, page 107).
Còn theo Henie Van Greuning … Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng
được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả
vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn
có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ
hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển
tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng (The World Bank).
Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
13
14
Ngân hàng Nhà nước [23] thì:“Rủi ro tín dụng trong hoạt động nhân hàng của tổ
chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ của mình theo cam kết”.
Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu chung lại chúng ta có thể rút ra các
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của ngân hàng Nhà nước về việc
ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. [23]
- Rủi ro hệ thống: là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các khoản vay
của ngân hàng. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm
GDP, biến động lãi suất, tốc độ lạm phát thay đổi... là những minh chứng cho rủi ro
hệ thống, những biến đổi này tác động đến khả năng trả nợ của các khách hàng.
Trong rủi ro hệ thống trước hết phải kể đến rủi ro thị trường. Rủi ro thị
trường xuất hiện do phản ứng của các nhà kinh doanh đối với các hiện tượng trên
thị trường. Chẳng hạn như sự thiếu quy hoạch phân bổ đầu tư một cách hợp lý, công
khai đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành. Nền kinh tế thị
trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có
lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn
đến sự chuyển dịch vốn từ ngành này sang ngành khác. Nếu để sự cạnh tranh phát
triển một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ dẫn đến sự
gia tăng quá đáng vốn đầu tư ở một số ngành, gây khủng hoảng thừa, lãnh phí tài
nguyên quốc gia.
Kế đến là rủi ro về lãi suất tín dụng: Rủi ro này xảy ra khi biến đổi của lãi
suất thay đổi không theo như dự tính của ngân hàng. Sự thay đối lãi suất thị trường
có thể tác động mạnh đến thu nhập và chi phí của ngân hàng. Rủi ro lãi suất có thể
biểu hiện dưới dạng rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất, rủi ro
tương quan lãi suất, rủi ro quyền chọn đính kèm.
Rủi ro xác định lại lãi suất xảy ra khi có sự khác biệt giữa lãi suất cho vay và
lãi suất huy động. Trong trường hợp lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian
vay mà lãi suất huy động lại phụ thuộc vào biến động thị trường. Khi lãi suất huy
động tức là giá vốn đầu vào biến động theo chiều hướng tăng mà lãi suất đầu ra cố
định hoặc cho dù có thay đổi nhưng không theo như ý ngân hàng thì ngân hàng
gánh chịu thiệt hại về lợi nhuận.
15
Rủi ro trong hoạt động thu hồi vốn và lãi: Rủi ro này gắn liền với hoạt động
quan trọng nhất và có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại đó là hoạt động
16
17
tín dụng. Rủi ro trong hoạt động thu hồi vốn và lãi là khả năng tổn thất xảy ra khi
khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đúng hạn gốc và lãi. Theo quyết
định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của ngân hàng nhà nước Việt Nam thì
rủi ro tín dụng trong hoạt động thu hồi vốn và lãi được phân loại như sau:
Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng
thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ
cấu lại
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại.
-Các khỏan nợ đã được gia hạn từ lần 2 trở đi.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
Hai là, yếu tố kỹ thuật: yếu tố này thể hiện những hạn chế trong hoạt động
quản trị rủi ro tín dụng, công tác kiểm soát nội bộ, quy trình và thủ tục tín dụng
cũng như chính sách tín dụng của ngân hàng, cụ thể:
- Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng chủ yếu dựa trên hệ thống cơ chế chính
sách tín dụng, các quy trình về cho vay đảm bảo an toàn tín dụng. Tuy nhiên, trong
công tác quản trị rủi ro tín dụng việc tuân thủ các quy trình cũng chưa được thực
hiện một cách triệt để, không tuân thủ đúng các quy định về phân loại nợ, trích lập
dự phòng. Ngoài ra, hệ thống thông tin không được trang bị đủ để phục vụ trong
công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
18
19
- Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ
chưa cao, việc chấp hành các quy định của NHNN về an toàn vốn, tín dụng, bảo
lãnh tại một số NHTM chưa được chấp hành đầy đủ, công tác tổ chức, quản trị cán
bộ tín dụng còn bất cập
- Đối với chính sách tín dụng: chính sách tín dụng không hợp lý, đầu tư tín
dụng nhiều vào dự án lớn, tỷ trọng cho vay trung dài hạn cao trong khi đó nguồn
vốn dài hạn thấp, tập trung cho vay nhiều vào một loại thành phần kinh tế, chính
sách tín dụng quan tâm quá mức đến vấn đề tài sản đảm bảo nợ vay, quá nhấn mạnh
vào lợi nhuận và muốn phát triển nhanh, không cân xứng với thực lực ngân hàng,
không có được những giải pháp đúng và không có được những quy định kịp thời để
xử lý những trường hợp cho vay có dấu hiệu của một khoản cho vay kém an toàn.
Chính sách tín dụng không phù hợp với các điều kiện thực tiễn, thiếu một quy chế
đầy đủ, chặt chẽ để đảm bảo an toàn khi cho vay.
Ba là, yếu tố thị trường, yếu tố khách hàng:
- Yếu tố thị trường: Việc biến động của giá cả, đặc biệt là giá cả hàng hóa
chủ lực, nguyên nhiên liệu đầu vào như sắt thép, xăng dầu…tác động ảnh hưởng
- Tình hình kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng như:
biến động của giá vàng thế giới, giá một số ngoại tệ mạnh hoặc giá một số vật tư
chủ yếu có xu hướng tăng cao.
