PHẦN THỨ I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia súc gia cầm ở nước ta trong những năm gần đây đã có
những thay đổi đáng kể và đóng góp một phần không nhỏ trong quá trình phát
triển của ngành nông nghiệp, góp phần nâng cao cuộc sống cho người dân ở
nông thôn cũng như thành thị. Với vai trò không nhỏ đó, Đảng và nhà nước ta
tiếp tục đầu tư và ngày càng quan tâm tới ngành chăn nuôi nhất là chăn nuôi
gia cầm.
Chăn nuôi gia cầm đang không ngừng phát triển. Cơ cấu đàn gia cầm
ngày càng tăng về số lượng và sản lượng. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu
cầu của con người ngày càng tăng, ban đầu là sự thỏa mãn về số lượng sau đó
là nhu cầu về chất lượng cũng tăng theo. Nhưng sự phát triển đó cũng có hai
mặt, bởi khi chăn nuôi phát triển và theo hình thức tập trung thì dịch bệnh
cũng ngày càng gia tăng. Các bệnh truyền nhiễm thường xảy ra với tần suất
cao hơn và thường xuyên hơn như: Newcasle, Gumboro, Salmonella... trong
đó tình hình bệnh CRD ngày càng gia tăng phức tạp.
Bệnh CRD đặc biệt nguy hiểm khi xảy ra ở các giống gà gốc, gà bố
mẹ, vì nó không những làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh
khác xảy ra, giảm sản lượng trứng, giảm tỷ lệ nở và sức đề kháng của gà mới
nở mà còn có khả năng lây truyền qua trứng làm bệnh lây nhanh chóng và
không có khả năng thanh toán hay kiểm soát gây ra những thiệt hại kinh tế
đáng kể.
Bệnh CRD gây ra ở mọi lứa tuổi với triệu chứng chung ở đường hô hấp
khó thở và thở khò khè. Nhất là khi thời tiết thay đổi, dinh dưỡng kém gà có tỷ lệ
1
nhiễm cao. Trong đàn gà sinh sản bệnh thường ở thể ẩn, làm giảm sản lượng
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh CRD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm sớm được phát hiện vào
năm 1905 tại nước Anh, do Dod mô tả với tên gọi “Bệnh viêm phổi địa
phương”. Sau đó cũng tại Anh năm 1907 Graham Smith mô tả bệnh phù đầu
ở gà tây. ( Graham Smith, 1907) [16]
Tại Mỹ, năm 1926. Tyzzer mô tả bệnh viêm xoang ở gà tây và đến
năm 1938 bệnh này được Dickinson và Hinshow đặt tên là “Bệnh viêm xoang
truyền nhiễm” của gà tây.(Dickinson và Hinshow, 1926) [12]
Năm 1936, Nelson cũng mô tả và gọi là bệnh “Coryza” và gọi tên căn
bệnh là Coccobacillaris. Theo tác giả chỉ có thể nuôi cấy Coccobacillaris trong
môi trường tế bào và phôi trứng.(Nelson, 1936) [20]
Về sau, Smith (1948), Mackham và Iăng (1952) đã chứng minh và
đồng thời cũng được chính Nelson (1953) thừa nhận các thể Coccobacillaris
được tìm thấy trước kia chính là P.P.L.O, về sau được thống nhất gọi tên phổ
thông là Mycoplasma ( Freund, 1955)[13]
Năm 1952 các nhà khoa học: Markham, Wong, Olesiuk và Vanrokell
công bố việc nuôi cấy thành công vi sinh bệnh gây bệnh từ gà và gà tây bị nhiễm
CRD và đề nghị xếp Mycoplasma ở gà vào nhóm vi sinh vật gây bệnh ở phổimàng phổi ( Pleuro Pleumonia Group) và bệnh được D. G Edward, E.A Freundt
xếp vào giống Mycoplasma.(D. G Edward và E.A Freundt,1956) [13].
Năm 1954, Sernan và cộng sự phát hiện ra bệnh và gọi tên bệnh là
“Bệnh viêm túi khí truyền nhiễm”.
3
Năm 1958, Adler và cộng sự sau khi thực hiện nhiều nghiên cứu cho
thấy trong tự nhiên có nhiều chủng Mycoplasma nhưng chỉ có một chủng nhất
định mới có khả năng gây bệnh.(Adler et at, 1958) [17].
