TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
Tên công trình:
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH
NGHIỆP
XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 2 (KD2)
HÀ NỘI, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
Tên công trình:
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP
XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành: Kinh doanh và quản lý 2 (KD2 )
Họ và tên sinh viên: Trần Vũ Phương Linh
Nữ
1.3 Doanh nghiệp xã hội:......................................................................................................................................10
1.3.1 .Định nghĩa:.........................................................................................................................................10
1.3.2 Sư ra đời của doanh nghiệp xã hội:.....................................................................................................12
1.3.3 Sự đóng góp của doanh nghiệp xã hội đối với các vấn đề xã hội, cộng đồng trên toàn thế giới:........14
1.3.4Những loại hình doanh nghiệp xã hội phổ biến trên thế giới:..............................................................19
1.4 So sánh doanh nghiệp kinh doanh truyền thống, các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
có trách nhiệm xã hội, các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội:.................................................21
CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
VIỆT NAM ĐANG ĐỐI MẶT.....................................................................23
2.1 Giới thiệu chung về các DNXH ở Việt Nam................................................................................................23
2.1.1 Sự ra đời của các DNXH ở Việt Nam:................................................................................................23
2.1.2 Thực trạng các DNXH tại Việt Nam những năm gần đây:..................................................................23
2.1.3 Những đóng góp của các DNXH Việt Nam........................................................................................27
2.2 Những thách thức đối với doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam:................................................................30
2.2.1 Thiếu khuôn khổ pháp lý rõ ràng:........................................................................................................30
2.2.2 Sự nhận thức cũng như sự quan tâm của cộng đồng về doanh nghiệp xã hội còn rất hạn chế:...........31
2.2.3 Năng lực của doanh nhân xã hội còn hạn chế:....................................................................................35
2.2.4 Khó khăn về việc huy động nguồn lực:...............................................................................................37
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHÓ
KHĂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÃ HỘI.........................................41
3.1 Hỗ trợ về pháp lý đối với các DNXH:..........................................................................................................41
3.2 Nâng cao nhận thức người dân về DNXH:..................................................................................................42
3.3 Nâng cao năng lực cho doanh nhân xã hội:.................................................................................................43
3.4 Tăng cường những chương trình hỗ trợ về nguồn lực..............................................................................45
KẾT LUẬN....................................................................................................47
4.Martin Price, social emterprise: what it is and why it matter................52
xuyên suốt cao hơn cả vấn đề lợi nhuận. Ngoài trung tâm hỗ trợ sáng kiến
phục vụ cộng đồng CSIP ra, thì tại Việt Nam hầu như không có tổ chức nào
hỗ trợ cho sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này.
CSIP có những báo cáo thường niên về tình hình phát triển của các
doanh nghiệp như bản tin DNXH số 1( 4-2011), bản tin DNXH số 2 ( 72011), bản tin DNXH số 3 ( 12-2011), hay báo cáo nghiên cứu ban đầu về
DNhXN Việt Nam ( năm 2008). Hàng năm, CSIP đều thực hiện và khảo sát
và đưa ra báo cáo nghiên cứu về DNXH. Báo cáo không chỉ liên tục cập nhật
những DNXH mới mà còn đưa ra hướng phát triển khả thi cho những DNXH.
Ngoài ra, DNXH cũng có được sự quan tâm của các phương tiện thông
tin đại chúng như bài phỏng vấn chị Phạm Kiều Oanh- giám đốc trung tâm
CSIP trong chương trình cuộc sống thường ngày trên VTV 1. Qua đó, khán
giả có thể nắm bắt được những thông tin cơ bản và tương đối đầy đủ về
DNXH. Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn, viết bài về DNXH còn xuất hiện khá
nhiều trên các kênh VTV1, VTV2, VTV3, VCTV… và trên các báo tuổi trẻ,
…
Đối với công tác nghiên cứu khoa học, DNXH, DNhXN thực sự là một
đề tài mới, chưa có nhiều nghiên cứu hiện hành nhưng có rất nhiều tiềm năng
phát triển trong tương lai. Nhóm tác giả hy vọng bài nghiên cứu về DNXH
dưới đây sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào nguồn tư liệu về nghiên cứu
DNXH, DNhXH mà các nhà kinh tế cần biết sau này.
