TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ KINH DOANH
BÁO CÁO THỰC TẬP
CƠ SỞ NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Tại: NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN THÁI HÒA
Họ và tên sinh viên
Lớp
Giáo viên hướng dẫn
: TRẦN THỊ QUY
: Tài chính ngân hàng I
: TRẦN THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khoa Kinh tế
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
PHIẾU NHẬN XÉT
về CHUYÊN MÔN và QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN
Họ và tên:
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Diễn giải
TMCP
Thương mại cổ phần
CBNV
Cán bộ nhân viên
TCTD
Tổ chức tín dụng
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTƯ
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 5
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng thương mại với tư cách là một trong những ngành công nghiệp ra đời
sớm nhất, đóng vai trò là trung gian tài chính huy động lượng tiền nhàn rỗi thông qua
các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình
thức các khoản vay trực tiếp, là trung gian tài chính lớn nhất cũng là trung gian tài
chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất. Đóng vai trò to lớn là cầu
nối giữa các doanh nghiệp và thị trường, là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là cầu
nối giữa tài chính quốc gia và tài chính quốc tế, đồng thời là công cụ để nhà nước điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Bước sang cơ chế thị trường, thách thức đối với nền kinh tế
ngày càng lớn, do đó càng đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng để có thể làm
biến đổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bằng các
dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các
nước tiên tiến.Vai trò là hết sức to lớn như vậy, tuy nhiên, trong những năm trở lại đây
các ngân hàng thương mại đang đối mặt với những khó khăn trong huy động, cho vay,
dẫn đến khó đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, tạo nên những hạn chế
nội tại. Năm 2012 trôi qua, những vấn đề của ngân hàng còn nổi cộm đó, nợ xấu, vi
phạm pháp luật, tái cơ cấu, lãi suất... và đặc biệt là những chính sách đối với thị trường
vàng là những vấn đề được nhắc đến nhiều hiện nay.
doanh
Khoa Quản lý Kinh
PHẦN 1
CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÁI HÒA
1.1.
1.1.1.
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
∗
1.1.2.
•
•
•
Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, Agribank còn thể hiện trách nhiệm xã hội của
một doanh nghiệp lớn với sự nghiệp An sinh xã hội của đất nước.
Những cột mốc và chặng đường lịch sử
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo
Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng.
Ngày 14/11/1990, chủ tịch hội đồng Bộ trưởng ký quyết định số 400/CT
thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển
Nông nghiệp Việt Nam.
Ngày 1/3/1991, thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại
thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994. Ngân hàng nông nghiệp được
thành lập văn phòng miền trung tại thành phố Quy Nhơn.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 7
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
•
•
•
•
•
Cũng trong năm 2010, Agribank chính thức khai trương chi nhánh nước
ngoài đầu tiên tại Campuchia.
Năm 2011. Agribak chuyển đổi hoạt động sang mô hình công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ.
Năm 2012, vượt lên khó khăn của tình hình kinh tế thế giới và trong nước,
hoạt động kinh doanh của Agribank tiếp tục phát triển ổn định. Tổng tài sản
tăng 10% so với năm 2011, là NHTM có quy mô tổng tài sản lớn nhất, các tỷ
lệ an toàn hoạt động kinh doanh được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát
dần.
Với vị thế là Ngân hàng thương mại – định chế tài chính lớn nhất Việt Nam,
Agrbank đã, đang và không ngừng nỗ lực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ,
đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế
của đất nước.
1.2. Sự hình thành và phát triển của NHNo&PTNT – chi nhánh Thái Hòa
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng
Theo quyết định 784 ngày 8/7/2008 của Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Nghĩa Đàn được đổi tên thành Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Thị xã Thái Hoà. NHNo&PTNT Thái Hòa là một chi nhánh của
NHNo&PTNT tỉnh Nghệ An có trụ sở tại khối Kim Tân, phường Hoà Hiếu, Thị xã
Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 8
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
NHNo&PTNN Việt Nam: huy động vốn, cung cấp vốn, thanh toán chuyển tiền
và các dịch vụ khác.
- Tổ chức điều hành, kinh doanh, kiểm tra, kiểm toán nội bộ theo sự ủy thác của
tổng giám đốc NHNo&PTNN Việt Nam.