Nguyễn Vĩnh Phước (1995), của Hồ Đình Chúc (1989), của Phan Lục và cộng
sự (1995). Các tác giả đều cho rằng bệnh CRD ở Việt Nam chủ yếu là do
Mycoplasma gallisepticum gây ra.
Theo Phan Lục và cộng sự thì tất các giống gà nuôi tại các xí nghiệp
thuộc các tỉnh phía Bắc đều bị CRD với nguyên nhân chính là Mycoplasma
gallisepticum ở mức độ cao thấp khác nhau, dao động từ 0,82- 11,97% trong
đó cao nhất là giống Plymouth, thấp nhất là giống gà Leghorn…(Phan Lục và
cộng sự, 1995)[4].
Bệnh hay xảy ra cho gà đặc biệt khi mà yếu tố dinh dưỡng và điều kiện
khí hậu thất thường cùng với điều kiện vệ sinh chăm sóc kém, bệnh hay xảy ra
với tỷ lệ nhiễm cao. Tuy bệnh được biết rất sớm và có thuốc điều trị có hiệu
quả điều trị cao song bệnh vẫn xảy ra mức độ ngày càng tăng khi mà mật độ
chăn nuôi lớn. Các trung tâm thú y vùng thường xuyên định kỳ lấy mẫu ở các
trại và hộ nông dân chăn nuôi để xét nghiệm và thường có kết quả dương tính
với bệnh. Do đó, CRD vẫn còn là vấn đề nan giải gây thiệt haị kinh tế cho các
trang trại và người chăn nuôi.
2.3 Tổng quan về bệnh CRD
2.3.1. Giới thiệu bệnh CRD
Bệnh CRD (Chronic respiratory Disease), còn gọi là bệnh viêm đường
hô hấp mạn tính là bệnh truyền nhiễm của gia cầm, nhưng phổ biến hơn cả là
ở gà và gà tây. Bệnh do Mycoplasma gây ra, bệnh gây viêm thanh dịch có
fibrin có ở niêm mạc đường hô hấp trên và các túi khí. Gà có dấu hiệu chảy
nước mắt, nước mũi, khó thở, thường vươn cổ để thở và hay vẩy mỏ, sau mỗi
lần vẩy mỏ như thế nó kêu lên tiếng “khoẹt”.
Trong thiên nhiên bệnh thường tiến triển theo thể mạn tính chủ yếu là ở
gà lớn. Bệnh thường phát triển chậm, kéo dài làm cho gà chậm lớn, giảm tăng
trọng, gầy yếu, giảm tỷ lệ đẻ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho một số vi
5
Mycoplasma chưa có màng tế bào vững chắc như ở vi khuẩn, cho nên
nó dễ dàng biến đổi hình thái như: hình sợi, hình nhẫn…có thể đứng riêng lẻ
6
hay đứng thành đôi. Mycoplasma có kích thước 0,2- 0,6 nm phần lớn có dạng
cầu trực khuẩn, bắt màu gram âm và dễ bắt màu với thuốc nhuộm Giemsa.
Khi quan sát tiêu bản tổ chức học, Mycoplasma có hình hơi tròn, nằm
ngoài hoặc trong tế bào.
• Cấu tạo:
Lớp vỏ ngoài cùng của Mycoplasma chỉ là màng nguyên sinh chất,dày
75- 100A0. Trong tế bào Mycoplasma, có thể tìm thấy các hạt Riboxom có
đường kính 0,2 µm và các sợi nhẫn, các khuẩn lạc đang phát triển, khi nghiên
cứu thấy các tế bào sơ khai có hình 6 cạnh và có nguồn gốc từ những tế bào
lớn hơn.
• Tính chất nuôi cấy:
Mycoplasma được coi là vi sinh vật hiếu khí hay yếm khí tùy tiện,
phát triển tốt trong điều kiện 37-38 0C, pH 7-8, độ ẩm cao 80-90%, và có
4-5% CO2.
Ngoài ra môi trường nuôi cấy Mycoplasma cần có thành phần dinh
dưỡng cao, là môi trừờng chọn lọc (môi trường có nhiều nước chiết tim bê và
10-20% huyết thanh).
- Môi trường lỏng: Mycoplasma mọc chậm và làm môi trường vẩn đục
nhẹ, màu trắng đục hoặc đục đều..
