Tính tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của đài PT TH hà nội (khảo sát chương trình “60 phút bạn và tôi” và “gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6 2012 đến 6 2013) - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TÍNH TƢƠNG TÁC TRONG CÁC CHƢƠNG TRÌNH
PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PT- TH HÀ NỘI
(Khảo sát Chương trình “60 phút bạn và tôi”
và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6.2012 đến 6.2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội -2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TÍNH TƢƠNG TÁC TRONG CÁC CHƢƠNG TRÌNH
PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PT- TH HÀ NỘI
(Khảo sát Chương trình “60 phút bạn và tôi”
và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6.2012 đến 6.2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍNH TƢƠNG TÁC
TRONG CHƢƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP ............................ 10
1.1.Những thuật ngữ, khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn ....................... 10
1.1.1.Tương tác ................................................................................................ 10
1.1.2.Trực tiếp .................................................................................................. 10
1.1.3.Phát thanh trực tiếp ................................................................................ 11
1.2.Tính tƣơng tác trên các loại hình báo chí ................................................... 13
1.2.1.Tính tương tác trên báo in ...................................................................... 14
1.2.2.Tính tương tác trên báo mạng ................................................................. 15
1.2.3.Tính tương tác trên truyền hình .............................................................. 16
1.3.Tính tƣơng tác trên loại hình báo phát thanh ............................................. 18
1.3.1.Quan điểm chung về tính tương tác trong chương trình phát thanh ...... 18
1.3.2.Vai trò của tính tương tác trong chương trình phát thanh ..................... 21
1.3.3.Đặc điểm của chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương
tác cao......... ..................................................................................................... 25
1.4.Giới thiệu khái quát về hai chƣơng trình trong diện khảo sát.................... 30
1.4.1.Chương trình “60 phút bạn và tôi” ........................................................ 30
1.4.2.Chương trình “Gặp thầy thuốc nổi tiếng”.............................................. 35
Chƣơng 2: TÍNH TƢƠNG TÁC TRONG CHƢƠNG TRÌNH 60 PHÚT BẠN
VÀ TÔI VÀ GẶP THẦY THUỐC NỔI TIẾNG ............................................ 39
2.1. Tƣơng tác giữa ngƣời dẫn với ngƣời dẫn.................................................. 39
2.1.1.Chương trình 60 phút bạn và tôi ............................................................. 39
2.1.2.Chương trình “Gặp thầy thuốc nổi tiếng”.............................................. 48
2.2.Tƣơng tác giữa ngƣời dẫn với thính giả..................................................... 52
2.2.1.Chương trình “60 phút bạn và tôi” ........................................................ 52
2.2.2.Chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng .................................................. 55
2.3.Tƣơng tác giữa ngƣời dẫn với khách mời .................................................. 61

sinh đô ̣ng của lời nói , âm nha ̣c, tiế ng đô ̣ng truyề n qua làn sóng radio đã đƣơ ̣c
thính giả đón nhận một cách nồng nhiệt . Tuy nhiên, nhƣ̃ng năm 40 của thế kỷ
XX, vô tuyế n truyề n hin
̀ h ra đời với sƣ̣ kế t hơ ̣p giƣ̃a hiǹ h ảnh và âm thanh đã
tạo nên thế giới hiện thực vô cùng sinh động về cuô ̣c số ng trƣớc mắ t thiń h giả
mà họ không cần đi đâu xa . Ƣu thế của truyề n hiǹ h là hiǹ h ảnh , điề u mà phát
thanh không có . Đế n thâ ̣p niên cuố i của thế kỷ XX , khi Internet lên ngôi và
các tờ báo mạng tung hoành đã làm cho phát thanh thêm lo ng

ại. Chính vì

vâ ̣y, trong bố i cảnh bùng nổ các phƣơng tiê ̣n truyề n thông đa ̣i chúng hiê ̣n nay,
muố n có chỗ đƣ́ng riêng của miǹ h , phát thanh cần phải phát huy tối đa những
ƣu thế để vƣơ ̣t lên trong viê ̣c cung cấ p thông tin nhanh

