BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN NGỌC DŨNG
KHAI THÁC KIẾN THỨC VẬT LÝ, ỨNG DỤNG VÀO
KỸ THUẬT NGÀNH Ô TÔ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY
HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRẦN ĐẠI NGHĨA
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật Lý
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Đình Thước
Nghệ An - 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Thầy hướng dẫn luận văn, PGS.TS. Nguyễn Đình Thước, Thầy đã tận
tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.
Khoa Vật lý, tổ bộ môn phương pháp dạy học Vật lý - Trường Đại học
Vinh.
Ban giám hiệu, giảng viên bộ môn Lý - Hóa, Trường Đại học Trần Đại
Nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tiến hành thực nghiệm
sư phạm.
Dạy học đại học
DHVL
Dạy học vật lý
ĐH – CĐ
Đại học và Cao đẳng
GV
Giảng viên
SGT
Sách giáo trình
SV
Sinh viên
ĐCT&ĐCD
Điểm chết trên&Điểm chết dưới
LTN
Lớp thực nghiệm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện
đại hoá. Mọi ngành nghề đều có những bước thay đổi đáng kể, ngành Giáo dục
cũng đang có những bước đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt nhằm đào tạo ra những
con người có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạo đức tốt đáp
ứng được yêu cầu của công nghệ và nền kinh tế tri thức.
Kho tàng tri thức là vô hạn, mỗi ngày lại có những thành tựu mới được
phát minh. Do đó dạy học theo phương pháp tiên tiến và hiện đại không chỉ là
dạy cho SV nắm được kiến thức mà cần phải dạy cho SV cách tự lực chiếm
lĩnh kiến thức, có tư duy sáng tạo và tích cực trong hoạt động nhận thức để
phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Giáo dục đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội hiện
đại. Trong trường đại học, việc học tập của SV không thể là thụ động tiếp thu
bài giảng của GV mà phải là sự tham gia tích cực vào các hoạt động học tập,
độc lập sáng tạo. Việc dạy của GV không chỉ là cung cấp kiến thức mà phải
tạo cho SV có cơ hội tham gia khám phá thế giới thực, phân tích và giải quyết
vấn đề. Kết quả cần rèn luyện cho SV là tính năng động cá nhân, tư duy sáng
tạo, năng lực thực hành giỏi, khả năng hợp tác, khả năng giải quyết vấn đề mà
thực tiễn đặt ra.
Giáo dục nước ta đã và đang thực hiện những thay đổi trong toàn bộ quá
trình dạy học, theo quan điểm: “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tiễn”.
Giáo dục đại học của nước ta vẫn chậm đổi mới so với các nước trong
khu vực và Thế giới. Đối với các môn học đại cương, chương trình dạy cho
SV các trường Đại học kỹ thuật, có thể nhận thấy:
- Về nội dung giáo trình giảng dạy: Các giáo trình cũ được chỉnh sửa,
cập nhật các kiến thức mới song vẫn còn hạn chế.
1
5.4. Thực nghiệm sư phạm.
6. Các phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, phân tích lựa chọn nội
dung để xây dựng cơ sở lý luận.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
2
- Điều tra thực trạng dạy học vật lý đại cương ở trường Đại học kĩ
thuật.
- Thực nghiệm sư phạm.
6.3. Phương pháp thống kê toán học.
Xử lý số liệu điều tra và kết quả TNSP bằng công cụ toán học thống kê.
7. Đóng góp mới của luận văn.
- Về mặt lý luận: Góp phần xây dựng nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng
hợp trong quá trình dạy học vật lý đại cương ở trường Đại học kĩ thuật.