- Môi trường đặc: Mycoplasma tạo thành những khuẩn lạc không
màu, tròn nhỏ có thể nhìn thấy bằng mắt thường hoặc dưới kính hiển vi có
độ phóng đại 30-60 lần.
- Môi trường P.P.L.O (môi trường thạch được làm giàu bằng huyết
thanh ngựa): Sau khi ria cấy, bồi dưỡng ở nhiệt độ 37 0C với độ ẩm cao trong
gallisepticum gây dung huyết một phần hồng cầu gà, gà tây, gây dung huyết
hoàn toàn hồng cầu ngựa trong môi trường thạch.
• Đặc điểm sinh sản:
Mycoplasma sinh sản tương đối ngẫu nhiên, sự sinh sản không giống
như vi khuẩn mà Mycoplasma sinh sản theo hình thức sau:
8
Từ một hồng cầu phát triển thành một hình vô quy tắc, thể này phình to
ra, bên trong xuất hiện một hạt nhuộm màu rất đậm. Hạt này phân tách thành
nhiều hạt nhỏ trong một khối. Tế bào chất có được một màng mỏng bao bọc,
về sau mỗi hạt nhỏ cùng với ít tế bào bao quanh sẽ giải phóng ra và tạo ra một
cá thể mới. Đây là hình thức phát triển ra xung quanh theo nhiều phía.
• Sức đề kháng của Mycoplasma
* Trong tự nhiên:
Mycoplasma có sức đề kháng rất yếu. Ngoài thiên nhiên, căn bệnh
chết rất nhanh. Các chất sát trùng thông thường đều dễ dàng tiêu diệt căn
bệnh. Mycoplasma sống trong phân gà 370C được 1-3 ngày, lòng đỏ trứng gà
được 18 tuần, ở 200C trong 6 tuần( theo Chavodivarmani, 1996).
Trên vỏ trứng Mycoplasma giữ được đặc tính sinh học ở nhiệt độ của
máy ấp trong 5 ngày, còn nếu ở trong lòng đỏ thì sống suốt cả quá trình ấp nói
một cách khác Mycoplasma truyền được qua phôi (Puctovar, 1978).
Theo tài liệu của Fabrican thì bệnh phẩm bảo quản ở -25 0C sau một năm
phân lập được 35% và sau 3 năm còn 13%.
Trong canh trùng ở nhiệt độ -50C thì Mycoplasma không có khả năng
gây bệnh sau 20 ngày, còn ở nhiệt độ dưới 450C thì chỉ sau 1 giờ.
*Sự mẫn cảm với kháng sinh
Mycoplasma rất mẫn cảm với một số loại kháng sinh như: nhóm
Tetracylin, nhóm Furan, Tylosin, Tiamulin, trong đó Tylosin có tác dụng rất tốt.
Trong thiên nhiên: gà, gà tây, gà sao dễ mắc bệnh. Bồ câu, vịt, ngan,
ngỗng, ít cảm thụ.
Năm 1978, Tion phân lập được mầm bệnh từ chim cút Nhật
Năm 1982, Davison và cộng sự đã phân lập được mầm bệnh từ gà tây
* Lứa tuổi và mùa vụ mắc bệnh
Gà mắc bệnh ở mọi lứa tuổi trong đó tỷ lệ mắc bệnh tập trung ở: 4- 8
tuần tuổi; Gà đẻ bói; Gà đẻ khi tỷ lệ đẻ cao nhất. Gà lớn, gà đẻ tỷ lệ mắc bệnh
cao hơn gà con.
Nước ta khí hậu nóng ẩm về mùa hè và gió lạnh về mùa đông là điều
kiện thuận lợi để cho bệnh phát triển, đặc biệt là những trang trại chăn nuôi
theo hướng công nghiệp có số lượng lớn và mật độ cao. Mùa vụ cũng ảnh
10
hưởng không nhỏ tới sự phát bệnh, bệnh thường xảy ra quanh năm nhưng tập
trung chủ yếu vào các tháng 3, 4 , làm giảm sức đề kháng của gà bệnh, bệnh
có chiều hướng giảm dần vào tháng 6-7 (theo Đào Trọng Đạt, 1975)[1] và
Nguyễn Vĩnh Phước, (1985).
* Phương thức truyền lây và chất chứa mầm bệnh.