, chính xác với mô ̣t

phƣơng thƣ́c sinh đô ̣ng, gầ n gũi với thiń h giả.
Hƣớng đi mới đƣợc nhiều đài phát thanh từ trung ƣơng đến địa phƣơng
lựa chọn là phát thanh trực tiếp. Viê ̣c kế t hơ ̣p giƣ̃a phƣơng tiê ̣n sản xuấ t hiê ̣n
đa ̣i, phát huy tối đa năng lực truyề n thông của radio giúp ngƣời nghe luôn câ ̣p
nhâ ̣t đƣơ ̣c nhƣ̃ng thông tin nóng hổ i nhấ t . Phát thanh trực tiếp đòi hỏi sự tham
gia, phố i hơ ̣p ăn ý của cả m ột nhóm thƣ̣c hiê ̣n chƣơng trình . Bên ca ̣nh đó ,
thính giả cũng đóng vai trò quan tro ̣ng ta ̣o nên thành công cho chƣơng trình
đó.
Ví dụ, trên kênh phát thanh VOV Giao thông, không chỉ có phóng viên
của Đài tiếng nói Việt Nam là những ngƣời cung cấp thông tin tại hiện trƣờng
mà còn có rất nhiều thính giả gọi điện về từ các tuyến phố. Những thính giả
của VOV giao thông đã không còn xa lạ với câu nói của ngƣời dẫn chƣơng
trình: “Thính giả có số điện thoại... vừa gọi điện về cho chương trình và

giúp thu hút thính giả tìm đến các chƣơng trình phát thanh. Đó là lý do để
chúng tôi lựa chọn đề tài: Tính tương tác trong các chương trình phát thanh
trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội (Khảo sát chương trình “60 phút bạn và
tôi” và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6.2012 đến 6.2013) làm đề tài cho luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học. Nhƣ̃ng kế t quả của luận văn có thể
làm phong phú hơn nguồn tài liệu về chƣơng trình phát thanh trực tiếp mang
tính tƣơng tác cao.
2


2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, có khá nhiều cuốn sách, đề tài khóa luận, luận văn nghiên
cứu về các chƣơng trình phát thanh trực tiếp và tính tƣơng tác trong chƣơng
trình phát thanh. Trong phạm vi liên quan gần với đề tài của chúng tôi, có thể
kể một số nghiên cứu đã đƣợc công bố nhƣ sau:
Về các cuốn sách đã xuất bản, theo trình tự thời gian đã có:
Giáo trình Báo phát thanh của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền phối
hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện, NXB Văn hóa - Thông tin xuất
bản năm 2002. Trong giáo trình này, phƣơng thức sản xuất chƣơng trình phát
thanh trực tiếp đƣợc đề cập đến trong chƣơng 8.
Trong cuốn Lý luận báo phát thanh (2003), ở chƣơng 1, tác giả Đức
Dũng đã dành 21 trang để đề cập đến phát thanh trực tiếp. Tác giả khẳng định
“Có thể nói phát thanh trực tiếp là hình thức thể hiện mới của phát thanh
hiện đại, tạo ra sức hấp dẫn mới cho làn sóng phát thanh. Tính thời sự và sự
gần gũi, thân mật là hai yếu tố đảm bảo sức mạnh của phát thanh trong bối
cảnh của đời sống hiện đại và phát thanh trực tiếp đã có cả hai ưu thế quan
trọng này.”
Cẩm nang hướng dẫn Phát thanh trực tiế p do Đài Tiế ng nói Vi ệt NamBô ̣ Văn hóa Thông tin - Tổ chƣ́c SIDA (Thụy Điển) phối hợp xuất bản năm
2005. Nội dung sách đƣợc biên soạn từ kinh nghiệm của các giảng viên nƣớc
ngoài về cách thực hiện các chƣơng trình phát thanh trực tiếp dành cho những

