Khả năng sinh trưởng sinh sản gà mái borkov, VCN g15 và gà lai f1 (borkov x VCN g15) nuôi tại trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi viện chăn nuôi - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
---------

--------

BÙI TRỌNG DIỄN

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, SINH SẢN GÀ MÁI BORKOV, VCNG15 VÀ GÀ LAI F1 (BORKOV x VCN-G15) NUÔI TẠI TRUNG TÂM
THỰC NGHIỆM VÀ BẢO TỒN VẬT NUÔI – VIỆN CHĂN NUÔI

Chuyên ngành

: Chăn nuôi ñộng vật nông nghiệp

Mã số

: 60.62.01.05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ðinh Văn Chỉnh
TS. Phạm Công Thiếu

HÀ NỘI, 2013


LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng như sự hợp tác
tập thể trong và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chưa ñược công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều
ñược ghi rõ nguồn gốc.

học tập và bảo vệ luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả bạn bè, ñồng nghiệp và
gia ñình ñã quan tâm và ñộng viên tôi hoàn thành luận văn khoa học này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn

Bùi Trọng Diễn

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

ii


MỤC LỤC

Lời cam ñoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

v


2

1.3.1

Ý nghĩa khoa học

2

1.3.2

Ý nghĩa thực tiễn

3

1.4

Những ñóng góp mới của luận văn

3

2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

2.1

Cơ sở khoa học của ñề tài

Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

30

1.2.1

Một số kết quả chọn lọc và lai tạo gia cầm trên thế giới

30

1.2.2

Một số kết quả lai tạo và chọn lọc gia cầm trong nước

32

3

ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

36

3.1

ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

36

3.1.1



36

3.3.1

Phương pháp bố trí thí nghiệm và chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng

36

3.3.2

Phương pháp xác ñịnh các chỉ tiêu nghiên cứu

38

3.4

Phương pháp xử lýý số liệu ý

42

4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

43

4.1

Một số ñặc ñiểm ngoại hình của các giống, tổ hợp lai gà


48

4.2.3

Tỷ lệ nuôi sống của gà mái giai ñoạn sinh sản 20-71 tuần tuổi (%)

49

4.3

Khối lượng cơ thể

50

4.3.1

Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà con

50

4.3.2

Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà hậu bị

51

4.4

Lượng thức ăn thu nhận

KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ

67

5.1

Kết luận

67

5.2

ðề nghị

68

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

69

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CS

Cộng sự


Khối lượng

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn

TB

Trung bình

SS

Sơ sinh

XP

Xuất phát

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

v


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Tên bảng


47

4.3

Tỷ lệ nuôi sốngcủa gà mái giai ñoạn hậu bị 10-19 tuần tuổi

48

4.4

Tỷ lệ nuôi sống giai ñoạn sinh sản 20-71 tuần tuổi

49

4.5

Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà con 1- 9 tuần tuổi (g/con)

50

4.6

Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn hậu bị 10 – 19 tuần tuổi
(g/con)

51

4.7

Lượng thức ăn thu nhận

vi


DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

STT

Tên các hình

Trang

4.1

Khối lượng cơ thể mái Borkov, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi

52

4.2

Tỷ lệ ñẻ của gà mái Bor, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi

59

4.3

Năng suất trứng của gà mái Bor, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi

59

4.4

VNC-G15 ñưa vào danh mục giống vật nuôi ñược phép sản xuất kinh doanh tại
thông tư 33/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 06 năm 2010 của Bộ Nông
Nghiệp và PTNT.
Gà Bor là giống gà kiêm dụng trứng-thịt, có năng suất trứng tính ñến 72 tuần
tuổi 180-210 quả/mái, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 2,23kg. Trứng gà Bor có màu phớt
hồng giống trứng gà ta, ñộ ñậm màu lòng ñỏ là 10,5, tỷ lệ lòng ñỏ 29,13-29,22%,
khối lượng trứng 52,32g. ðây là giống gà có chất lượng trứng-thị thơm ngon phù
hợp thị hiếu người tiêu dùng nước ta cần ñược bảo tồn nguồn gen.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

