hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam - Pdf 31

Đề tài : HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM- LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
LỚP : K36E-HCNN
MÃ SINH VIÊN : 1250110237


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………….....................
1.Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………………..
2.Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài………………………………….
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài…………………………………
4.Phương pháp nghiên cứu đề tài…………………………………………
5.Bố cục của đề tài………………………………………………………..
Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ
1.1

Cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

1.2

Khái niệm, đặc điểm của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

1.2.1

Khái niệm

1.2.2

Đặc điểm

3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
3.3 Nâng cao công tác tổ chức, cán bộ có nhiệm vụ thực hiện hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thế giới ngày càng phát triển và hiện đại thì việc hội nhập quốc
tế là nhu cầu tất yếu của sự phát triển ở mỗi quốc gia cũng như phạm vi toàn cầu và
Việt Nam cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên trong điều kiện nước ta hội nhập quốc tế và
khu vực, bên cạnh những mặt tích cực thì tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài như
người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam, người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài,
người Việt Nam phạm tội ở trong nước bỏ trốn ra nước ngoài, người nước ngoài phạm
tội ở nước ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm ở trong nước cấu kết
với các tổ chức tội phạm nước ngoài mua bán phụ nữ, trẻ em, làm hộ chiếu giả, làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, các giấy tờ có giá giả khác, buôn lậu vũ khí,
sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy,
người nước ngoài phạm tội chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.....
cũng diễn biến phức tạp hơn và tinh vi hơn. Điều này không những xâm hại đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người dân, lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân
đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, gây ra những hậu quả
nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thậm chí còn tạo điều kiện thuận lợi
cho các cơ quan tình báo nước ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu
thập tình báo, phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài đạt hiệu quả cao, thì
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này lại càng trở nên cấp thiết. Hiện nay, Luật Tương trợ
tư pháp năm 2008 và các quy định tại Phần thứ tám - Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp
và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng
hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lược sử.


6. Cấu trúc bài niên luận
Với đề tài: “ Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự - Lý luận và thực tiễn áp
dụng ở Việt Nam” niên luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ
Chương 2 : NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN
HÀNH VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC ÁP
DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ LĨNH VỰC HỢP TÁC QUỐC TẾ.


Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1

Cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Cơ sở pháp lý của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được hình thành từ

nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:
− Pháp luật quốc tế ( bao gồm cả tập quán quốc tế)
− Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết
hoặc tham gia, gồm : ba công ước quốc tế của Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy,
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; chín điều ước quốc tế và khu vực
ASEAN về chống khủng bố; Công ước quốc tế về quyền trẻ em và các Nghị định thư

nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án
theo quy định của luật tố tụng hình sự. Từ hai khái niệm trên có thể kết luận rằng Hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự là sự hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các cơ quan có
thẩm quyền tương ứng của nước ngoài trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước ta kí
kết hoặc gia nhập nhằm góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích,
bảo vệ quan hệ quốc tế của Nhà nước ta, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.2.2 Đặc điểm của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm của hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự như sau:
− Thứ nhất, chủ thể của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản
1,điều Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định các Cơ quan có thẩm quyền tố
tụng bao gồm : Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và các cơ quan có thẩm quyền
tương ứng của nước ngoài. Theo các Hiệp định tương trợ tư pháp mà nước ta đã ký kết
với một số nước trên thế giới, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan chủ yếu thực


hiện, bên cạnh đó ở các nước ký Hiệp định tương trợ tư pháp với nước ta cũng có các
cơ quan tương tự, trong quá trình thực hiện tương trợ pháp lý về tố tụng hình sự, các
cơ quan này có thể liên hệ qua cơ quan trung ương hoặc có thể liên hệ trực tiếp với
nhau.
− Thứ hai, mục đích của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của các quốc gia
trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế, tội phạm có tính
quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác về nhiều mặt giữa
nước ta và các quốc gia hữu quan.
− Thứ ba, các hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự rất đa dạng như
dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự, từ chối dẫn độ, chuyển giao hồ sơ, vật chứng
của vụ án; việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật, tiền liên quan đến vụ án.

ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
− Thứ ba, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự giữa Việt
Nam và các nước trên thế giới còn góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và
khu vực của Đảng và Nhà nước ta. Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8
khóa VII của Đảng đã nêu, điều cần thiết là: "phải tiếp tục củng cố và tăng cường hoạt
động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước trong thời kỳ mới, phải mở rộng
quan hệ quốc tế về tương trợ tư pháp, về phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội".
Do đó, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, cũng giống như tương trợ giữa các quốc
gia trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật... đã và đang góp phần tích
cực vào việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước
ta hiện nay.
− Thứ tư, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự đóng góp không nhỏ
trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục công dân, nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng
lợi ích quốc gia, trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong phạm vi quốc gia
cũng như quốc tế.
Từ những phân tích trên, có thể thấy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình
sự có ý nghĩa quan trọng về chính trị xã hội cũng như pháp lý.


Nếu xét từ góc độ chính trị - xã hội, Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đã góp
phần thể chế hoá và thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, tăng
cuờng hội nhập. Hợp tác quốc tế đã được ghi nhận trong các Văn kiện của Đảng và
Nhà nước ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định:
“Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký
kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng
giềng, các nước trong khu vực... Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố”... Tiếp đó,
ngày 22/10/2010, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, trong
đó nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội

2.1.1 Lược sử quá trình hình thành và phát triển về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình
sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối
mặt với những khó khăn chồng chất cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội. Trong tình hình
đó, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương phát triển các mối quan hệ
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các nước trên thế giới. Chủ trương
này đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
pháp luật nói chung và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng. Tuy nhiên phải đến
năm 1950 trở đi thì việc hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp mới bắt đầu chính
thức được thiết lập và thực hiện trên thực tế. Một số điều ước quốc tế mà Nhà nước ta
gia nhập trong thời kỳ này chủ yếu là về việc đối xử nhân đạo với thường dân, hàng
binh, tù binh trong chiến tranh.
Tuy nhiên trong thời kỳ này, pháp luật về tương trợ tư pháp còn rất sơ khai.
Ngoài một số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đối với các vụ án có yếu
tố nước ngoài như Thông tư số 11/TATC ngày 12-07-1974 hướng dẫn một số vấn đề
nguyên tắc và thủ tục giải quyết việc ly hồn có yếu tố nước ngoài, trong đó có quy
định về ủy thác tư pháp,...thì vẫn chưa có văn bản pháp luật nào để điều chỉnh vấn đề
tương trợ pháp lý về hình sự. Đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, các cơ
quan tiến hành tố tụng nước ta chủ yếu giải quyết trên cơ sở pháp luật Việt Nam, nếu
cần thiết phải hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng của nước ngoài thì yêu cầu cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự thực hiện thông qua con đường ngoại giao.
Giữa Việt Nam và các nước chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp, do đó chưa hình


thành cơ sở pháp lý để điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình
sự.
Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975,miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước
nhà được thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước bước vào thời kỳ quá độ tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là điều kiện để quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam
với các nước được mở rộng. Trong thời kỳ này, Nhà nước ta đã ký 6 Hiệp định tương

“Đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát và
toà án có thể cho họ đặt tiền bạc, tài sản có giá trị để đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu
tập... Trong trường hợp bị can, bị cáo vắng mặt không có lí do chính đáng theo giấy
triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án thì số tiền hoặc tài sản đó sẽ bị
sung quỹ Nhà nước”.
Cho tới thời điểm này, Nhà nước ta đã kí kết hiệp định tương trợ tư pháp với hơn
20 quốc gia, trong đó có những nội dung tương trợ tư pháp về các vấn đề hình sự và
tố tụng hình sự . Các hiệp định tương trợ tư pháp nêu trên có vai trò rất quan trọng
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự có
yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, chỉ với các Hiệp định đã ký thì vẫn chưa đủ để làm căn
cứ pháp lí cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành các vụ án
hình sự liên quan đến người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài và người nước ngoài
phạm tội ở Việt Nam. Kế thừa những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện các
hiệp định tương trợ tư pháp, các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia
về lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003( sửa
đổi, bổ sung từ Bộ luật TTDS 1988) đã dành Phần thứ tám với hai chương quy định
về hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới trong
hoạt động tố tụng hình sự. Đây là lần đầu tiên pháp luật tố tụng hình sự nước ta có quy
định riêng về hợp tác quốc tế.
2.1.2 Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự là hoạt động phức tạp, lại được
tiến hành bởi nhiều cơ quan tố tụng, nhiều người khác nhau và diễn ra trong khoảng