nói Việt Nam của tác giả Vũ Đức Huỳnh (Bảo vệ năm 2011 tại Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn). Trong khóa luận, tác giả chỉ dừng lại ở việc đánh giá
hiệu quả tính tƣơng tác của hai chƣơng trình từ phía thính giả.
Luận văn Chương trình phát thanh trực tiếp trên Đài tiếng nói nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Dƣơng Thị Anh Đào (Bảo vệ năm 2011
tại trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn). Trong đó, tác giả đã dành
chƣơng 1 để đƣa ra những lý luận chung về phát thanh trực tiếp. Theo tác giả,
phát thanh trực tiếp có ƣu thế trong việc cung cấp thông tin nhanh, tức thời.
Đồng thời, phát thanh trực tiếp còn hấp dẫn thính giả bởi tính tƣơng tác cao.
Những cuốn sách và đề tài nghiên cứu nói trên sẽ là nguồn tài liệu tham
khảo hữu ích cho việc nghiên cứu của tác giả. Tuy nhiên, vấ n đề mà tác giả
4


quan tâm nghiên cứu là những yếu tố tƣơng tác đƣợc thể hiện trong các
chƣơng trin
̀ h phát thanh trực tiếp của đài PT- TH Hà Nội.
Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu phân tích và chỉ ra thế mạnh và
hạn chế riêng của từng yếu tố tƣơng tác. Luận văn cũng đánh giá một cách
khái quát về vị thế, sự phát triển của chƣơng trình phát thanh trực tiếp mang
tính tƣơng tác cao tại Việt Nam, khẳng định đây là xu hƣớng phát triển chủ
đạo của phát thanh Việt Nam trong tƣơng lai gần.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.

Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm đƣa đến cái nhìn tổng quan về các yếu tố tƣơng tác trong
chƣơng trình phát thanh trực tiếp. Trên cơ sở nghiên cứu hai chƣơng trình
phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội, luận văn hy vọng sẽ chỉ ra đƣợc

4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các chƣơng trình 60 phút Bạn và Tôi
và chƣơng trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng của Đài PT- TH Hà Nội, trong đó:
- Chƣơng trình 60 phút Bạn và Tôi: khảo sát từ tháng 6 năm 2012 đến tháng
6 năm 2013.
- Chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng: bắt đầu khảo sát khi chƣơng trình
ra đời, là từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 6 năm 2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thƣ̣c hiê ̣n đề tài , chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cƣ́u cơ bản sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu đƣợc sử dụng để nghiên cứu các tài
liệu lý luận báo chí nói chung và tài liệu về báo chí phát thanh, tác phẩm phát
thanh trực tiếp để tìm kiếm những kiến thức lý thuyết phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài. Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo một số sách báo, tạp chí,
internet, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng chủ yếu trong chƣơng 1 là chƣơng xây dựng
cơ sở lý luận và thực tiễn, làm điểm tựa cho việc khảo sát, phân tích trong các
chƣơng 2 và chƣơng 3.
- Phƣơng pháp khảo sát thực tế đƣợc sử dụng để nghiên cứu chƣơng
trình 60 phút Bạn và Tôi và chƣơng trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng của Đài
Phát thanh và Truyền hình Hà Nội từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm
2013.
- Các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng cho việc đánh giá
các chƣơng trình phát thanh trong diện khảo sát, qua đó rút ra những luận
điểm khoa học cho luận văn.
- Phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để rút ra những tƣơng đồng và
khác biệt trong các yếu tố tƣơng tác giữa chƣơng trình 60 phút Bạn và Tôi và