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu:
Thế kỉ 21, thế giới vẫn đang phải đối mặt với các vấn đề xã hội, môi
trường như bệnh dịch, nghèo đói, việc làm … Chính phủ các nước cũng như
các tổ chức tình nguyện khắp nơi trên thế giới đã và đang cố gắng hết sức
mình nhưng về cơ bản vẫn chưa khống chế được các vấn đề này. Nguyên
nhân là do chính rphủ và các tổ chức tình nguyện cung như các doanh nghiệp
có trách nhiệm với xã hội đều có những hạn chế của họ và khả năng của họ
cũng chưa thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, các DNXH đã
ra đời và cùng san sẻ gánh nặng với nhà nước và toàn xã hội.
•
Đưa ra các đề xuất với các đối tượng liên quan nhằm hỗ trợ cho
sự phát triển của các DNXH
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau:
•
Đối tương nghiên cứu: DNXH mẫu tại Việt Nam và 100 sinh
viên các trường đại học tại Hà Nội.
•
Nội dung nghiên cứu: khó khăn và thách thức của các DNXH ở
Việt Nam
•
Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện về thời gian có hạn, bài
nghiên cứu sẽ chỉ tập trung vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá các
DNXH tại khu vực Hà Nội và các sinh viên trong các trường đại học tại
Hà Nội. Việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện sẽ được căn cứ theo
phạm vi nghiên cứu trên
•
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2/2012 đến tháng 4/2012
5. Phương pháp nghiên cứu:
3
a. Quá trình nghiên cứu cụ thể được trình bày dưới đây:
Xác định các dữ liệu
cần thu thập
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Sách, báo,
để thu thập và đánh giá mức độ quan tâm của sinh viên với DNXH,
4
nhận thức của các sinh viên về những khó khăn, thách thức của các
DNXH tại VN hiện nay.
+ HÌnh thức điều tra: Phát phiếu điều tra kiểu bảng câu hỏi lực
chọn
+ Thời gian điều tra dự kiến: tháng 3 năm 2012
Thu thập ý kiến của các DNhXH về thực trạng cũng như các khó khăn thách
thức của DNXH. … bằng cách phỏng vấn trực tiếp
c. Phương pháp xử lý số liệu:
- Đối với số liệu thứ cấp: tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp và
đánh giá
- Đối với số liệu sơ cấp: xử lý kết quae trên Excel hoặc phần mềm
SPSS
6. Nội dung đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sơ lý luận về DNXH, so sánh với các loại hình NGOs và doanh
nghiệp hoạt động vì lợi nhuận
Chương 2: Thực trạng và những khó khăn, thách thức của DNXH tại Việt
Nam
Chương 3: Một số giải pháp được đề xuất nhằm giúp các DNXH tháo gỡ khó
khăn
5
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động
công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp tư nhân
- Khái niệm : Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh
nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
6
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là DN có những đặc điểm chung sau
đây:
o Hình thức sở hữu của công ty là sở hữu chung của các thành viên
công ty.
o Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng
thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm
mươi.
- Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là DN có những đặc điểm chung sau đây:
o
Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có
thể là: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, các loại DN, các tổ chức khác theo quy
định của pháp luật.
Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Doanh nghiệp quy mô lớn.
- Doanh nghiệp quy mô vừa.
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước
người ta dựa vào những tiêu chuẩn như:
- Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp.
- Số lượng lao động trong doanh nghiệp.
- Doanh thu của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận hàng năm.
1.2.1.3 Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào lĩnh vực kinh
doanh
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp.
- Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
- Doanh nghiệp thương mại.
- Doanh nghiệp vận tải.
- Doanh nghiệp xây dựng.
- Các doanh nghiệp dịch vụ.
- Doanh nghiệp hỗn hợp: sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ.