- Về ứng dụng: Xây dựng một số tiến trình dạy học cụ thể, khai thác
kiến thức về Nhiệt học ứng dụng vào kĩ thuật ngành ôtô. Biên soạn được 100
câu hỏi cho SV tự học, thiết kế được 04 giáo án theo định hướng vận dụng
kiến thức vật lý liên quan đến kỹ thuật ngành ô tô.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Khai thác kiến thức vật lý đại cương phần Nhiệt học
vào kĩ thuật ngành ô tô
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Kết luận chung
xảo tương ứng gắn với nghề nghiệp tương lai của SV. Quá trình giáo dục và
đào tạo ở các trường đại học, nội dung dạy học tạo nên nội dung cơ bản cho
hoạt động giảng dạy của GV và các hoạt động học tập, nghiên cứu của SV.
1.1.3. Các phương pháp và phương tiện dạy học ở đại học.
Các phương pháp DHĐH là hệ thống những con đường, cách thức dạy
và học.
Các phương tiện DHĐH bao gồm các phương tiện truyền thống và các
phương tiện hiện đại.
Phương tiện dạy học truyền thống bao gồm: ngôn ngữ, các vật thật,
hiện tượng thực tế trong đời sống kỹ thuật, các thiết bị thí nghiệm, các mô
hình vật chất, bảng viết tranh ảnh, các bản vẽ sẵn, các tài liệu in như giáo
trình, sách bài tập, sách hướng dẫn thí nghiệm, các tài liệu tham khảo…
Phương tiện dạy học hiện đại bao gồm: phim học tập, đèn chiếu,
băng hình, dao động kí điện tử, flash, máy vi tính, Website dạy học,
Internet…
4
Cùng với phương tiện dạy học các phương pháp dạy học có chức năng
xác định những phương thức hoạt động dạy và học theo nội dung nhất định
nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ và nội dung đề ra trong quá trình DHĐH.
1.1.4. Hoạt động dạy – hoạt động học.
- Hoạt động dạy: Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể của hoạt
động giảng dạy, chủ đạo trong quá trình tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt
động học của SV; đảm bảo cho SV tiếp thu tri thức, nghiên cứu khoa học có
chất lượng cao, đạt được những yêu cầu được quy định trong chương trình
đào tạo.
Hình 1.1. Sơ đồ sự phối hợp hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình
DHĐH
khoa học – công nghệ theo yêu cầu của xã hội.
Có thể tóm tắt mối liên hệ giữa các thành tố của quá trình DHĐH theo
sơ đồ logic sau:
Hình 1.2 Sơ đồ mối liên hệ giữa các thành tố của quá trình DHĐH
1.2. Các nhiệm vụ của dạy học đại học. [3]
6
- Nhiệm vụ 1: Trang bị cho SV hệ thống những tri thức khoa học hiện
đại, hệ thống các kĩ năng kĩ xảo tương ứng về một khoa học nhất định, bước
đầu trang bị cho SV phương pháp luận khoa học, các phương pháp nghiên
cứu và phương pháp tự học liên quan đến nghề nghiệp tương lai của họ.
- Nhiệm vụ 2: Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của SV.
- Nhiệm vụ 3: Quá trình dạy học phải hình thành thế giới quan khoa
học, nhân sinh quan và phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ khoa học
kĩ thuật, có trí thức có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo
có khả năng thích ứng với những thay đổi nghề nghiệp trong nền kinh tế thị
trường có bản lĩnh tự tạo được việc làm, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công
dân…
1.3. Bản chất của quá trình dạy học đại học. [3]
- Quá trình dạy học đại học là quá trình điều khiển hoạt động nhận thức
độc đáo có tính chất nghiên cứu của SV dưới sự tổ chức, điều khiển của GV.
- Quá trình DHĐH là quá tình cộng tác giữa các chủ thể (Thầy - Trò).
- Quá trình DHĐH có bản chất xã hội.