thúc đẩy quá trình dân chủ hóa thông tin trong cơ chế truyền thông. Thính giả
tham gia vào chƣơng trình đã khẳng định báo chí của chúng ta thực sự là diễn
đàn của nhân dân, là nơi nhân dân có thể phát biểu ý kiến, trình bày tâm tƣ,
nguyện vọng. Thính giả từ chỗ chỉ là ngƣời tiếp nhận thông tin một chiều, đến
với chƣơng trình phát thanh tƣơng tác họ đã trở thành một thành viên của
chƣơng trình. Lúc này họ đóng hai vai: vừa là đối tƣợng tiếp nhận thông tin,
vừa là ngƣời tham gia vào quá trình xử lý thông tin, góp phần quyết định nội
dung chƣơng trình. Họ gợi mở thông tin, nên lên những vấn đề cần bàn, làm
7


cho quá trình thông tin đƣợc dân chủ hóa sâu sắc. Sự giao lƣu của thính giả
đối với chƣơng trình sẽ tạo nên một diễn đàn ngôn luận dân chủ, công khai.
Không chỉ tạo ra một kênh thông tin dân chủ hơn, phát thanh tƣơng tác còn
tạo ra những chƣơng trình mang đậm hơi thở đời sống, gần gũi thiết thực với
bạn nghe đài.
6.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Thực tế cho thấy, bên cạnh nhu cầu tiếp nhận thông tin, thính giả ngày
nay không chỉ đóng vai ngƣời nghe đài một cách thụ động mà còn muốn đƣợc
tham gia vào trong các chƣơng trình phát thanh một cách chủ động. Nét đặc
thù trong tâm lý tiếp nhận thông tin của thính giả hiện nay là mong muốn có
đƣợc cảm giác gần gũi, thân mật, mong tìm đƣợc sự mới mẻ, đa đạng và xác
thực. Vì thế, phát thanh phải đáp ứng đƣợc nhu cầu này bằng việc khơi mở
rộng rãi con đƣờng giao lƣu, đối thoại, tƣơng tác với thính giả. Nhờ vào việc
gia tăng sự xuất hiện của các yếu tố tƣơng tác, thính giả của chƣơng trình phát
thanh trực tiếp không chỉ nghe thụ động một chiều mà còn có thể trình bày ý
kiến, quan điểm của mình đối với những vấn đề mà chƣơng trình đề cập. Họ

tính tƣơng tác cũng nhƣ tận dụng đƣợc hiệu quả của tính tƣơng tác nhằm thu
hút sự quan tâm của thính giả. Vì vậy, với đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
chính là các chƣơng trình “60 phút bạn và tôi” và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng”.
Tác giả luận văn sẽ thực hiện phân tích kỹ quá trình tƣơng để từ đó đánh giá
điểm mạnh, yếu của từng chƣơng trình. Từ đó, tác giả cũng sẽ đƣa ra một vài
điểm khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng tính tƣơng tác. Bên
cạnh đó, luận văn sẽ góp phần đề ra hƣớng đi m ới nhằm nâng cao hiệu quả
của phát thanh trực tiếp trong tƣơng lai.
Nhƣ̃ng đồ ng nghiê ̣p trẻ cũng có thể tìm đƣơ ̣c nhƣ̃ng kinh nghiê ̣m thƣ̣c
hiê ̣n chƣơng trin
̀ h phát thanh trƣ̣c tiế p mang tiń h tƣơng tác cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầ u và Kế t luận , các nội dung chính của luận văn
đƣợc trình bày trong 3 chƣơng, 11 tiết.
Cuối luận văn, sau Tài liệu tham khảo là phần Phụ lục, trong đó có các
tài liệu liên quan đến quá trình nghiên cứu.

9


Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍNH TƢƠNG
TÁC TRONG CHƢƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP
1.1.