1.3.1 Mục tiêu của Doanh nghiệp
Những mục tiêu kinh tế
Doanh nghiệp cố gắng đạt tới lợi nhuận tối đa, đó là mục tiêu kinh tế
quan trọng nhất. Để đạt tới điều đó, doanh nghiệp phải thực hiện các mục tiêu
kinh tế khác như:
- Về thị trường: chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, bảo vệ và
nâng cao thị phần, chiến thắng các đối thủ cạnh tranh.
- Về tài chính: bảo toàn vốn, gia tăng tài sản,gia tăng vòng quay vốn,
giảm chi phí..
- Về cải tiến công nghệ, mở rộng qui mô và nâng cao hệ số sử dụng
công suất...
này thường giới hạn để chỉ các tổ chức xã hội và văn hoá mà mục tiêu chính
không phải là thương mại.
Các tổ chức phi chính phủ thường có các đặc điểm sau:
- Các tổ chức phi chính phủ không được tạo ra cho lợi ích của 1 cá nhân
nào. Mặc dù những tổ chức này vẫn phải trả lương công nhân và tham gia vào
các hoạt động kinh doanh sinh lời nhưng họ không phân phát lợi nhuận cho
các thành viên hay tổ chức nào.
- Các tổ chức phi chính phủ là tình nguyện tức là họ được thành lập dựa trên
nguyên tắc tình nguyện và tham gia vào các công việc tình nguyện.
- Các tổ chức phi chính phủ được phân biệt với nhóm đặc biệt bởi mức độ
của sự tồn tại chính thức hay thể chế. Thông thường, các tổ chức phi chính
phủ có quy chế chính thức hoặc tài liệu quản lý khác đặt ra nhiệm vụ, mục
tiêu và phạm vi của mình. Họ chịu trách nhiệm cho các thành viên và các nhà
tài trợ.
- Các tổ chức phi chính phủ hoạt động hoàn toàn độc lập, đặc biệt là với
chính phủ, các cơ quan công quyền và các đảng chính trị, tổ chức thương
mại.
9
1.2.2 Các loại tổ chức phi chính phủ:
- Tổ chức phi chính phủ dựa trên cộng đồng (Community based NGOs )
được tạo ra bởi một cộng đồng con người có cùng niềm đam mê. Mục tiêu
chính của các tổ chức này là để giúp người dân nhận thức được các quyền của
họ và cung cấp cho họ những dịch vụ cần thiết.
- Tổ chức phi chính phủ của các thành phố ( Citywide NGOs ): bao gồm các
tổ chức khác nhau liên quan đến giáo dục, thể thao, cũng như liên kết của các
tổ chức dựa trên cộng đồng
- Tổ chức phi chính phủ quốc gia (National NGOs ): là các tổ chức chuyên
Các doanh
nghiệp có tính
nhân văn
Tổ chức
trung gian
Cá nhân
Tổ chức phát
triển quốc gia
Các tổ
chức phi
chính phủ
Những
người được
hưởng lợi
Hình 2: quá trình hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
Các tổ chức phi chính phủ hoạt động theo bốn tầng:
Gây quỹ: bao gồm các hoạt động nhằm gây quỹ cho tổ chức bao
gồm nguồn hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức quốc tế, các cá nhân
Phân phát nguồn quỹ này về các tổ chức phi chính phủ nhỏ hơn
Tiếp tục phân phát nguồn tiền này cho những tổ chức nhỏ hơn nữa
Tiền tài trợ tới tay những người cần giúp đỡ.
1.3 Doanh nghiệp xã hội:
1.3.1 .Định nghĩa:
1.3.1.1Định nghĩa doanh nghiệp xã hội và doanh nhân xã hội:
- Định nghĩa doanh nhân xã hội:
Doanh nhân là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp và chịu
lấy môi trường đã bị họ tàn phá, những người dân đã bị họ hủy hoại sức
khỏe… Bill Drayton hiểu được vấn đề này, tìm ra được cách giải quyết và
thực hiện nó một cách khôn ngoan nhất. Hướng đi của ông chính là doanh
nhân xã hội, tập hợp các doanh nhân xã hội và cấu thành nên tổ chức mang
tên Ashoka. Trong suốt 30 năm qua, Ashoka liên tục tìm kiếm và hỗ trợ
những ý tưởng đột phá nhằm tạo nên sự thay đổi có tính hệ thống đối với
cộng đồng và địa phương. Ashoka trực tiếp hỗ trợ tiền ăn ở cho các doanh
nhân xã hội để họ có thể toàn tâm toàn ý thực hiện ý tưởng của mình. Ví dụ
mức hỗ trợ cho doanh nhân xã hội ở Ấn Độ là 3.000 USD một năm còn ở Mỹ
là 45.000 USD một năm. Hiện nay mạng lưới doanh nhân trong chương trình
của Ashoka đã lên tới 1.200 người trải rộng trên 43 quốc gia khắp thế giới.