1.1.2. Quản trị rủi ro tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm
Quản trị rủi ro chính là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi
NHTM. Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các NHTM áp
dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị ngân hàng vào hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm
thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để
ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức
mạnh và uy tín của ngân hàng trên thương trường. [22, 3]
Quản trị rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi
NHTM, đồng thời với mỗi loại rủi ro cụ thể lại áp dụng các phương pháp quản trị
20
21
riêng. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững. Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng
ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó
tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh
doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM.
1.1.2.2. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng
Để quản trị rủi ro tín dụng, ngân hàng thường quan tâm đến các nội dung
sau: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng; phân loại, đánh giá khách hàng và xếp
hạng tín dụng; cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro tín dụng; sổ tay tín dụng; kiểm tra tín
dụng; xử lý rủi ro tín dụng. [3]
diện. Phải căn cứ vào danh mục tín dụng ngân hàng: loại tín dụng, kỳ hạn tín dụng,
độ lớn tín dụng,và chất lượng tín dụng.
- Phân cấp thẩm quyền cho vay đến từng cán bộ tín dụng, không phải cán bộ
tín dụng nào cũng được phụ trách và quản lý các khoản vay với mức dư nợ cao, nhà
quản lý phải sắp xếp và phân loại đội ngũ cán bộ tín dụng theo nhóm và phân cấp
hạn mức cho cán bộ tín dụng. Mặt khác, phân cấp hạn mức tới từng đơn vị, tùy vào
khả năng và tình hình hoạt động của từng đơn vị mà phân cấp hạn mức cho phù hợp.
- Quy trình xử lý công việc, phân cấp chịu trách nhiệm trong công việc và
báo cáo thông tin trong nội bộ phòng tín dụng.
- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra và ra quyết định đối với đơn xin vay của
khách hàng. Quy trình thẩm định phải đảm bảo tính khoa học đồng thòi hạn chế
được rủi ro.
- Danh mục các loại tài sản có thể chấp nhận làm tài sản đảm bảo và những
loại tài sản không được ngân hàng chấp nhận làm tài sản đảm bảo.
* Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
+ Nhận dạng rủi ro: Là một bước đầu tiên để có một chu trình quản trị rủi
ro tín dụng. Nhận dạng rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo, tìm ra nguyên
nhân rủi ro và dự đoán tổn thất tiềm năng.
22
23
+ Đánh giá rủi ro: tiến hành đánh giá, phân loại khách hàng và xếp hạng tín
dụng thông qua chính sách xếp hạng tín dụng nội bộ, từ đó phân loại nợ và trích
lập dự phòng.
+ Phân tích rủi ro: lượng hoá mức độ rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt,
tính toán để dự báo mức độ thiệt hại nếu rủi ro xẩy ra nhằm xây dựng chính sách tín
dụng phù hợp cho từng đối tương vay giúp cho lãnh đạo ngân hàng điều hành chỉ đạo.
+ Ra quyết đinh kiểm soát
tài chính của khách hàng
- Tỷ số thanh toán nhanh càng cao, doanh
Tỷ số thanh khoản nhanh = nghiệp có khả năng trả nợ tức thời càng lớn.
(TSLĐ bằng tiền + Đầu tư ngăn
hạn)/(Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn
đến hạn trả)
Tỷ số thanh khoản ngắn hạn = - Tỷ số thanh khoản ngắn hạn phản ánh khả
(TSLĐ + ĐTNH)/(Nợ ngắn hạn năng chuyển đổi TSLĐ thành tiền để trả nợ
+ Nợ dài hạn đến hạn trả)
ngắn hạn. Tỷ SỐ thanh khoản ngắn hạn phải
Tỷ số thanh khoản dài hạn = lớn hơn 1, nếu nhỏ hơn 1 doanh nghiệp đang
gặp khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn.
(TSCĐ + ĐTDH)/Nợ dài hạn
2. Chỉ tiêu hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho cao thể hiện dự trữ
Vòng quay hàng tồn kho = Giá hàng tồn kho lớn, điều này có thể là không tốt
vốn hàng bán/Hàng tồn kho bình vì doanh nghiệp không đủ hàng hoá sẽ bị mất
quân Vòng quay tài sản = Doanh khách hàng hoặc đã mua qua nhiều mà không
tiêu thụ được.
thu/TỔng tài sản hình quân.
Vòng quay tài sản phản ánh năng lực sử dụng
tổng tài sản để tạo doanh thu, chỉ tiêu này
càng cao càng có lợi thế.
Kỳ thu tiền hình quân = (Các - Chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời
khoản phải thu hình quân X hạn tín dụng thương mại bình quân ngày mà
vay sẽ an toàn hon.
-
Khả năng trả lãi tiền vay phản ánh khả
năng thanh toán nợ và lãi vay ngân hàng
và tránh những khó khăn về tài chính.
Phản ánh mức độ an toàn của thu nhập
4. Chỉ tiêu thu nhập
để có thể trả lãi cho chủ nợ.
- Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu phản ánh tỷ lệ lãi
Tỷ suất lợi nhuận / Doanh
phát
thu = Lợi nhuận sau thuế /
sinh trên một đơn vị doanh thu. Nếu doanh
Doanh thu
nghiệp giảm chi phí đầu vào thì tỷ lệ sinh lời
trên doanh thu cao, điều đó chứng tỏ doanh
nghiệp hoạt động tốt.
Tỷ suất lợi nhuận/TỔng tài