1.4. Một số vấn đề về đổi mới dạy học đại học. [3]
Cách mạng xã hội và cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển
với tốc độ vũ bão đòi hỏi nội dung dạy học không ngừng đổi mới và hoàn
thiện theo các hướng cơ bản sau:
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục đích dạy học và đào tạo, các
phương pháp dạy học tích cực đang được áp dụng. Về mặt lý luận và thực tiễn
dạy học thì không có phương pháp nào là độc tôn, mỗi phương pháp đều có
điểm mạnh và điểm yếu. Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực (hay còn
gọi là phương pháp dạy học hiện đại) không có nghĩa là gạt bỏ các phương
pháp dạy học truyền thống. Các phương pháp dạy học truyền thống vẫn có
những khía cạnh tích cực của chúng mà không thể thay thế được.
Tùy thuộc vào nội dung của môn học và hình thức tổ chức dạy học mà
người thầy lựa chọn, sử dụng phương pháp dạy học tích cực để dạy có hiệu
quả.
1.5. Mối quan hệ kiến thức vật lý đại cương với kỹ thuật. [7]
8
Vật lý đại cương là học phần cơ bản được giảng dạy trong các trường
kỹ thuật. Nó cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về: Cơ học, nhiệt học,
điện trường …Và các thí nghiệm về các hiện tượng, định luật, định lý làm cơ
sở cho SV tiếp thu thuận lợi các môn học kỹ thuật cơ sở và chuyên ngành.
Trong đó nhấn mạnh các kiến thức vật lý thiết thực cho việc học nghề của SV,
nhất là các ngành ô tô, cơ khí. Đó chính là một khâu rất quan trọng trong mục
tiêu đào tạo chất lượng cao.
Vật lý – kĩ thuật dựa nhiều vào cơ sở vật lý học. Ví dụ; cơ học vật rắn,
cơ học đất và cơ học kết cấu...Là lý thuyết nền tảng cho các kĩ sư thiết kế
công trình xây dựng. Bộ môn vật lý kiến trúc bao gồm lý thuyết về âm học,
ánh sáng, nhiệt...Giúp thiết kế công trình một cách tối ưu, chống tiếng ồn,
nâng cao khả năng cách nhiệt và bố trí đèn chiếu sáng hiệu quả. Ngành khí
động lực học giúp các kĩ sư hàng không thiết kế máy bay tốt hơn cũng như
thực hiện các mô phỏng trước khi cho sản xuất hàng loạt. Trong lĩnh vực giải
trí, hình ảnh ti vi và máy tính đạt chuẩn nét cao là nhờ công nghệ Nano và
Điện tử học...
lẫn nhau. Có thể nói: Vật lý học phát triển thì kỹ thuật phát triển. Trong thời
đại ngày nay những phát minh mới của vật lý học được đưa vào ứng dụng
trong khoảng thời gian rất ngắn so với trước đây. Ngược lại khi kỹ thuật phát
triển tạo điều kiện về phương tiện hiện đại trong nghiên cứu vật lý sẽ cho
những phát minh có giá trị.
Khoa học vật lý và kỹ thuật đồng hành phát triển là điều kiện để con
người khám phá được tự nhiên, khai thác sử dụng tiềm năng của tự nhiên
phục vụ lợi ích cuộc sống con người. Mối quan hệ biện chứng giữa tư duy vật
lý và tư duy kỹ thuật là ở chỗ đó.
1.7. Thực trạng dạy học vật lý đại cương ở trường đại học kĩ thuật.
Qua tìm hiểu một số giáo trình của các trường đại học ĐH Bách Khoa,
ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM, ĐH Trần Đại Nghĩa bằng cách:
- Trao đổi với GV dạy vật lý đại cương.
- Dự giờ các tiết dạy lý thuyết trong phần Nhiệt học.
- Trao đổi với SV.
10
- Dùng phiếu điều tra lấy ý kiến của GV. (xem phụ lục 7 trang P46 –
P49).
Qua việc tìm hiểu đó, chúng tôi rút ra được một số nhận xét như sau:
- Về giáo trình dạy học vật lý đại cương.
Các giáo trình cũ được chỉnh sửa, tái bản cập nhật các kiến thức mới
song các giáo trình này đều thuần túy là lý thuyết, không có phần vật lý ứng
dụng vào các chuyên ngành, hoặc nếu có cũng chỉ nói sơ qua.