- Định nghĩa doanh nghiệp xã hội:
Cũng giống như các doanh nhân xây dựng các tổ chức, doanh nghiệp
để sản xuất các sản phẩm hay dịch vụ vì lợi nhuận, các doanh nhân xã hội
cũng tổ chức, tạo lập và điều hành những tổ chức hay doanh nghiệp xã hội để
hiện thực hóa các ý tưởng, tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ nhằm giải
quyết các vấn đề xã hội hay môi trường.
Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp với mục tiêu hàng đầu là xã hội,
thặng dư của doanh nghiệp chủ yếu được tái đầu tư cho các hoạt động xã hội
12
hoặc phát triển cộng đồng, chứ không phải để tối đa hóa lợi nhuận cho cổ
đông và chủ sở hữu.
Ngân hàng Grameen, một trong những doanh nghiệp xã hội nổi tiếng
trên thế giới, được thành lập vào năm 1983 bởi giáo sư Muhammad Yunus,
trưởng ban chương trình Kinh Tế Nông Thôn tại đại học Chittagong. Năm
1976, khi đến thăm một ngôi làng nghèo ở Băng la đét, ông đã nhận thấy rằng
các khoản vay nhỏ có thể tạo nên sự khác biệt to lớn đối với người nghèo.
1.3.2.1Nguyên nhân ra đời của doanh nghiệp xã hội:
13
Sự ra đời của mọi loại hình doanh nghiệp đều xuất phát từ nhu cầu con
người, sự kỳ vọng của con người, hay thậm chí là những áp lực từ bên ngoài
và sự ra đời của doanh nghiệp xã hội cũng bắt đầu từ những nhân tố này.
Lý do cơ bản tạo tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp xã hội chính là
mong muốn của con người trong việc cân bằng giá trị kinh tế và giá trị xã hội.
Từ xưa đến nay người ta vẫn nghĩ rằng doanh nghiệp không hoạt động vì lợi
nhuận sẽ tạo ra giá trị xã hội còn những doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận
sẽ tạo ra giá trị kinh tế. Như một quy luật tư nhiên, khi xã hội càng phát triển,
điều kiện sống của con người càng được cải thiện thì con người sẽ quan tâm
nhiều hơn đến cộng đồng, môi trường và đồng loại. Vì vậy, con người mong
muốn tìm ra một loại hình doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu này của
họ - nhu cầu cân bằng giá trị kinh tế và giá trị xã hội. Và kết quả là một loại
hình doanh nghiệp mới đã ra đời: doanh nghiệp xã hội.
Áp lực đối với những tổ chức không hoạt động vì lợi nhuận cũng là lý
do thúc đẩy sự ra đời của doanh nghiệp xã hội. Những tổ chức này luôn phải
cố gắng tăng sức ảnh hưởng đối với xã hội. Nhìn chung thời gian gần đây
nguồn tài chính từ nhà tài trợ hay chính phủ đang giảm dần trong khi đó ngày
càng có nhiều tổ chức phi lợi nhuân. Vì vậy, sức cạnh tranh đối với nguồn trợ
cấp tài chính có sẵn càng lớn. Khi đó, những tổ chức này phải tìm ra nguồn tài
chính thay thế hay nói cách khác là phải tự tạo ra nguồn tài chính. Có thể nói
loại hình doanh nghiệp xã hội chính là giải pháp tối ưu cho thực trạng này.