- Thực hiện các chức năng nhiệm vụ khác được giao phó.
b. Nhiệm vụ
Chi nhánh NNNo&PTNT Thái Hoà có các nhiệm vụ chủ yếu:
- Huy động, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế, dân cư, tổ
chức tài chính, tín dụng khác.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ thanh toán liên Ngân hàng, thanh toán với khách
hàng, thanh toán nội bộ trong toàn hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam.
- Tổ chức công tác thẩm định, phòng ngừa rủi ro, quản lý và ứng dụng công nghệ
thông tin (thu thập, xử lý, lưu trữ, phân tích, báo cáo, bảo mật).
- Tổ chức bộ máy kế toán và thực hiện chế độ kế toán tài chính, chế độ báo cáo
thống kê, kế toán định kỳ và báo cáo đột xuất theo quy định của Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 9
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, viên chức, lao động hợp đồng và
công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện các chính sách đối với đội ngũ cán bộ,
LỚP: TCNH 1-K5
Khoa Quản lý Kinh
Page 11
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng No&PTNT Thái Hoà
(Nguồn: Phòng hành chính và nhân sự NHNo&PTNT Thái Hoà)
Như vậy mô hình cơ cấu nhân sự ở NHNo&PTNN Việt Nam là mô hình được áp
dụng theo mô hình quản lý trực tuyến. Ban giám đốc của NH quản lý các hoạt động
kinh doanh thông qua việc quản lý các phòng ban. Đặc điểm và chức năng nhiệm vụ
của từng bộ phận cụ thể như sau:
Ban giám đốc bao gồm một giám đốc và một phó giám đốc.
Giám đốc là ông Phan Xuân Sinh phụ trách chung kiêm công tác
kế hoạch, công tác kiểm tra cán bộ.
Phó giám đốc là bà Đào Thị Bảy phụ trách về công tác tín dụng.
Phòng tín dụng của NHNo&PTNT Thái Hoà bao gồm 11 nhân viên. Bà Nguyễn
Thị Thu Hà làm trưởng phòng và 10 nhân viên khác. Phòng tín dụng của Chi
nhánh có các chức năng chủ yếu sau:
Thực hiện các công tác thẩm định dự án đầu tư, công tác phòng ngừa rủi
chi đúng quy định của ngành.
Quản lý và thực hiện công tác kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp, thực
hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát, công tác hậu kiểm đối với hoạt động tài
chính kế toán của Chi nhánh.
Đề xuất, tham mưu về hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính, kế toán.
Kiểm tra định kỳ, đột xuất việc chấp hành các quy định trong công tác kế
toán và chi tiêu tài chính.
Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời… của số liệu kế
toán và các báo cáo liên quan.
Quản lý thông tin và lập báo cáo.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 12
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
Thực hiện ứng tiền và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch
trong và ngoài quầy ATM theo ủy quyền kịp thời, chính xác, đúng chế
độ quy định.
Thực hiện tốt 1 số công việc khác do Giám đốc giao.
Phòng giao dịch Chợ Mới có ông Ngũ Văn Trì làm giám đốc chi nhánh và 4 cán
bộ thực hiện hoạt động kinh doanh như một chi nhánh độc lập.
1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn – Chi nhánh Thái Hòa trong ba năm (2010-2011).