Những thuật ngữ, khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn

1.1.1. Tương tác
“Tƣơng tác” là tƣ̀ có nguồ n gố c Hán Viê ̣t . Theo Đại từ điển Tiế ng Viê ̣t
của giáo sƣ Nguy ễn Nhƣ Ý (Chủ biên) xuấ t bản năm 1999, “Tƣơng tác” có
nghĩa là tác động qua lại lẫn nhau [20, Tr. 1769].

tin đƣơ ̣c truyề n ngay lâ ̣p tƣ́c tới công chúng tiế p nhâ ̣n.
1.1.3. Phát thanh trực tiếp
Phát thanh trực tiếp là khái niệm nó nhiều định nghĩa khác nhau. Trong
bài viết: “Phát thanh trực tiếp - động lực mới của phát thanh hiện đại”,
PGS,TS.Đức Dũng cho biết: Có quan niệm cho rằng: PTTT nghĩa là đọc trực
tiếp trước máy. Các tin, bài đã được chuẩn bị từ trước, một phần đã được ghi
âm trước, một phần sẽ do phát thanh viên đọc và phát sóng thẳng (không qua
khâu ghi âm). Một loại ý kiến khác cho rằng: PTTT thực chất là những
chương trình tường thuật về các sự kiện được thực hiện trực tiếp ngay tại
hiện trường (như tường thuật một kỳ đại hội, một cuộc bầu cử, một lễ hội, một
buổi giao lưu, một trận thi đấu thể thao…). Trong toàn bộ chương trình
không có thông tin nào được ghi âm trước mà tất cả đều là phát sóng trực
tiếp [3].
Trong cuố n Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiế p

(Đài Tiế ng nói

Viê ̣t Nam - Tổ chƣ́c Sida - Bô ̣ Văn hóa Thông tin), các chuyên gia Thụy Điển
cho rằ ng: “Phát thanh trực tiếp là một phương pháp làm phát thanh mới , tiên
tiế n với sự hỗ trợ đắ c lực của công nghê ̣ hiê ̣n đại

, cho phé p phát huy thế

mạnh của loại hình báo nói” [1, Tr. 9].
Trong cuốn Báo phát thanh (Phân viê ̣n Báo chí và Tuyên truyề n - Đài
Tiế ng nói Viê ̣t Nam ), GS,TS.Vũ Văn Hiền - TS Đƣ́c Dũng cho rằng: “Phát
thanh trực tiế p có thể được hiểu làcông nghê ̣ sản xuấ t chương trình phát thanh
được thực hiện đồ ng thời với quá trình phát sóng nhằ m chuyển đế n người nghe
những thông tin đồ ng thời với sự kiê ̣n đang xáy ra và có thể thu hút người nghe
tham gia vào quá trình sản xuất chương trình”[11, Tr. 380].

thành đến đâu, đƣợc phát sóng ngay đến đấy chính là đặc điểm quan trọng
nhất của phƣơng thức sản xuất các chƣơng trình phát thanh trực tiếp. Trong
phát thanh trực tiếp, ngoài các yếu tố đƣợc thực hiện trực tiếp (nhƣ: đọc
thẳng; gọi điện tới phòng thu; tƣờng thuật trực tiếp; phỏng vấn trực tiếp;
khách mời tại phòng thu; toạ đàm trực tiếp; phóng sự trực tiếp; phát thanh lƣu
động…), ngƣời ta vẫn phải sử dụng những chất liệu không trực tiếp để xây
12


dựng chƣơng trình (nhƣ: các ca khúc, bài phỏng vấn, phóng sự đã đƣợc thu
thanh hoàn chỉnh với những tiếng động nền, phát biểu của các nhân chứng
hoặc đã đƣợc dựng sẵn thành những chuyên mục, tiết mục của chƣơng trình.
Ngoài ra còn có các loại nhạc xen, nhạc cắt, nhạc nền… đã đƣợc chuẩn bị sẵn
sàng từ trƣớc).
1.2.