1


Gà VCN-G15 là giống gốc của Viện Chăn nuôi có năng suất trứng tính ñến
72 tuần tuổi 240-250 quả/mái, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 1,7 kg. Trứng gà VCNG15 có màu trắng, khối lượng lớn 59,5g, nhiều lòng trắng, tỷ lệ lòng ñỏ 26,53%.
ðây là giống gà có tiềm năng di truyền rất lớn cần ñược bảo tồn nguồn gen.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất cần trứng gà có khối lượng vừa
phải, chất lượng ngon, màu lòng ñỏ sẫm, màu vỏ trứng trắng hoặc phớt hồng
giống trứng gà ta,chúng tôi chọn hai ñối tượng trên làm nguyên liệu lai tạo ra
sản phẩm mới có năng suất, chất lượng cao.
1.2. Mục tiêu của ñề tài
-Mục tiêu chung: Lựa chọn ra giống gà và con lai có năng suất, chất lượng
cao phù hợp thị hiếu người tiêu dùng
-Mục tiêu cụ thể
+ Xác ñịnh ñược một ñặc ñiểm ngoại hình của gà Borkov, VCN-G15 và
mái lai F1 (♂ Borkov x ♀ VCN-G15
- Xác ñịnh ñược khả năng sinh trưởng của gà Borkov, VCN-G15 và mái lai
F1 (♂ Borkov x ♀ VCN-G15)
- Xác ñịnh ñược khả năng sinh sản của gà Borkov, VCN-G15 và mái lai F1
(♂ Borkov x ♀ VCN-G15)

phẩm an toàn cho tiêu dùng của xã hội.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

3


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của ñề tài
Các tính trạng sản xuất của gia cầm nói chung và của gà nói riêng ñều là
các tính trạng số lượng. Vì vậy, nghiên cứu chọn lọc và lai tạo các giống mới ñạt
kết quả theo mong muốn phải xuất phát từ nghiên cứu các tính trạng số lượng và
bản chất di truyền các tính trạng số lượng. Các giống gia cầm của Việt Nam
ñược khai thác, tìm kiếm và phát hiện là giống bản ñịa và nhập nội (Võ Văn Sự,
2004) thì ña số giống gia cầm nhập nội là các giống ñã ñược chọn lọc, lai tạo
mới ñưa ra sản xuất. Do ñó, việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo , chọn tạo các con
giống mới ñạt kết quả như mong muốn cần phải xuất phát từ việc nghiên cứu
các tính trạng sản xuất của vật nuôi.
2.1.1. Tính trạng năng suất của gia cầm
2.1.1.1. Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm ñược
nuôi dưỡng trong ñiều kiện cụ thể , thực chất là nghiên cứu các ñặc ñiểm di
truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác ñộng môi trường lên các tính trạng
ñó. Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản,
tốc ñộ mọc lông ñều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của tính trạng số
lượng ñều do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy ñịnh. Nguyễn Ân và cs (1983)
cho rằng các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính
trạng ño lường ñược (metvic character) vì khi nghiên cứu chúng phụ thuộc vào
giá trị ño lường ví dụ như mức ñộ tăng trọng khối lượng cơ thể, kích thước các
chiều ño cơ thể, khối lượng trứng v.v…Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị

G=A+D+I
Trong ñó: G: Giá trị kiểu gen (Genotype value)
A: Giá trị cộng gộp (Additive value)
D: Sai lệch do tác ñộng trội, lặn (Dominance deviation)
I: Sai lệch do tương tác giữa các gen (Interaction deviation)
Giá trị cộng gộp hay giá trị giống là tổng các hiệu ứng của các gen có
trong các lô cút, là các giá trị thông thường có thể tính toán ñược, có ý nghĩa
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