Sự ra đời của doanh nghiệp xã hội cũng bắt nguồn từ thực tế: trợ cấp tài
chính chỉ là giải pháp tạm thời cho các vấn đề xã hội, nó không chạm được
đến gốc rễ sâu xa của vấn đề. Vì vậy nó chưa giải quyết được vấn đề một cách
triệt để. Chúng ta đều biết rằng giúp đỡ người nghèo bằng cách trợ cấp lương
trò và sự ảnh hưởng của doanh nghiệp xã hội đối với cộng đồng thông qua
“Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” (Millennium Development Goals).
1.3.3.1 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ:
Tháng 9 năm 2000, 192 thành viên của tổ chức liên hợp quốc đã đưa ra
bản cam kết về những mục tiêu cụ thể nhằm hướng đến sự phát triển kinh tế
và con người tập trung chủ yếu ở những quốc gia có mức thu nhập bình quân
hàng năm thấp và có điều kiện sinh hoạt khó khăn. Những mục tiêu này chính
là xóa đói nghèo, xóa mù chữ, hướng đến sự bình đẳng giới và cung cấp đầy
đủ các trang thiết bị y tế, dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân. Những
mục tiêu ấy đều xuất phát từ “Tuyên ngôn thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc”,
tuyên ngôn này đã xác định được những vấn đề bất bình đẳng nghiêm trọng
giữa các quốc gia trong xu thế hợp tác toàn cầu. Vì vậy, 8 “Mục tiêu Phát
triển Thiên niên kỷ” đã được thông qua, kèm theo đó là 18 nhiệm vụ cụ thể.
Tất cả 8 mục tiêu này đều nhằm đạt được tiêu chuẩn đầu tiên của Liên Hợp
Quốc. Đó là, đến năm 2015, không còn người lao động nào phải chịu mức
lương dưới 1 USD mỗi ngày, chấm dứt số người sống dưới mức nghèo khổ và
chấm dứt tình trạng người không có nước sạch để uống.
1.3.3.2 Sự phân bố của doanh nghiệp xã hội trên thế giới:
Một trong những khía cạnh thể hiện sự ảnh hưởng mang tính toàn cầu
của doanh nghiệp xã hội chính là sự phân bố của nó rộng khắp trên toàn thế
giới. Sự phân bố ở đây được hiểu là số lượng và mức độ phổ biến của doanh
nghiệp xã hội trên khắp các vùng lãnh thổ.
15
Năm 2005, một cuộc khảo sát về doanh nghiệp xã hội cho thấy: trong
số 74 doanh nghiệp xã hội đầu tiên trên thế giới, có 15 doanh nghiệp xã hội
đặt tại Bắc Mỹ (North America), 19 doanh nghiệp tại Nam Mỹ (South
America), 8 doanh nghiệp tại Châu Âu (Europe), 7 doanh nghiệp tại Châu Phi
(Economic Vulnerbility Index) về: sự bất ổn của sản xuất nông nghiệp,
sự bất ổn của xuất khẩu hang háo và dịch vụ, tầm quan trọng về kinh tế
của các hoạt động phi truyền thống, hang hóa xuất khẩu tập trung,
người tàn tật và sự eo hẹp về kinh tế và tỉ lệ phần trăm dân di dời do
thiên tai.
Dựa trên tiêu chí này, năm 2005, Liên Hợp Quốc đã đưa ra danh sách
gồm 50 nước kém phát triển nhất trên thế giới. Dưới đây là danh sách 50 nước
này và tên những nước được bôi đen là những nước đã có doanh nghiệp xã
hội hoạt động.
Afghanistan
Bangladesh
Benin
Bhutan
Burkina
Burundi
Cambodia
Cape Verde
Central Africa Republic
Chad
Comoros
Democratic Republic of Congo
Djibouti
Equatorial Guinea
Eritrea
Ethiopia
Gambia
Guinea
Guinea Bissau
Haiti
Kiribati
Những tài liệu trên đã minh chứng cho sự trải rộng toàn cầu của doanh
nghiệp xã hội, và quan trọng hơn là loại hình doanh nghiệp này đã có mặt tại
hầu hết các quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới.