Tính tƣơng tác trên các loại hình báo chí

Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời và phát triển
của báo chí đó là nhu cầu giao tiếp và thông tin của công chúng. Có nghĩa là
báo chí ra đời nhằm phục vụ nhu cầu nắm bắt thông tin và giao tiếp, trao đổi,
bàn luận của tất cả mọi ngƣời. Nếu nhƣ cách làm báo truyền thống là chỉ
chuyển tải thông tin theo một chiều, báo chí áp đặt độc giả phải tiếp nhận mọi
thông tin mà các phƣơng tiện truyền thông chuyển tải. Thì giờ đây, khi xu
hƣớng dân chủ hóa đƣợc mở rộng ở hầu hết các nƣớc trên toàn thế giới thì
mối quan hệ giữa công chúng với báo chí không chỉ là một chiều mà là đa
chiều, chính vì thế mới có sự xuất hiện của thuật ngữ “tƣơng tác”.
Khái niệm “tương tác trong báo chí” mới xuất hiện khoảng chục năm
trở lại đây cùng với sự ra đời và phát triển của loại hình báo chí thứ tƣ - báo
mạng điện tử, tuy nhiên nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến và đƣợc tất cả

đăng tải một thời gian, đồng thời, tòa soạn cũng có quyền quyết định phản hồi
đƣợc đăng tải. Sau khi thông qua sàng lọc kỹ lƣỡng, toàn soạn có quyền
không công bố rộng rãi.
Trên báo in, mức độ tƣơng tác cũng có sự khác biệt rõ rệt phù thuộc
vào nhật báo, tuần báo hay tạp chí. Về cơ bản, những tờ báo ra hàng ngày sẽ
có mức độ tƣơng tác cao hơn so với những tạp chí ra hàng tuần hay hàng
tháng.
Hiện tại, mỗi cơ quan báo in lại có những cách thức tƣơng tác với độc
giả khác nhau. Đối với một số tờ báo, độc giả có thể chia sẻ ý kiến phản hồi
bằng cách gửi thƣ tay, thƣ điện tử hoặc thông qua đƣờng dây nóng. Với sự
phát triển của báo chí nói chung hƣớng tới tính tƣơng tác cao, báo in cũng đã
có sự chuyển mình nhằm thu hút công chúng hơn nữa. Đa phần, các tờ báo
đều chú trọng đến phát triển trang bạn đọc và có tác dụng tốt trong việc kết
nối, thu hút tƣơng tác giữa độc giả và bạn đọc.
14


1.2.2. Tính tương tác trên báo mạng
Tƣơng tác là một trong những đặc trƣng cơ bản của báo mạng điện tử.
Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ cao, bạn đọc có thể gửi thƣ điện tử (email) phản
hồi ngay tới từng bài báo, từng tác giả và tòa soạn bằng những thao tác hết
sức đơn giản, thuận tiện. Tòa soạn gần nhƣ nhận đƣợc tức thời các ý kiến
phản hồi và quá trình xử lý, sàng lọc, lƣu trữ, đăng tải phản hồi cũng nhanh
hơn nhờ có sự hỗ trợ của máy tính và mạng internet.
Bên cạnh đó, nhằm phục vụ độc giả tốt hơn, tòa soạn cũng có thể gửi đến
từng độc giả những bản tin tóm tắt theo định kỳ giúp họ tiết kiệm thời gian và
gắn kết hơn với tờ báo, thông qua email. Cũng nhờ vào khả năng tƣơng tác,
báo mạng điện tử thiết lập các diễn đàn hay thực hiện các cuộc bỏ phiếu giúp
cho công tác điều tra xã hộ trở nên vô cùng đơn giản, thuận tiện và nhanh
chóng.