Ngân hàng hoạt động có hiệu quả trước hết phải có nguồn vốn vững mạnh và biết
sử dụng nguồn vốn đó thật hiệu quả nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lợi
nhuận không chỉ là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng mà còn là chỉ tiêu chung nhất áp dụng cho mọi chủ thể kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường. Các ngân hàng luôn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để đạt được
lợi nhuận cao nhất và có mức rủi ro thấp nhất, đồng thời vẫn thực hiện được kế hoạch
của ngân hàng. Trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Agribank chi
nhánh Thái Hòa đã đạt được những thành tựu rất khả quan và để thấy rõ hơn ta theo
dõi bảng báo cáo kết quả kinh doanh trong 3 năm gần đây của ngân hàng:
Bảng 1.1 Tình hình tài chính NHNo&PTNT Thái Hòa từ năm 2010 – 2012
(Đơn vị tính: Triệu đồng, %)
So sánh
Năm
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
2010
2011
2012
16.009
42,13
Tổng chi TC 22.482
29.093
38.650
6.611
29,40
9.557
32,84
Lợi nhuận
6.419
8.904
15.356
2.485
38,71
hướng gia tăng. Cụ thể, lợi nhuận của năm 2011 so với năm 2010 tăng 2.485 triệu
đồng tương ứng tăng 38.71%, của năm 2012 so với năm 2011 tăng 6.452 triệu đồng
ứng với 72.46%. Hơn nữa chi phí hàng năm đều tăng cao hơn so với thu nhập, cụ thể
năm 2010 chi phí là 22.482 triệu đồng (chiếm 28.55% thu nhập), năm 2011 chi phí là
29.093 triệu đồng (chiếm 30.61% thu nhập) và năm 2012 với chi phí 38.650 triệu đồng
(chiếm 39.73% thu nhập) từ đó cho thấy ngân hàng cần có những biện pháp giảm thiểu
chi phí và tăng thêm nguồn thu để có thể đạt được lợi nhuận ở mức tối đa.
Tóm lại, trong tình hình kinh tế nhiều biến động ở những năm gần đây, doanh thu
của chi nhánh vẫn tăng ở tỷ lệ cao, cho thấy sự nỗ lực của ban lãnh đạo cùng CBNV
ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 14
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
PHẦN 2
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN TẠI
NHNo & PTNN THÁI HÒA
2.1. Điểm lại những vấn đề nổi bật trong hoạt động ngân hàng những năm gần
đây.
Năm 2010 trôi qua với những thay đổi pháp lý nghiêm trọng, nhiều biến đổi thị
trường, nhiều khó khăn đối với tất cả các ngân hàng trong hoạt động huy động vốn. Từ
tháng 6/2010 lãi suất huy động vốn trên thị trường đột ngột đảo chiều, cùng với diễn
loạn. Là năm hình thành nên cú “sốc” vỡ nợ tín dụng đen, tín dụng đen với lãi suất lên
tới 30-40% một tháng, tương đương 360-480% một năm tái xuất vào những tháng cuối
năm. Từ tháng 9/2011 theo quy định của NHNN, tỷ lệ cho vay không được quá 80%
vốn huy động được quy định trong Thông tư 13 năm 2010 đã được hủy bỏ.
Như vậy, chi phí huy động của ngân hàng được giảm bớt, tạo điều kiện giảm lãi suất
cho vay.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 15
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
Năm 2012 khép lại vơi nhiều sự kiện ồn ào chấn động đến hoạt động của ngân
hàng. Lãi suất dịu sóng, ngày 21/12/2012, lần thứ 6 trong năm Ngân hàng Nhà nước
giảm các lãi suất điều hành, hạ các trần lãi suất huy động và cho vay. Trong năm 2012
một vài thời điểm tỷ giá USD/VND biến động, song vẫn nằm trong biên độ cho phép.
Năm 2012 ồn ào việc ngừng huy động vàng, nhằm thực hiện lộ trình quản lý kinh
doanh vàng, chuyển hẳn các quan hệ sang mua - bán. Năm 2012 một năm nổi cộm nợ
xấu, tháng 6/2012, lần đầu tiên trong lịch sử, nợ xấu của các tổ chức tín dụng được
“nói trắng” ra như vậy, sự đột biến trên được giải thích từ cơ chế giám sát từ xa của
Ngân hàng Nhà nước, khác với báo cáo của các tổ chức tín dụng. Năm 2012 mở đầu
ồn ào với cơ chế phân nhóm giao chỉ tiêu tăng tín dụng, phía sau đó là nghịch cảnh:
ngân hàng dư thừa vốn, nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì thiếu vốn. Năm 2012 cũng là
một năm sa sút của các nhà băng, hầu hết các nhà băng đều không đạt chỉ tiêu kế
hoạch kinh doanh. Tổng tài sản cả hệ thống nói chung và riêng nhiều thành viên dự
kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ
và ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chết khấu hay vay có đảm bảo…
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 16
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
Nghiệp vụ huy động vốn khác: ngoài các nghiệp vu cơ bản trên NH còn có thể
tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn
cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đây là khoản huy động vốn
không thường xuyên của NH.