Trong thiên nhiên, nguồn bệnh chủ yếu là gà bệnh, gà đang nung bệnh,
gà có bệnh ẩn tính và gà mang trùng. Đường lây bệnh chủ yếu là đường hô
hấp (G.A Grosea, 1982). Ở gà bệnh, căn bệnh có nhiều trong nước mắt, mũi,
miệng. Khi hắt hơi căn bệnh bắn vào không khí, gà lành hít phải sẽ mắc bệnh.
Vì thế bệnh lây lan trực tiếp theo đường không khí. Do căn bệnh có sức đề
kháng rất yếu nên đồ vật nhiễm trùng ít có ý nghĩa truyền lây. Nhưng trứng đẻ
ra từ đàn gà bệnh có ý nghĩa dịch tễ quan trọng vì căn bệnh có khả năng
truyền qua phôi trứng. Gà con nở ra từ trứng bệnh sẽ phát bệnh và lây lan. Gà
trống bị bệnh cũng có khả năng truyền bệnh cho gà mái.
Như vậy, ngoài đường hô hấp, đường sinh dục cũng là cửa ngõ truyền
nung bệnh thường từ 6-21 ngày trong thực nghiệm. Nhưng thực tế rất khó xác
định lúc nào vật tiếp xúc với mầm bệnh do các yếu tố ảnh hưởng đến sự khởi
phát của bệnh, cũng như mức độ lâm sàng.
*Ở gà con
Nếu trứng ấp mang mầm bệnh gà con nở ra từ 1-10 ngày tuổi đã có biểu
hiện lâm sàng.
Nếu bệnh xảy ra trong giai đoạn 3-8 tuần tuổi thì đó là bệnh do sơ
nhiễm.
Gà bị bệnh đầu tiên chảy nước mắt, nước mũi. Nước mũi lúc đầu loãng
sau đó đặc dần, màu trắng sữa bám đầy khóe mũi làm cho gà phải há miệng để
thở. Nước mắt quánh dần lại sau đó biến thành fibrin đóng kín mắt. Fibrin tích
tụ ngày càng nhiều tạo thành những khối tia bằng hạt ngô, hạt lạc nổi lồi trên
tròng mắt. Đôi khi giác mạc bị viêm loét viêm mủ toàn mắt, lòng mắt đặc lại,
con vật bị mù. Trong khi đó có hiện tượng viêm lan từ mũi ra các xoang xung
quanh,vách các xoang, đặc biệt là xoang dưới mắt viêm sưng. Mặt gà bị biến
12
dạng nên đầu gà giống như đầu chim cú đặc biệt là ở gà tây. Các xoang lúc
đầu chứa thanh dịch loãng sau đó biến thành fibrin đặc.
Gà có hiện tượng rất khó thở nên thường xuyên phải há miệng để thở.
Gà thường xuyên lắc vẩy mỏ, lúc vẩy mỏ xong thì liền theo đó là tiếng
“khoẹt” một lúc sau lại lặp lại như thế. Tiếng “khoẹt” rất rõ, nhiều khi về đêm
và sáng sớm. Có con có triệu chứng đi lệch khớp.
Gà ăn ít nên tăng trọng giảm rõ rệt lông gà xơ xác, đàn gà có nhiều con
bị còi cọc. Phân của gà có màu xanh loãng hơi nhớt hoặc màu xanh trắng.
Ở gà con tỷ lệ chết cao hơn ở gà lớn. Có khi chết mà chưa có bệnh tích
đặc trưng. Bệnh tích kéo dài 10 ngày tỷ lệ chết thấp khoảng 5- 12%, có khi
20- 50% (Nguyễn Thị Hương, Lê Văn Năm, (1997)).
Trong trường hợp điển hình, có hiện tượng viêm ngoại tâm mạc,
viêm quanh gan, mặt ngoài gan có viêm tơ huyết mủ, viêm màng bụng (La
Thanh Sinh, 1963).
Gà con bị viêm ngoại tâm mạc, viêm quanh gan và viêm phúc mạc.
Lách có thể hơi bị sưng.
Gà mái: Viêm buồng trứng và ống dẫn trứng
Gà trống: viêm tinh hoàn, viêm khớp.
* Bệnh tích vi thể:
Khi quan sát bệnh tích vi thể, theo Johnson J.L (1973) cho rằng các tổn
thương do M. gallisepticum gây ra các đặc trưng ở khí quản và phổi.