thời gian dài ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Vì vậy, nó phải tuân theo các
nguyên tắc nhất định, vừa phải phù hợp với tập quán quốc tế nhưng không mâu thuẫn
với lợi ích của từng quốc gia khi tham gia vào quá trình hợp tác. Xuất phát từ những
đặc điểm đó, Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định các nguyên tắc
hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự như sau :
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự giữa các cơ quan có thẩm

quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và quá trình giải quyết từng
vụ án hình sự cụ thể nói riêng.
2.1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, là nền tảng quan trọng của pháp luật
quốc tế được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và được xem như là nguyên
tắc làm cơ sở cho sự hoạt động của Liên Hợp Quốc 1, ngoài ra nguyên tắc này cũng
được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ
chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương và trong nhiều
văn bản quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế.
Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý không thể tách rời của quốc gia, là vấn
đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc
tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia.
Trong quan hệ quốc tế, độc lập, chủ quyền quốc gia được coi là tối cao và bất khả
xâm phạm, điều này thể hiện ở chỗ quốc gia có quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và
đối ngoại của mình, các nước khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt và không có
một thế lực nào, cơ quan nào có quyền đứng trên quốc gia, đặt ra pháp luật buộc quốc
gia phải thực hiện. Chủ quyền quốc gia gồm hai nội dung: quyền tối cao của Nhà nước
Khoản 1 Điều 2: “Tổ chức LHQ dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành
viên”
1


ta trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của đất nước ta trong quan hệ
quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam, Nhà nước ta có quyền tối cao về lập
pháp, hành pháp và tư pháp cho nên Nhà nước ta chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên
tắc của pháp luật quốc tế, các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập, đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế phù hợp với các nguyên tắc cơ bản
của luật quốc tế hiện đại.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, các cơ quan tiến hành tố tụng của

từng điều riêng biệt. Đối với các cơ quan và người có thẩm quyền tố tụng phải thực
hiện chức năng của mình theo quy định của Hiến pháp, sử dụng đầy đủ các quyền hạn,
làm tròn các nghĩa vụ, chức năng mà Hiến pháp quy định.
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự ngoài việc phải phù hợp với Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn phải thực hiện phù hợp với
các văn bản pháp luật khác của Việt Nam ( chủ yếu là các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự như Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh điều tra hình sự, Luật tổ chức tòa
án nhân dân,...) và các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương mà Việt Nam đã
ký kết, tham gia.
Điều ước quốc tế là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu chứa đựng các
quy phạm pháp luật quốc tế. Trải qua các giai đoạn phát triển của quan hệ quốc tế, các
điều ước quốc tế đã được ký kết ngày càng nhiều nhằm điểu chỉnh các lĩnh vực của đời
sống quốc tế, trong đó có lĩnh vực hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Ngoài việc chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế còn là phương
tiện, công cụ chủ yếu để thực hiện chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia.Thông
thường các điều ước quốc tế mà mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia trong lĩnh vực
tố tụng hình sự là một số công ước và các Hiệp định tương trợ tư pháp, chẳng hạn như


− Hiệp định về chuyển giao người bị kết án ký giữa nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam và Australia2.
− Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga3.
− Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự ký giữa nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1988)4
− ...v.v...
Việc bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định hợp tác quốc tế trong hoạt động tố
tụng hình sự phải phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập đã thể hiện sự nhất quán trong đướng lối, chính sách
đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, cũng như tập quán quốc tế. Nguyên tắc này đòi

quốc tế.
− Nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia
khác, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.
− Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến
chương.
− Nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc.
− Nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền của các quốc gia. Nguyên tắc các quốc gia
thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp
quốc
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự phải phù hợp với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật quốc tế. Điều đó có nghĩa việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự phải tuân thủ các nguyên
tắc trên, không được quá nhấn mạnh hoặc bỏ qua bất cứ nguyên tắc nào.
2.1.2.4