2.2.2. Tình hình huy động vốn tại ngân hàng Agribank – Thái Hòa trong những
năm gần đây
Trong chiến lược kinh doanh của mình, Ngân hàng Agribank Thái Hòa luôn coi
trọng công tác nguồn vốn. Xác định công tác nguồn vốn có vị trí rất quan trọng, nó
không chỉ đáp ứng vốn cho hoạt động đầu tư và đảm bảo thanh toán mà việc đẩy mạnh
khai thác các nguồn vốn tập trung vào ngân hàng còn nhằm tạo lợi thế cho ngân hàng
trong kinh doanh. Có thể thấy xu hướng tăng trưởng nguồn vốn của Ngân hàng
Agribank Thái Hòa qua một số thời kỳ như sau:
Bảng 2.1: Tổng vốn huy động trong giai đoạn 2010 đến 2012
(Đơn vị: Tỷ đồng)
So sánh2011/2010
1111
547
1,97
Nội tệ
712.3
518.7
-193.6
0,73
1015
496,3
1,96
Ngoại tệ
quy đổi
29.7
45.3
2010 vốn huy động bằng nội tệ là 713.3 tỷ đồng, tăng 313 tỷ đồng so với năm 2009;
nhờ đó tổng vốn huy động được năm 2010 cũng gia tăng đột biệt với 742 tỷ đồng đạt
150% so với kế hoạch.
Sở dĩ có kết quả trên là do các nguyên nhân sau đây:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Tác dụng việc cải thiện hệ thống luật pháp tiếp tục có hiệu quả, ảnh hưởng của
việc Việt Nam gia nhập WTO.
+ Trong giai đoạn từ năm 2008 – 2012 luôn có sự gia tăng về vốn đáng kể do
phát triển kinh tế ổn định của khu công nghiệp, sự phát triển nhanh chóng của các nhà
máy tại khu vực. Nhu cầu gia tăng về vốn, cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh
luôn giữ ở mức ổn định và có phần tăng cao hơn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Chi nhánh nhanh chóng đưa ra nhiều gói sản phẩm tiết kiệm, dịch vụ phong
phú, với lãi suất linh hoạt để thu hút lượng tiền gửi nội tệ.
+ Với vị trí và uy tín tạo dựng được trong nhiều năm qua, là ngân hàng có lịch sử
hình thành sớm nhất trong khu vực, tạo được niềm tin lâu bền cho nhân dân, ngân
hàng đã trở thành một địa chỉ an toàn và tin cậy cho các tổ chức kinh tế và cá nhân đến
gửi tiền.
Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động của Agribank Thái Hòa giai đoạn 2010 – 2012.
(Đơn vị: Tỷ đồng)
ST
T
Chỉ tiêu
Tổng nguồn vốn (*)
Phân theo loại
I
tiền
h lệch
%
+/0,76
1111 547
Chênh
lệch
%
1,97
712,3 518,7
-193,6 0,73
1015 496,3
1,95
29,7
15,6
96
50,7
2,1
319
tờ có giá
Ghi chú : (*) Không bao gồm vốn vay NHNo&PTNN Việt Nam
1,55
49,7
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 – năm 2012 của ngân hàng Agribank Thái Hòa)
Qua bảng trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét.:
Thứ nhất đó là lượng vốn huy động chủ yếu là bằng nội tệ, đồng ngoại tệ chiếm
một tỷ trọng vừa phải tăng theo chu kỳ cao không quá 5% ; năm 2011 là 45,3 tỷ đồng,
chỉ tăng 1,52 % so với năm 2010 và năm 2012 là 96 tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm
2011. Điều này cũng là hợp lý bởi vì trên địa bàn huyện chủ yếu là các doanh nghiệp
nhỏ hoạt động chủ yếu ở thị trường trong nước, chỉ có một số ít các doanh nghiệp xuất
khẩu.
Thứ hai đó là lượng vốn huy động chủ yếu từ khu vực dân cư, còn từ khu vực các
tổ chức kinh tế chiếm một tỷ lệ cao nhưng không ổn định và chủ yếu là không có kỳ
hạn.