Chẩn đoán mô bệnh học thấy tăng sinh tế bào biểu mô, thẩm thấu tế bào
ở niêm mạc khoang mũi, hốc mắt, phế quản và thanh quản, xuất hiện các hạt
chứa các tế bào khổng lồ, tạo các vùng hoại tử, tạo hang. Trong mô phổi có
hiện tượng tăng sinh các mô dạng nang, ngoài ra còn quan sát tổn thương u
hạt chiếm 22% trong trường hợp ở bệnh tự nhiên (Subin V.A, 1978).
Theo nghiên cứu của Vanroekel và cộng sự (1957) các tổ chức niêm mạc
dày lên do hiện tượng thâm nhiễm của tế bào đơn nhân và sự tăng sinh của tuyến
14
nhày. Trong lớp hạ niêm mạc có sự tăng sinh của các tổ chức lâm ba. (Vanroekel
et at, 1957) [22].
Kiểm tra tổ chức học thấy niêm mạc viêm thâm nhiễm tế bào lympho
và tổ chức bào; túi hơi và bao tim viêm hạt ; phổi viêm tích tụ lympho bào.
Ở bào thai chết, màng thai dày và khô lại, dính vào bào thai và có thể bị
xuất huyết lấm chấm. Bào thai phát triển kém, thận nát , gan sưng ,khí quản và
phổi tích tụ fibrin đã bị bã đậu hóa, thành túi hơi dày ra. Đôi khi thấy khớp
xương bị sưng, tổ chức liên kết dưới da và các cơ quan thực thể bị xuất huyết ,
phụ tạng hoại tử lấm chấm.
Nhưng khi dùng kháng sinh như Tiamulin, Tylosin…điều trị thì không thấy
khỏi, nhưng nếu sử dụng loại kháng sinh này trong điều trị bệnh CRD thì
mang lại hiệu quả điều trị.
- Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm- ILT: do virus thuộc nhóm
Herpes gây viêm đường hô hấp chủ yếu là khí quản và thanh quản, làm cho gà
khớ thở, thở khò khè rồi chết. Triệu chứng ho, hen rất nặng có khi gà bị ngạt
từng cơn. Trong khi ngạt mào tím bầm lại, miệng há to và có tiếng rít rất
mạnh. Nếu nặng cuối cơn rít gà thừờng khạc ra khối đờm có lẫn máu. Khi
xách chân gà dốc ngược xuống đất, gà bị chết ngay do bị ngạt thở.
Bệnh viêm thanh khí quản chỉ xảy ra khi gà trên 5 tháng tuổi. Gà đẻ
cũng tụt sản lượng trứng cao 30-40% so với lúc chưa phát bệnh. Do đó, bệnh
rất khó chẩn đoán và rất dễ nhầm với bệnh CRD ở thể nhẹ. Khi điều trị bằng
các loại kháng sinh như Tiamulin, tylosin,..cũng không khỏi.
- Bệnh nấm phổi Askergillosisi: Cũng gây cho gà triệu chứng khó thở
chủ yếu ở gà con, gà lớn và gà trưởng thành ít khi mắc. Nhưng bệnh này thường
xảy ra với gà dưới 2 tháng tuổi còn CRD xảy ra ở mọi lứa tuổi gà. Tỷ lệ chết cao
có khi đến 90%. Ở nấm phổi, phổi gà bệnh thường có các u nấm màu vàng xám
to nhỏ không đều nhau. Kiểm tra trên kính hiển vi dễ dàng phát hiện được sợi
nấm.
16
- Bệnh thiếu Vitamin A: Trong trường hợp bệnh nhẹ chỉ có thể bằng
phương pháp phân tích hàm lượng Vitamin A mới xác định được bệnh. Gà
cũng có hiện tượng chảy nước mắt, nước mũi do niêm mạc cơ quan hô hấp và
mắt bị tổn thương, đôi khi còn xuất hiện triệu chứng thần kinh. Bệnh phát
triển chậm và không lây lan.
• Chẩn đoán vi khuẩn học:
Do Mycoplasma thường là bệnh kế phát nên việc phân lập đựợc căn
nghi mắc bệnh hay với lòng đỏ trứng. Kháng thể có trong máu từ 2 – 6 tuần sau
khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên và biến mất từ 2 – 12 tuần sau khi gà khỏi bệnh.