- Về số lượng bài tập.
Trong chương trình khung, tổng số bài tập được GV sử dụng trong
phần này 45 bài tập trong đó:
+ Bài tập định tính: khoảng 1– 8 bài.
liên quan gì tới chuyên ngành sau này mình sẽ học, khi làm bài tập nhiều SV
chỉ giải mà không hiểu bản chất vật lý, chỉ áp dụng công thức một cách máy
móc.
+ Hầu hết các SV không có kỹ năng giải BT vật lý, kể cả các SV khá
giỏi. Đặc biệt kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ nói và viết của SV còn kém.
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi xây dựng một hệ thống kiến
thức trong phần Nhiệt học và ứng dụng nó vào các chuyên ngành. Sử dụng
dạy học tích cực cho SV.
1.8. Nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong dạy học vật lý đại
cương. [5], [7]
Vật lý học là cơ sở cho các ngành kỹ thuật. Những ứng dụng kỹ thật
khác nhau của vật lý học có thể được nghiên cứu ở các phần riêng biệt về cơ
học, nhiệt học, điện học, quang học, vật lý hạt nhân…Dạy kỹ thuật tổng hợp
trong môn vật lý đại cương đòi hỏi phân tích những kiến thức liên quan đến
kỹ thuật. Đặc biệt làm sáng tỏ nguyên tắc vật lý trong hoạt động của các thiết
bị, máy móc khác nhau.
Ví dụ: Kiến thức nhiệt động học trong quá trình hoạt động của động cơ
đốt trong, nhiệt năng được biến đổi thành cơ năng đối với nguyên lý làm việc,
12
đối với động cơ đốt trong 2 kỳ và 4 kỳ. Ở đây nên sử dụng mô hình để giảng
giải với ngôn ngữ kỹ thuật.
Cùng với việc nghiên cứu những sơ đồ cụ thể, mô hình cụ thể thì nhiệm
vụ dạy học kỹ thuật tổng hợp còn phải làm cho SV lĩnh hội những vấn đề kinh
tế – xã hội của kỹ thuật.
Ví dụ: Động cơ đốt trong nhiên liệu dùng xăng hoặc dùng nhiên liệu
Diesel có cùng số Xylanh, cùng kích thước đường kính Xylanh, cùng một chu
kỳ công tác, cùng tốc độ vòng quay trục khuỷu thì:
tại lớp. Ngày nay nhờ công nghệ thông tin với các phần mềm mô phỏng thí
nghiệm các mô hình, hình mẫu của các thiết bị, các đoạn băng Video Clip,
Flash mô phỏng về hoạt động của chúng…Là những phương tiện hữu hiệu để
dạy kỹ thuật tổng hợp trong môn vật lý đại cương.
Thực hiện nguyên tắc giáo dục kỹ thuật trong dạy học vật lý đại cương
bao gồm việc SV nắm được một loạt kỹ năng, kỹ xảo thực hành, điều này giữ
vai trò quan trọng trong việc việc chuẩn bị cho SV bước vào học các môn cơ
sở và chuyên ngành.
Ví dụ: Kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo, kỹ thuật đo lường các đại
lượng vật lý – thông số kỹ thuật, vận dụng tri thức vật lý kỹ thuật giải quyết
các bài toán thực tiễn…
Thông qua hoạt động làm thí nghiệm, thực hành thí nghiệm, giải các
bài tập có nội dung kỹ thuật, làm việc với các mô hình kỹ thuật,…Đó là
những hình thức hình thành, phát triển kỹ năng – kỹ xảo của SV.
Như vậy quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong dạy học vật lý đại
cương là con đường vận dụng những kiến thức vật lý, ứng dụng vào kỹ thuật
chuyên ngành đào tạo ở các trường đại học kỹ thuật có hiệu quả cao nhất.