Ngoài ra xét theo bối cảnh chung của năm 2010 chúng ta có thể thấy đây, cũng là
một năm đầy biến động của thị trường tài chính, ngân hàng. Cùng với Chính phủ,
ngành ngân hàng đã thực hiện các gói kích thích kinh tế như cho vay hỗ trợ lãi suất,
giảm lãi suất cho vay để giảm gánh nặng chi phí tài chính cho các doanh nghiệp.
Chính sách tiền tệ ổn định, lãi suất cơ bản duy trì 7%/năm trong 8 tháng, đến đầu
tháng 12 được điều chỉnh lên 8%/năm. Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và nhanh hơn
tốc độ tăng nguồn vốn, đẩy các ngân hàng vào cuộc đua tăng lãi suất huy động, lãi suất
huy động gần bằng lãi suất cho vay. Thị trường ngoại tệ căng thẳng, mất cân đối cung
cầu, tỷ giá tăng cao, Ngân hàng nhà nước phải nhiều lần điều chỉnh biên độ tỷ giá. Thị
trường vàng cũng biến động khôn lường, giá vàng trồi sụt, các tin đồn thất thiệt tác
động tiêu cực đến tâm lý người dân cũng đã gây ảnh hưởng phần nào đến hoạt động
ngân hàng.
vốn đó thật hiệu quả, tránh tình trạng ứ đọng vốn.
2.3.1. Cơ cấu tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thái
Hòa
Trong những năm qua, hoạt động cho vay của ngân hàng đã có những chuyển biến
tích cực và được thể hiện trong 2 bảng sau:
Bảng 2.3 Cơ cấu tín dụng tại NHNo&PTNT Thị xã Thái Hòa
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Năm
Khoản mục
So sánh
2011/2012
2012/2011
(+/-)
(+/-)
54.988
59.905
2010
2011
2012
Tổng dư nợ
170.699
225.687
Nhìn chung, tổng doanh số cho vay của ngân hàng tăng trong giai đoạn 2010 –
2012, nhưng tăng không đều qua các năm. Cụ thể, năm 2011 tổng doanh số cho vay
tăng 54.988 triệu đồng so với năm 2010 tương ứng tăng 32.21%. Năm 2012 tổng
doanh số cho vay là 285.592, tăng 59.905 triệu đồng so với năm 2011, tức là tăng
26.55% so với năm 2011.
Trong đó phân theo cơ cấu tín dụng, thì tổng dư nợ từ vốn dự án ủy thác đầu tư có
sự biến động thất thường qua các năm. Cụ thể như sau, năm 1011 tổng dư nợ là 3.004
triệu đồng, tăng 5 triệu đồng so với năm 2010. Năm 2012 tổng dư nợ từ vốn dự án ủy
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 20
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
thác đầu tư bằng 0, do đó giảm 3.004 triệu đồng so với năm 2011. Trái lại dư nợ vốn
kinh doanh thông thường có xu hướng tăng qua các năm, cụ thể như sau, năm 2011
tăng 54.983 triệu đồng so với năm 2010, năm 2012 tăng 62.909 triệu đồng so với năm
2011.
Bảng 2.4 cơ cấu tín dụng theo thời hạn của NHNo&PTNT Thái Hòa
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Khoản mục
2010
39.122
63.085
Dư nợ TDH
36.510
52.371
52.195
15.861
-176
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của NHNo Thái Hòa)
Nếu phân theo thời hạn vay vốn, nhận thấy trong giai đoạn này, NHNo&PTNN
Thái Hòa chủ yếu là tập trung cho vay ngắn hạn, năm 2012 vốn cho vay ngắn hạn
chiếm 81.72% so với vốn cho vay trung và dài hạn. doanh số cho vay ngắn hạn trong
giai đoạn này liên tục tăng, năm 2011 tăng 39.122 triệu đồng so với năm 2010, năm
2012 tăng 63.085 triệu đồng so với năm 2012. Ngược lại thì dư nợ trung và dài hạn
trong giai đoạn có biến động thất thường, nếu như năm 2011 dư nợ tăng 15.861 triệu
đồng so với năm 2010, thì năm 2012 giảm 176 triệu so với năm 2011. Nguyên nhân
chính có thể thấy là do tình hình kinh tế biến động thất thường nên các dự án, phương
án sản xuất trung và dài hạn của các doanh nghiệp giảm xuống đáng kể. Thực tế cho
thấy nguồn vốn cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Agribank Thái Hòa chủ yếu là để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh nhưng ngoài thuận lợi là tín dụng ngắn hạn có thể thu hồi vốn nhanh để cho vay
vốn của mình có hiệu quả và có thể luân chuyển được số vốn của mình một cách dễ
dàng. Một trong những nguyên tắc trong hoạt động của tín dụng là vốn vay phải được
thu hồi cả vốn gốc và lãi theo đúng hạn định đã thỏa thuận. Như vậy, doanh số thu nợ
cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cảu công tác tín dụng trong từng
thời kỳ.