Nguyên tắc có đi có lại

Trong quan hệ quốc tế, có đi có lại được hiểu là nước này sẽ đối xử với nước kia
tương xứng với sự đối xử của nước hữu quan đối với mình, nhằm bảo đảm sự cân bằng
và lợi ích của mỗi bên. Nguyên tắc này được áp dụng để giải quyết đối với từng vụ
việc cụ thể trong trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập các điều ước
quốc tế có liên quan. Theo điều 340 Bộ luật ttố tụng hình sự 2003 quy định thì “Trong
trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia
nhập các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố
tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật


của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc
tế”. Như vậy, trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự thì nguyên tắc có đi có lại được
đưa ra xem xét trong trường hợp quốc gia có yêu cầu hợp tác về tố tụng hình sự, nhưng

trợ tư pháp. Thực tế cho thấy, một quốc gia không thể tự mình trực tiếp tiến hành các
hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ, bắt giữ người phạm tội,..trên lãnh thổ của
quốc gia khác mà phải cần tới sự trợ giúp của quốc gia đó. Tương trợ tư pháp là hình
thức mà các nước sử dụng để trao và nhận sự giúp đỡ chính thức mang tầm quốc gia
trong tố tụng hình sự. Như vậy, có thể hiểu tương trợ tư pháp là việc các cơ quan tiến
hành tố tụng của nước này thực hiện hành vi tố tụng hay hoạt động tố tụng theo yêu
cầu của các cơ quan có thẩm quyền tố tụng tương ứng của quốc gia khác trên cơ sở
thỏa thuận.
Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các
bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên.
Đối với các quốc gia mà Nhà nước ta chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp,
chưa ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế
trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc có đi, có lại không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật cũng như tập quán quốc tế
đồng thời áp dụng các quy định của các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam và
quốc gia tương ứng kí kết hoặc gia nhập.
Nội dung của tương trợ tư pháp phụ thuộc vào yêu cầu của bên hợp tác tương
ứng trên cơ sở điều ước quốc tế ký kết hoặc gia nhập. Thực tiễn ký kết các hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước cho thấy, nội dung tương trợ tư pháp
trong tố tụng hình sự thường bao gồm :
− Tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự.
− Dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án.
− Thực hiện các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, thực hiện
khám xét, thu giữ…


− Cung cấp thông tin, tài liệu, vật chứng, kết luận giám định.
− Tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng.

Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây phương hại đến chủ quyền, an ninh
quốc gia hoặc lợi íích quan trọng khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.”6
Theo quy định trên, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước ta có thể
từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp liên quan đến tố tụng hình sự trong những
trường hợp :
− Yêu cầu không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập.
− Yêu cầu không phù hợp với pháp luật Việt Nam.
− Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây phương hại đến chủ quyền, an
ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
2.1.3.2 Dẫn độ và từ chối dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án
Dẫn độ tội phạm là một trong những vấn đề từ lâu đã thu hút được sự quan tâm,
nghiên cứu của các nhà lí luận và thực tiễn. Các quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu
về dẫn độ tội phạm và đã có những quy định về dẫn độ tội phạm từ rất sớm. Khái niệm
dẫn độ tội phạm cũng như quy định về dẫn độ tội phạm xuất hiện từ những năm cuối
thế kỉ XIX, Pháp luật Việt Nam và thực tiễn về dẫn độ tội phạm mới bắt đầu được đề
cập từ những năm 80 của thế kỉ XX, đầu tiên được thể hiện trong các hiệp định tương
trợ tư pháp về dân sự, gia đình và vấn đề hình sự mà Việt Nam kí kết với một số quốc
gia trên thế giới.
Khi bàn về dẫn độ tội phạm, trong giới nghiên cứu luật học còn tồn tại nhiều quan
niệm khác nhau:
6

Điều 342 của BLTỐ TỤNG HÌNH SỰ năm 2003.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status