1.9. Dạy học theo hướng khai thác kiến thức vật lý đại cương phần Nhiệt
học ứng dụng trong kỹ thuật ngành ô tô. [3], [5], [7]
1.9.1. Tiến trình dạy học theo tính ứng dụng vật lý đại cương vào trong
kỹ thuật ngành ô tô.
Việc SV thông hiểu, áp dụng sáng tạo các kiến thức vào tình huống
mới, phụ thuộc trước hết là nội dung của chính môn học. Cấu trúc tài liệu giáo
trình và phương pháp trình bày tài liệu có một ý nghĩa to lớn. Vấn đề lựa chọn
nội dung tài liệu giáo trình, cấu trúc của tài liệu đó và phương pháp trình bày
phải tùy theo mục đích dạy học.
Nếu chúng ta chỉ đơn thuần cho SV làm quen với những nguyên lý
mới, những định luật mới thì ta chỉ thông báo cho SV những kết luận lý
thuyết có sẵn mà SV sẽ phải sử dụng. Còn nếu chúng ta đặt vấn đề không
14
15
Mục đích của mô hình hóa là thay thế đối tượng nghiên cứu bằng
phương trình sao cho có thể thu được những thông tin cần thiết một cách dễ
dàng nhất. Bởi vậy có thể ở giai đoạn đầu của quá trình nhận thức xuất phát từ
những yếu tố quan sát được (lực đàn hồi) để xây dựng mô hình dao động cơ
học, sau đó dùng mô hình để nghiên cứu dao động điện không quan sát trực
tiếp được.
Tuy mô hình toán có ưu điểm về sự chặt chẽ của toán học, có thể xét
tới những yếu tố ảnh hưởng nhỏ nhất tham dự vào quá trình thực nghiệm,
song sự chặt chẽ này đồng thời lại là nhược điểm của mô hình toán, vì nó có
khoảng cách khá xa với tính linh hoạt của các quá trình thực.
Mô hình đồ thị: Là một loại mô hình rất thông dụng trong nghiên cứu
vật lý, đặc biệt là trong nghiên cứu thực nghiệm. Vai trò của đồ thị thể hiện
rõ: mối quan hệ hàm số, đồ thị biểu diễn một mối quan hệ giữa 2 hoặc 3 đại
lượng vật lý mô tả hiện tượng tự nhiên. Nếu chỉ dừng lại ở việc giải thích hiện
tượng theo quan điểm vĩ mô (theo hiện tương luận) thì trong nhiều trường
hợp, có thể dựa vào đồ thị để giải thích sự diễn biến của hiện tượng.
Ví dụ, người ta thường dựa vào đặc tuyến Vôn Ampe của Tranzito để
chọn điểm làm việc của nó. Ngược lại với một điểm làm việc nhất định, thì
dựa vào đặc tuyến Vôn Ampe ta có thể biết Tranzito hoạt động ở chế độ tuyến
tính hay không tuyến tính.
Mỗi đồ thị không những chỉ phản ánh đơn thuần mối liên hệ hàm số
giữa hai đại lượng vật lý, mà nó mang nhiều thông tin quý báu ngoài mối liên
hệ đó. Đó chính là chức năng tiên đoán của đồ thị. Ví dụ: Đồ thị của đường
đẳng tích và đường đẳng áp đã cho ta tiên đoán sự tồn tại của độ không tuyệt
đối.
Nếu một đồ thị có một cực đại (hay một cực tiểu) thì nó sẽ cho ta thấy
+ Dạy học theo hướng ứng dụng kiến thức vật lý.
17
Những kiến thức vật lý được các nhà khoa học phát minh từ những sự
vật từ những sự vật hiện tượng rồi tổng hợp và khái quát hóa thành những
định luật những khái niệm, những quy luật chung nhất,…
SV nghiên cứu vật lý là hoạt động khám phá ứng dụng vào thực tế cuộc
sống kĩ thuật và công nghệ.
+ Cơ sở phương pháp nhận thức theo tính ứng dụng vật lý.