5


trong chọn lọc nhân thuần.
Sai lệch trội lặn: là sai lệch ñược sản sinh ra do tác ñộng qua lại giữa các
gen cùng alen ở trong cùng một lô cút, ñặc biệt là các gen dị hợp tử.
Sai lệch tương tác giữa các gen (sai lệch át gen): Khi kiểu gen do từ hai lô
cút trở lên cấu tạo thành lúc ñó giá trị kiểu gen có thêm một sai lệch do tương
tác của các gen không cùng một lô cút, sai lệch này thường thấy trong di truyền
học số lượng hơn là trong di truyền học Mendel.
Sai lệch do tác ñộng trội lặn và sai lệch do tương tác giữa các gen là
những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống ñặc biệt (special breeding
value) có ý nghĩa ñặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng, giá trị
kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và tác ñộng của môi trường
quy ñịnh, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu
ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành. ðó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của
từng gen thì rất nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng
nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ Nguyễn Văn Thiện (1995) .
Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng ngoài kiểu gen,
còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố của môi trường ngoại cảnh và ñược
chia làm hai loại sai lệch do môi trường là Eg và Es. Tuy các ñiều kiện bên

huy tốt ñược hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống, ñiều kiện chăn nuôi
như chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý... Theo Dicker Son (1952) nhấn
mạnh rằng tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường là rất quan trọng ñối với
ngành chăn nuôi gia cầm. Do ñó, chọn lọc nâng cao năng suất một tính trạng nào
ñó hoặc lai tạo ra một giống mới, nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng là
vấn ñề hết sức cần thiết.
2.1.1.2. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống bao gồm sự chống ñỡ một số nguyên nhân gây chết. Sức sống
cao hay thấp của gia cầm ngoài phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống còn
phụ thuộc rất lớn vào sự cảm nhiễm bệnh, sức chống ñỡ với môi trường. Sức
sống của gia cầm ñược tính bằng tỷ lệ nuôi sống của gia cầm tính bằng phần
trăm của số con ñầu kỳ so với cuối kỳ trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, sự
suy giảm sức sống ñược thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai ñoạn sinh trưởng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

7


Brandsch Buelchel (1978). Khavecman (1972) cho biết cận huyết làm giảm tỷ
lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống. Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống
bằng các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, vệ sinh phòng bệnh kịp thời. Các
giống vật nuôi nhiệt ñới có khả năng chống các bệnh truyền nhiễm và kí sinh
trùng cao hơn các vật nuôi ôn ñới.
Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống của gà còn phụ thuộc vào sức sống của ñàn bố
mẹ, tỷ lệ nuôi sống của gà con sẽ cao hơn so với gà mái ñẻ. ðối với cơ thể sinh
vật, những biểu hiện sinh lý trong phản ứng stress là tác ñộng tương quan giữa
gen và môi trường, trong ñó chịu ảnh hưởng của các quy luật di truyền ña gen,
trội, lặn, giới tính...
Stress miễn kháng là phản ứng của cơ thể sinh vật ñối với bất cứ các tác
ñộng nào của môi trường ñể tự bảo vệ và bảo tồn tại, cho nên mọi biện pháp ñể

càng tốt hơn của nó. ðiều ñó cũng thể hiện qua các phương thức nuôi nhốt hay
chăn thả, theo cách làm sạch môi trường chuồng trại và xung quanh, tuân thủ
các nội quy ñảm bảo an toàn dịch bệnh khi nhập, khi nuôi cũng như khi xuất
bán. ðiều ñó là các biện pháp cần thiết hỗ trợ thêm tính miễn kháng cho con vật,
ngăn ngừa và hạn chế những stress mang hậu quả có hại cho con vật và cho chất
lượng sản phẩm, tạo thêm ñược ñiều kiện ñể tăng cường ñộ miễn kháng (
Khavecman, 1972 ).
2.1.1.3. Khả năng sinh sản của gà
a. Cơ sở khoa học của năng suất trứng
Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói
riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ ñược bao bọc bởi lòng ñỏ, lòng trắng,
màng vỏ và vỏ. Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các thành
phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo thành. Nhiều tài
liệu nghiên cứu ( Vương ðống, 1968 ); M.V. OrLov (1974); Perdric (1969).
Card L.E và Nesheim (1970) ñã khẳng ñịnh ở gà mái, trong quá trình phát triển
phôi 2 bên phải, trái của gà mái ñều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng
trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái. Một số tác giả còn cho
rằng: trường hợp cá biệt thấy ở gà mái ñẻ cao sản có buồng trứng ở cả hai bên
ñều phát triển.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