17
1.3.3.3 Sự đóng góp của doanh nghiệp xã hội đối với mục tiêu
phát triển toàn cầu:
Qua sự phân bố của doanh nghiệp xã hội, chúng ta có thể thấy rằng hầu
hết những doanh nghiệp này đều tập trung ở những quốc gia nghèo nhất và có
tốc độ phát triển con người thấp nhất. Biểu đồ dưới đây là sự tổng kết sức ảnh
hưởng của doanh nghiệp xã hội đối với từng mục tiêu trong 8 “Mục tiêu Phát
triển Thiên niên kỷ”.
Hình 4: Mức độ ảnh hưởng của DNXH đối với Mục tiêu phát triển Thiên niên
kỷ
( trích dẫn từ quyển Social Enterpreneurship của Christian Seelos, Kate Ganly
and Johanna Mair )
Có thể thấy rõ mục tiêu 1-về đói nghèo, mục tiêu 3-về bình đẳng giới
và phụ nữ, mục tiêu 7-về môi trường và mục tiêu 8-về phát triển toàn cầu chịu
sự ảnh hưởng nhiều nhất từ doanh nghiệp xã hội. Và những mục tiêu còn lại
về giáo dục tiểu học, tỉ lệ tử vong ở trẻ, sức khỏe bà mẹ và các bệnh truyền
nhiễm chịu sự ảnh hưởng thấp hơn và gần như nhau từ phía các doanh nghiệp
xã hội. Để người đọc có cái nhìn cận cảnh hơn, phần tiếp theo trong mục này
sẽ trình bày một số doanh nghiệp xã hội thành công nhất trên thế giới và có
sức ảnh hưởng lớn đối với “Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ” tại những
quốc gia kém phát triển nhất (theo tiêu chuẩn mà Liên Hợp Quốc đưa ra).
•
ApproTEC (KickStart)
Thiên niên kỷ”: xóa đói nghèo với nguồn tài chính vi mô bằng việc sử dụng
mô hình “tổ chức làng xóm sáng tạo”, cung cấp các chương trình giáo dục để
xóa mù chữ, giảm thiểu các vấn đề về sức khỏe thông qua việc cung cấp các
trang thiết bị y tế, giải quyết các vấn đề về môi trường thông qua chiến dịch
phát triển xã hội. Doanh nghiệp xã hội này đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến
Bangladesh - một trong những quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới, đến
năm 2002, BRAC đã có mặt tại Afghanistan – đất nước kém phát triển được
Liên Hợp Quốc định nghĩa như là “sự bần cùng” của thế giới, và năm 2004,
BRAC đã đến Sri Lanka sau cơn song thần vào hồi tháng 12.
•
Riders for Health
Riders for Health là tổ chức thế giới cung cấp các dịch vụ khám chữa
bệnh đến những vùng làng quê của Châu Phi bằng xe gắn máy hay xe cứu
thương. Bằng việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh đến tận nhà, tổ chức này
hi vọng giúp người dân chống lại được sự lây lan của bệnh AIDS. Riders for
Health tin tưởng rằng người dân mất đi mạng sống là bởi vì họ không đến
được những cơ sở y tế kịp thời. Vì vây, tổ chức này đã đào tạo 1 đội ngũ y
bác sỹ có thể đến được cả những vùng xa xôi, hẻo lánh nhất để cứu người
bệnh. Được thành lập năm 1998 tai Anh, sau này Riders for Health đã có mặt
tại Gambia, Nigeria và Zimbabwe. Tổ chức này có sức ảnh hưởng tới 3 mục
tiêu trong “8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ”: giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em
19
và phụ nữ mang thai, phòng chống HIV/AIDS, sốt rét cà những bệnh dịch
chết người khác.
•
Transfair USA
gặp nhiều bất lợi trong thị trường lao động.
•
Hợp tác xã
Hợp tác xã là hiệp hội những người cùng thống nhất để đáp ứng nhu cầu
thông thường về kinh tế và xã hội thông qua các doanh nghiệp thuộc sở
hữu chung. Hợp tác xã được tổ chức chính bởi và dành cho những thành