Rõ ràng sự suy luận một giả thuyết là những kiến thức mà con người
thường gặp trong cuộc sống. Những giả thuyết đó chỉ trở thành nhận thức
khoa học khi chúng được kiểm tra và xác nhận bằng thực nghiệm và trong
thực tiễn.
Sở dĩ sự suy luận bằng phép tương tự đạt được những kết quả đáng tin
cậy trở thanh một phương pháp có hiệu lực trong khoa học vì theo Kedrop:
“Sự tương tự có nguyên nhân sâu xa và sự thống nhất bản chất bên trong của
những hiện tượng khác nhau, sự thống nhất có tính tổng quát của các định luật
chung chi phối những định luật riêng”.
Trước hết chúng tương tự với nhau vì chúng tuân theo những mối quan
hệ nhân quả.
Dựa trên sự tương tác giữa các hệ quả mà người ta có thể đưa ra sự
tương tác giữa các nguyên nhân và ngược lại.
D.Didorot đã viết “Trong vật lý học, tất cả những hiểu biết của chúng
ta đều dựa vào sự tương tự nếu sự giống nhau về hệ quả mà không cho phép
ta kết luận về sự giống nhau về nguyên nhân thì khoa học vật lý sẽ ra sao? Có
cần phải đi tìm nguyên nhân của tất cả các hiện tượng tương tự không loại trừ
gì hết? Liệu điều đó có thực hiện được không? Y học và những lĩnh vực thực
nghiệm của vật lý sẽ như thế nào nếu không có nguyên lý tương tự đó…Có
thể rút ra được kết luận gì từ rất nhiều sự việc, thực nghiệm và quan sát?”.
Chương 2. Khai thác kiến thức vật lý đại cương phần Nhiệt học
vào kĩ thuật ngành ô tô
2.1. Phân tích chương trình vật lý đại cương phần Nhiệt học.
2.1.1. Phân tích chương trình vật lý đại cương phần Nhiệt học.
Phần Nhiệt học là phần thứ hai trong chương trình khung của Bộ Giáo
Dục và Đào tạo, tiếp nối phát triển kiến thức về nhiệt học trung học phổ
thông.
Phần Nhiệt học gồm có hai chương: Chương ‘‘Chất khí’’ và chương
‘‘Các nguyên lý của nhiệt động lực học’’ trang bị các khái niệm nền tảng làm
cơ sở nghiên cứu các hiện tượng xảy ra bên trong vật như: Vật nóng chảy, vật
bay hơi, vật nóng lên khi có ma sát...Sự sắp xếp này có tính kế thừa, phù hợp
với lôgíc nội dung của chương trình khung. Do đó phần Nhiệt học có vị trí
quan trọng trong chương trình vật lý đại cương nói riêng và vật lý nói chung.
Phân bố thời lượng dạy học phần này có 24 tiết, trong đó có 18 tiết lý
thuyết, 05 tiết bài tập, 1 tiết kiểm tra.
2.1.2. Mục tiêu dạy học phần Nhiệt học.
- Sinh viên phải nắm vững các khái niệm: Hệ nhiệt động, nội năng, các
định luật thực nghiệm về chất khí. Phương trình trạng thái khí lý tưởng, công
và nhiệt, nguyên lý thứ nhất của nhiệt động lực học. Dùng nguyên lý thứ nhất
của nhiệt động lực học để khảo sát các quá trình cân bằng, hạn chế của
nguyên lý thứ nhất. Quá trình thuận nghịch và không thuận nghịch. Nguyên lý
20
thứ hai của nhiệt động lực học, chu trình Carnot, định lý Carnot. Hàm
Entropy và nguyên lý tăng Entropy.
- Sinh viên thông qua học tập kiến thức vật lý đại cương có khả năng
vận dụng vào kỹ thuật ngành ô tô.
- Sinh viên phải hiểu, có kỹ năng vận dụng các kiến thức trên để giải