Kháng nguyên dùng trong phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính có thể
sử dụng trong phản ứng ngưng kết chậm trong ống nghiệm, nhưng cần phải pha
thêm acid foric 0,2%, pha loãng 1/20 với dung dịch đệm (pH= 7, Phenol 0,25).
Cách làm: lấy 0,08ml huyết thanh cho vào 1ml kháng nguyên để tủ ấm
370C và đọc kết quả.
Kết quả: Huyết thanh và kháng nguyên có ngưng kết thành từng đám ở
đáy ống nghiệm thì là phản ứng dương tính.
- Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà: Mycoplasma gallisepticum
có đặc tính ngưng kết hồng cầu gà nên sau khi phân lập được căn bệnh có thể
kiểm tra tính chất này. Kháng nguyên là canh trùng phân lập 48- 72 giờ, hồng
cầu gà 0,5 - 1%. Phản ứng dương tính khi kháng nguyên có độ pha loãng từ
1/8 trở lên có ngưng kết, tức là huyết thanh của gà có kháng thể
Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu thực hiện bằng kháng nguyên
Mycoplasma gallisepticum có sẵn trong phòng thí nghiệm, kháng thể là kháng
huyết thanh gà nghi bệnh.
- Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch: Với kháng nguyên dùng là các
chủng Mycoplasma có sẵn trong phòng thí nghiệm : Mycoplasma
gallisepticum, Mycoplasma gallinarum, Mycoplasma synoviae…Nếu dùng
các chủng chúng ta có thể định được thành phần kháng nguyên của căn
nguyên thể hiện qua kháng thể của huyết thanh gà nghi mắc bệnh.
Kháng thể chuẩn: là kháng thể tương ứng với kháng nguyên chuẩn
18
Kháng thể nghi: Lấy 1ml máu ở tĩnh mạch cánh gà nghi mắc bệnh sau
đó chắt lấy huyết thanh.
Thạch: yêu cầu thạch phải trong và đảm bảo vô trùng
trong trường hợp nhiễm nhẹ nhưng phải được kiểm tra chặt chẽ và sử dụng
Tylosin trong phòng bệnh.
* Phòng bệnh bằng kháng sinh:
Trong thực tế sản xuất có nhiếu cơ sở sử dụng kháng sinh trong công
tác phòng bệnh CRD như Tiamulin, Tylosin…Như ta đã nêu ở trên bệnh CRD
là bệnh kế phát của một số bệnh nên muốn hiệu quả phòng bệnh cao người ta
thường phối hợp các loại kháng sinh với nhau như: Gentamycin, Kanamycin,
…
Do căn bệnh có thể truyền qua trứng nên người ta đã sử dụng một số
kháng sinh để sát trùng trứng trước khi đưa vào ấp và đã đặt được kết quả tốt
trong việc khống chế lây lan mầm bệnh qua trứng ấp, tuy nhiên nó vẫn không
tiêu diệt được hoàn toàn mầm bệnh trong trứng.
Năm 1963, Faricant đã làm thí nghiệm nhúng trứng đang ấp trong
37,80C vào nước lạnh 1,7- 4,4 0C có pha Tylosin hoặc Erythromycin nồng độ
400- 1000ppm trong 15- 20 phút, để đưa kháng sinh vào trứng đang âp nhằm
chống lại sự lây lan mầm bệnh qua trứng. Về sau biện pháp này được thay
bằng hệ thống áp suất. Nhìn chung phương pháp này đã làm giảm sự lây
truyền của mầm bệnh qua trứng, nhưng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở, đôi
khi còn làm trứng bị nhiễm khuẩn.(Faricant, 1963) [14].
Ở Hà Lan, Mỹ và một số nước khác người ta nhúng trứng vào dung
dịch Tylosin để xử lý trước khi đưa vào máy ấp. Có thể xử lý trứng bằng hai
phương pháp sau:
- Dựa vào sự chênh lệch về áp suất: Trứng được nhúng trong một thùng
kín có chứa Tylosin và thùng chứa này được nối liền với máy hút chân không.
Người ta điều chỉnh áp suất trong phòng theo ý muốn để tạo điều kiện cho
kháng sinh nhanh chóng thâm nhập vào trứng.
20
Thực tế dùng vacxin để phòng bệnh nhưng hiệu quả không cao. Nên khi
điều trị khỏi triệu chứng lâm sàng vẫn phải tiếp tục phòng bệnh bằng kháng
sinh. Phòng bệnh phải tiến hành theo phương pháp tổng hợp.