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà ngân hàng thu hồi từ các khoản đã giải ngân
trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, việc thu nợ được coi là công tác quan
trọng trong hoạt động tín dụng góp phần tái đầu tư tín dụng và đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển lưu thông.
Ta xét bảng số liệu sau:
Bảng 2.5 :Tình hình thu nợ của Ngân hàng Agribank chi nhánh Thái Hòa trong 3 năm (20102012)
( Đơn vị: triệu đồng)
2010
Chỉ tiêu
2011
Chênh lệch
2012
2012/2011
Số tiền
%
Số tiền
%
26.896
23.50
44.218
21.28
47.571
19.31
3.353
7.58
Tổng
114.442
100
202.468
100
246.357
100
Khoa Quản lý Kinh
Ngoài ra, doanh số thu nợ tăng cao còn nhờ vào thiện chí trả nợ của khách hàng và
công tác thẩm định của ngân hàng. Tuy nhiên khi các khoản nợ vay đáo hạn nếu xét
thấy khách hàng có uy tín, sử dụng vốn đúng mục đích, hoạt động kinh doanh có hiệu
quả và vẫn có nhu cầu về vốn thì ngân hàng không nên thu hồi nợ về ngay mà nên để
khách hàng tiếp tục sử dụng số tiền vay vì hiện nay nhu cầu vốn cho sản xuất kinh
doanh ngày càng bức thiết. Làm được như vậy chẳng những tăng lợi nhuận cho ngân
hàng thông qua khoản lãi vay khách hàng mang lại mà còn giảm bớt rất nhiều chi phí
cho ngân hàng nếu so với việc thu hồi nợ về và tìm kiếm khách hàng vay mới.
Đánh giá hệ số thu nợ:
Để đánh giá tình hình thu nợ của ngân hàng, ta xem xét hệ số thu nợ. Hệ số thu nợ
phản ánh hiệu quả thu hồi nợ của ngân hàng cũng như khả năng trả nợ vay của khách
hàng, cho biết số tiền ngân hàng có thể thu hồi được trong một thời kỳ nhất định từ
một đồng doanh số cho vay. Ta có bảng số liệu về hệ số thu nợ của ngân hàng trong
những năm qua như sau:
Bảng 2.6 :Hệ số thu nợ của ngân hàng Agribank Thái Hòa qua ba năm 2010-2012
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Doanh số thu nợ
thấy 100 đồng vốn doanh số cho vay thì ngân hàng thu được khoảng trên dưới 90
đồng, điều này có liên quan mật thiết với cơ cấu tín dụng của ngân hàng- tín dụng
ngắn hạn đang đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên ta
không thể dựa vào hệ số thu nợ để đánh giá một cách chủ quan về hiệu quả hoạt động
tín dụng của ngân hàng bởi vì chỉ tiêu này chỉ phản ánh khả năng thu nợ của ngân
hàng đối với tổng doanh số cho vay hàng năm mà thôi. Vì thế, khi đánh giá chỉ tiêu
thu nợ ta nên dựa vào phần nợ đến hạn phải thu thì việc đánh giá hiệu quả hoạt động
tín dụng của ngân hàng mới thực sự chính xác.