9


Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau. Pearl và
Schoppe (1921) ñếm ñược 1906 trứng bằng mắt thường và 12000 trứng bằng
kính hiển vi. Theo Jull (1939 – 1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ ñẻ trứng
có thể ñếm ñược 3600 trứng, trong khi ñó Hutt (1978) ñã ñếm và cho biết số
lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào ( dẫn theo Lê
Thị Nga, 2005). Còn Frege (1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt ñầu ñẻ là 900

và rơi vào ống dẫn trứng.
Khi tế bào trứng chín, rụng, trứng rơi vào phễu và ñược ñẩy xuống ống
dẫn trứng, ñây là một ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên
thành ống có lớp màng nhầy lót bên trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm
mao rung ñộng. Ống dẫn trứng có nhiều phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng
trắng, phần eo, tử cung và âm ñạo. Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng ñặc,
loãng, màng vỏ, vỏ trứng và lớp keo mỡ bao bọc bên ngoài quả trứng. Thời gian
trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24 giờ. Khi trứng rụng và qua các phần
của ống dẫn trứng tới tử cung, ñầu nhọn quả trứng bao giờ cũng ñi trước nhưng
khi nằm trong tử cung quả trứng ñược xoay một góc 1800, do vậy trong ñiều
kiện bình thường gà ñẻ ñầu tù của quả trứng ra trước.
Theo các tác giả Per dixJ (1969), Vương ðống (1968), Card và
Nersheim (1977) tỷ lệ các phần so với khối lượng quả trứng thì vỏ chiếm 10 –
11,6%, lòng trắng 57 – 60%, lòng ñỏ 30 – 32%. Thành phần hóa học của
trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 – 74,4%, protein 12,5 – 13%, lipid 11 –
12%, khoáng 0,8 – 1,0%.
b. Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình ñể tạo ra thế hệ sau,sự phát triển hay hủy diệt
của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khă năng sinh sản của loài ñó.
Khả năng sinh sản của gia cầm ñược thể hiện qua các chỉ tiêu là: tuổi ñẻ
trứng ñầu, tuổi thành thục sinh dục, tỷ lệ ñẻ, sản lượng trứng tỷ lệ trứng có phôi ,
khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở ... ðối với
các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản cũng rất khác nhau. Bởi vậy,
các nhà nhà khoa học trên thế giới ñã tập trung nghiên cứu cơ sở di truyền sức
ñẻ trứng của gia cầm và cho rằng việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

11



12


dưỡng, các yếu tố môi trường. ðặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc ñẩy gia
cầm thành thục sinh dục, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc ñẩy gia cầm ñẻ sớm
(Khavecman, 1972).
Dickerson (1952) ñã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng
cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 ñến
-0,16). Còn Nicola và cộng sự tính hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành
thục với sản lượng trứng là 0.11 (dẫn theo Trần Long, 1994).
d. Năng suất trứng và tỷ lệ ñẻ
Năng suất trứng là số lượng trứng ñẻ ra của một gia cầm mái trong một
ñơn vị thời gian. ðối với gia cầm ñẻ trứng thì ñây là chỉ tiêu năng suất quan
trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt ñộng của hệ sinh
dục. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào ñiều
kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa
vụ, ñiều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và ñặc ñiểm của cá thể.
Hutt (1978) ñã ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng
ñầu tiên, còn theo Brandsch và Buelchel (1978) cho rằng sản lượng trứng ñược
tính ñến 500 ngày tuổi, cũng theo tác giả trên thì sản lượng trứng còn ñược tính
theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi ñẻ quả trứng ñầu tiên. Trong thời gian
gần ñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi. Các hãng gia cẩm nổi tiếng
trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (ðức)..., sản lượng trứng ñược tính
phổ biến nhất ñến 70 và 80 tuần tuổi.
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt
chẽ với tốc ñộ sinh trưởng sớm, do ñó trong chăn nuôi gà sinh sản người ta
thường quan tâm ñến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai ñoạn gà dò – hậu bị
ñể ñảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai ñoạn ñẻ trứng. Theo Bùi Thị
Oanh (1996) thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng
thức ăn, ñặc biệt là mức năng lượng trao ñổi, hàm lượng protein và các acid

lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của ñàn bố mẹ. Khi cho
lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của
con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman,
1972).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

14


Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể ñạt
ñược mục ñích nhanh chóng thông qua con ñường chọn lọc (Kushner, 1974).
Ngoài các yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
ngoại cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm. Khối lượng trứng
mang tính ñặc trưng của từng loài và tính di truyền cao. Hệ số di truyền của tính
trạng này là 0,48 – 0,8 (Brandsch và Buelchel, 1978). Theo Nguyễn Văn Thiện
(1995) hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 0,6 – 0,74.
Kết quả nghiên cứu của Pingel (1986), Lê Hồng Mận và cộng sự (1996),
Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) cho biết khối lượng trứng có tương
quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ

-

0,33 ñến -0,36, nhưng giữa khối lượng trứng và khối lượng cơ thể có tương
quan dương (r = 0,31).
g. Chất lượng trứng
Trứng gia cầm gồm 3 phần cơ bản ñó là: vỏ trứng, lòng ñỏ và lòng trắng.
Theo Vương ðống (1968) tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm
10 – 11,6%; lòng trắng 57 – 60%; lòng ñỏ 30 – 32%. Thành phần hóa học của
trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 – 74,4%; proteni 12,5 – 13%; mỡ 11 – 12%;
khoáng 0,8 – 1,0 %.

- ðộ dày và ñộ bền vỏ trứng: ñộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của vỏ trứng
là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñối với gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả
ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, ñiều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng và nhiệt ñộ chuồng nuôi, tuổi gà hay stress ñều làm giảm ñộ dày và
sức bền vỏ trứng.
ðộ dày vỏ trứng ñược xác ñịnh bằng thước ño ñộ dày khi ñã bóc lớp
màng vỏ day trắng, ở gà ñộ dày này bằng 0,32mm, Auaas và Wilke (1978) thì
cho rằng ñộ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và dao ñộng trong
khoảng giới hạn ñó (dẫn theo Nguyễn Qúy Khiêm, 2003). Hệ số di truyền ñộ
dày vỏ trứng theo Marco (1982) là 0,3 – 0,6; theo Nguyễn Văn Thiện (1995) là
0,3. ðộ dày vỏ trứng có tương quan dương với ñộ bền và ảnh hưởng ñến kết quả
ấp nở, thường trứng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng ñều cho tỷ lệ nở kém,
Nguyễn Thị Bạch Yến (1996). Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………

16


của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó ñạp vỡ vỏ khi
nở. Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối
lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết
cao, ñộ dày lý tưởng của vỏ trứng từ 0,26 – 0,34mm, Auaas và Wilke (1978).
Ngoài ra, ñộ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường như thức ăn, tuổi
gà, nhiệt ñộ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác.
- Chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh:
Khi ñánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta
ñặc biệt quan tâm ñến chỉ tiêu này, các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng
trứng càng tốt và tỷ lệ nở cao (Tạ An Bình, 1973).
Chỉ số lòng ñỏ: chất lượng lòng ñỏ ñược xác ñịnh bởi chỉ số lòng ñỏ, mà
chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng ñỏ với ñường kính của nó. Chỉ số lòng ñỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status