Hiện nay trên thị trường cũng có nhiều hãng sản xuất vacxin phòng
bệnh CRD:
Vacxin vô hoạt được chế từ Mycoplasma gallisepticum do công ty
VINELAND của Mỹ sản xuất có quy trình phòng bệnh như sau:
- Lần 1: Vào lúc 3 tuần tuổi tiêm dưới da hay bắp liều 0,5ml/ con.
- Lần 2: Trước khi đẻ 2 – 4 tuần liều 0,5ml/ con. Khi tiêm cho gà đẻ
kháng thể truyền vào lòng đỏ của trứng nên phòng được bệnh cho gà con
trong vòng 2 – 3 tuần tuổi.
Nobivac – Mg của Hà Lan, là vacxin tiêm dưới da 0.5ml /con lúc 2 – 3
tuần tuổi có thể tiêm nhắc lại lúc 3 – 4 tuần tuổi.
Nobivac – M6 của Hà Lan, là vacxin vô hoạt dùng tiêm bắp hay dưới da
cho gà hậu bị (18 – 22) tuần tuổi và gà đẻ mỗi con 0.5ml /con.
Talovac 104 của Đức là vaxin nhược độc tiêm dưới da cho mỗi con
0.5ml từ 6 -8 tuần tuổi và tiêm nhắc lại lúc gà 16 – 20 tuần tuổi.
• Điều trị bệnh
Trong đàn gà mắc bệnh, trước hết cần loại thải ngay những con mắc
bệnh nặng và tìm hiểu căn nguyên làm bệnh kế phát rồi mới điều trị. Một khi
chưa tìm ra nguyên nhân thì kết quả điều trị không mang lại kết quả tốt.
Khi gà mắc bệnh thường sử dụng một số loại chế phẩm: Tylosin ,
Tamulin, Baytril... để điều trị theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Bổ sung các
loại thuốc bổ, thuốc tăng sức đề kháng: PolyvitaminB, điện giải , đường
Glucoza.
Ngoài ra bệnh CRD còn là bệnh “ môi trường “ nên xử lý môi trường tốt
cũng là giải pháp quan trọng trong điều trị bệnh.
23
+ Tính thường xuyên của bệnh: thời điểm phát bệnh, tần số mắc bệnh,
mùa vụ……..
+Xu thế bệnh: so sánh tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong ở các cơ sở từ
đó đánh giá xu thế
3.4.2 Phương pháp định lượng các chỉ tiêu dịch tễ
- Tỷ lệ mắc bệnh của tổng đàn
Số gà mắc bệnh trong 1 thời kỳ x 100%
Tổng đàn trong 1 thời kỳ
Thời kỳ có thể 1 tháng, 2 tháng, hoặc 1 năm….
Tỷ lệ mắc ( % ) =
- Tỷ lệ mắc bệnh đặc hiệu
Tỷ lệ ( % ) =
Số mắc bênh trong 1 thời kỳ x 100%
Tổng đàn
- Tỷ lệ nhiễm
Tỷ lệ nhiễm ( % ) =
Tổng số mẫu dương tính
Tổng số mẫu kiểm tra
x 100%
3.4.3. Theo dõi, quan sát triệu chứng, bệnh tích lâm sàng.
Quan sát triệu chứng những con có biểu hiện của bệnh. Sau đó chọn
- Phản ứng âm tính: hỗn dịch đục đều, huyết thanh và kháng nguyên
chuẩn hòa đều với nhau.
- Nguyên liệu
* Hóa chất:
- Kháng nguyên chuẩn Mycoplasma gallisepticum mua tại Hàn quốc và
huyết thanh nghi từ đàn gà công nghiệp theo dõi bệnh.
- Hóa chất sử dụng trong vệ sinh tiêu độc chuồng trại: Benkocid, vôi tôi
40%, formol 2%
- Dụng cụ: kim tiêm lấy máu không rỉ, phiến kinh trong, vô trùng, ống
nghiệm...
3.4.5 .Xác định mối tương quan giữa yếu tố khí hậu và tỷ lệ gà chết do CRD
- Xác định các yếu tố nguy cơ
+ Phương thức nuôi : chăn thả, nhốt
+ Quy mô chăn nuôi
+ Chuồng trại
+ Thức ăn
25