TRẦN THỊ QUY
LỚP: TCNH 1-K5
Page 23
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
doanh
Khoa Quản lý Kinh
2.3.3. Phân tích tình hình dư nợ của ngân hàng
Dư nợ cho vay có thể được hiểu là hiệu số giữa doanh số cho vay và doanh số thu
nợ. Như vậy chỉ tiêu dư nợ cho vay là khoản tiền đã giải ngân mà ngân hàng chưa thu
hồi về. Dư nợ cho vay là chỉ tiêu xác thực để đánh giá về quy mô hoạt động tín dụng
trong từng thời kỳ. Đây là một chỉ tiêu không thể thiếu khi nói về hoạt động tín dụng
của một ngân hàng. Nhìn chung, các ngân hàng thương mại có mức dư nợ cao thường
là các ngân hàng có quy mô hoạt động rộng, nguồn vốn mạnh và đa dạng. Để hiểu rõ
hơn về tình hình dư nợ của ngân hàng, ta xem xét bảng số liệu sau:
Bảng 2.7 : Doanh số dư nợ của Ngân hàng Agribank Thái Hòa ba năm 2010-2012
(Đơn vị: triệu đồng)
9.614
18.05
8.153
40.34
30.915
47.18
Tổng
53.258
100
20.213
100
65.529
100
( Nguồn:Phòng tài chính- kế toán NHNo&PTNT Thái Hòa)
Trong những năm qua chi nhánh luôn thực hiện tốt việc theo dõi dư nợ, nắm bắt và
Khoa Quản lý Kinh
Nếu tại một thời điểm nhất định nào đó ở ngân hàng, nợ quá hạn chiếm tổng số dư
nợ ngày càng lớn thì nó phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng đó ngày càng kém và
ngược lại.
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ cao sẽ rất khó khăn trong
việc mở rộng quy mô tín dụng. Cùng với doanh số thu nợ, nợ quá hạn cũng phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tín dụng của ngân hàng. Cụ thể được cho ở bảng
sau:
Bảng 2.8: Nợ quá hạn của ngân hàng Agribank Thái Hòa qua 3 năm (2010-2012)
(Đơn vị triệu đồng)
2010
Chỉ tiêu
2011
2012
Ngắn hạn
Số tiền
1.102
%
58.62
Số tiền
1.071
1.933
100
2.363
100
( Nguồn:Phòng tài chính- kế toán NHNo&PTNT Thái Hòa)
Tình hình nợ quá hạn trong 3 năm qua có chiều hướng gia tăng, đây cũng là một
thực tế khách quan một khi ngân hàng cho vay tăng thì nợ quá hạn tăng là điều khó
tránh khỏi. Nếu năm 2010 nợ quá hạn của ngân hàng là 1.880 triệu đồng, thì đến năm
2011 tăng lên 1.933 triệu đồng, và năm 2012 vừa rồi đạt mức cao 2.363 triệu đồng.
Xét ở khía cạnh chủ quan và khách quan, bởi ngân hàng không thể đánh giá chính xác
nguồn thu nhập trả nợ của mọi khách hàng trong chu kỳ sản xuất kinh doanh cũng như
khách hàng không thể kiểm soát hết được mọi rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
mình. Nợ quá hạn, nợ khó đòi là những biểu hiện rõ nét của chất lượng tín dụng. Khi
phát sinh nợ quá hạn cũng đồng nghĩa với khoản vay của ngân hàng gặp rủi ro. Vì vậy
ngân hàng cần tìm ra các nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn, đồng thời tìm ra các biện
pháp để hạn chế và khắc phục tình trạng này nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng,
nâng cao chất lượng tín dụng.
2.4. Hoạt động thanh toán bằng tiền mặt tại Ngân hàng Agribank Thái Hòa
2.4.1. Đánh giá chung về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Agribank
Thái Hòa những năm gần đây
Mặc dù địa bàn hoạt động của ngân hàng là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An
còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt, bên cạnh đó còn phải đối mặt với sự biến đổi
của nền kinh tế, chịu sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn
nhưng NHNo&PTNN Thái Hòa đã và đang từng bước khẳng định ví trí, vai trò của
mình. Với sự lãnh đạo của Ban giám đốc cùng tập thể cán bộ công nhân viên nên ngân