lợi thế của báo mạng mà báo in không thể làm đƣợc và rất hạn chế đối với
truyền hình và phát thanh.
1.2.3. Tính tương tác trên truyền hình
Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa đƣợc các
thế mạnh của báo in và phát thanh trƣớc đó. Xu hƣớng phát triển của truyền
hình càng gần gũi với đời sống, ngày càng tiến tới xã hội hóa việc sản xuất
chƣơng trình mang tính tƣơng tác cao.
Trƣớc kia, tính tƣơng tác của truyền hình cũng chỉ đơn thuần tƣơng tự
nhƣ trên báo in. Điều này có nghĩa là, thính giả cũng sẽ phản hồi, đóng góp ý
kiến cho nhà đài bằng cách viết thƣ sau khi theo dõi một chƣơng trình. Với sự
phát triển của các loại hình báo chí, truyền hình cũng đã xuất hiện thuật ngữ
chuyên ngành hơn là “Truyền hình tƣơng tác”, về thực chất đƣợc dùng để nói
về thể loại đàm luận chuyên đề (talk show).
Theo ý kiến của cố nhà báo Trƣờng Phƣớc- Nguyên Trƣởng ban chuyên
đề của Đài truyền hình Việt Nam thì: Thói quen xem truyền hình cho vui mắt
của công chúng là thói quen đã qua. Ngày nay, công chúng chú ý xem truyền
hình tương tác để mong giải quyết những vấn đề mà họ đạng quan tâm. Các
chuyên mục: Đối thoại, chính sách-cuộc sống, sự kiện bình luận…đều thu hút
sự quan tâm của công chúng thông qua những hình thức phản hồi như gọi
điện, email…. Nhiều chương trình gần đây đã mở ra cho khán giả tham gia
16


chia sẻ, đóng góp ý kiến thâm chí đưa ra những câu hỏi, những vướng mắc
mà người xem thắc mắc.
Nhắc đến truyền hình tƣơng tác phải kể đến kênh VTV6 dành cho thanh
thiếu niên. Các chƣơng trình của kênh VTV6 tƣơng tác với khán giả dƣới
nhiều hình thức khác nhau nhƣ: truyền hình, Internet (email, webcam, blog),
điện thoại di động, điện thoại cố định... ngay trong lúc chƣơng trình đang phát
sóng hay trƣớc đó. Một số chƣơng trình mà khán giả đƣợc tham gia vào việc

và hệ thống dẫn truyền âm thanh đi tác động trực tiếp vào thính giác công
chúng. Mặc dù không có đƣợc cái già dặn nhƣ báo in, không hiện đại và hấp
dẫn nhƣ truyền hình nhƣng thông tin trên báo phát thanh không bị ngăn cách
bởi hàng rào địa lí, hải quan và tạo nên một hiệu ứng rộng khắp và tức thì đến
hàng triệu ngƣời trên hành tinh.
 Quan điể m về “tin
́ h tƣơng tác” trong chƣơng trình phát thanh truyền
thống
Nhiều ý kiến cho rằng, trong các chƣơng trình phát thanh không trực
tiếp, yếu tố tƣơng tác xuất hiện không nhiều và gần nhƣ là không có. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy điều này hoàn toàn chƣa đúng.
Dù không xuất hiện nhiều nhƣng tính tƣơng tác trong chƣơng trình phát
thanh không trực tiếp cũng đã đƣợc các nhà sản xuất chƣơng trình phát thanh
áp dụng trong quy trình sản xuất hay thu thập thông tin.
Thông thƣờng, các chƣơng trình thu trƣớc thƣờng có độ chính xác cao về
thông tin, tạo sự tin tƣởng tuyệt đối trong lòng thính giả. Tác giả xin đƣợc đƣa
ra một số ví dụ về chƣơng trình phát thanh không trực tiếp mang tính tƣơng
tác. Trong số đó, có chƣơng trình mức độ tƣơng tác ít, có chƣơng trình mức
độ tƣơng tác cao hơn.
Với tính chất không phát trực tiếp nên sự tƣơng tác qua lại giữa thính giả
và một chƣơng trình phát thanh cần một thời gian nhất định. Có thể lấy ví dụ
chƣơng trình “Hộp thƣ thính giả” của kênh VOV 5 đài Tiếng nói Việt Nam.
Chƣơng trình sẽ trả lời, giải đáp thắc mắc những câu hỏi đƣợc gửi về từ thính
giả Việt kiều ở nhiều đất nƣớc trên thế giới mà nội dung thƣ chủ yếu xoay
quanh các thủ tục nhập cảnh, nhập quốc tịch, cấp visa, bảo lãnh…Trong
chƣơng trình này, kênh VOV 5 chỉ nhƣ một cầu nối trung gian, chuyển những
thắc mắc của thính giả đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Sau khi
18



dễ dàng hơn.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status