BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÂM SÀNG, SINH LÝ –
SINH HÓA MÁU Ở CHÓ MẮC BỆNH VIÊM RUỘT
TIÊU CHẢY VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CHU ĐỨC THẮNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
- Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình ảnh
vii
1
MỞ ĐẦU
1
1.1
Một số giống chó chính trên thế giới
4
2.1.3
Một số giống chó nuôi ở Việt Nam
4
2.2
Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
7
2.2.1
Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
7
2.2.2
Bệnh lí bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
10
2.2.3
PHÁP
NGHIÊN CỨU
28
3.1
Đối tượng nghiên cứu
28
3.2
Nội dung nghiên cứu
28
3.2.1
Khảo sát tỷ lệ mắc viêm ruột tiêu chảy
28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
3.2.2
3.3.2
Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột ỉa chảy trên chó
29
3.3.3
Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm chỉ tiêu sinh lý, sinh
hóa máu
29
3.4
Điều trị thực nghiệm bệnh viêm ruột tiêu chảy ở chó
30
3.5
Phương pháp xử lý số liệu
30
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
36
4.2.1
Các biểu hiện lâm sàng khi chó mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy
36
4.2.2
Một số chỉ tiêu lâm sàng bệnh lý bệnh viêm ruột tiêu chảy ở chó
40
4.3
Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở chó mắc viêm ruột
tiêu chảy
43
4.3.1
Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở chó mắc viêm ruột tiêu chảy
44
4.3.2
65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
4.1
Một số bệnh thường gặp ở chó nuôi trên địa bàn Hà Nội
31
4.2
Một số bệnh nội khoa trên chó nuôi trên địa bàn Hà Nội
32
4.8
Một số chỉ tiêu hồng cầu ở chó mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy
44
4.9
Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở chó mắc bệnh
viêm ruột tiêu chảy
48
4.10
Hàm lượng đường huyết, độ dự trữ kiềm trong máu
52
4.11
Hàm lượng đường huyết, Protein tổng số và các tiểu phần
Protein ở chó mắc viêm ruột tiêu chảy
4.12
4.13
55
13
2.3
Mối quan hệ giữa trao đổi nước, các chất điện giải và sự cân
bằng axit bazơ trong bệnh viêm ruột ỉa chảy
15
2.4
Các thể mất nước
15
4.1
Số lần đi ỉa trong ngày ở chó mắc viêm ruột tiêu chảy
39
4.1
Phân lỏng khi chó bị viêm ruột tiêu chảy
39
4.2
vận cảnh đang ngày càng tăng cả về số lượng và sự đa dạng. Trong đó chăn
nuôi chó cảnh và trông giữ nhà là một trong những nhu cầu phổ biến của
người dân đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh…
Với điều kiện thời tiết nhiệt đới nóng ẩm đặc trưng, đàn chó được nuôi ở
Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang thường xuyên phải đối mặt
với hàng loạt dịch bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa.
Trong thực tế bệnh trên hệ thống tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với
các bệnh trên hệ thống khác ở chó và gây thiệt hại nghiêm trọng. Trong đó
bệnh viêm ruột tiêu chảy là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh
tiêu hóa trên đàn chó nuôi và gây thiệt hại nặng nề nhất.
Hiện nay đã và đang có những công trình nghiên cứu về các bệnh
trên chó, trong đó có bệnh tiêu chảy. Tuy nhiên những nghiên cứu còn ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
giai đoạn đầu, chưa nghiên cứu sâu về quá trình bệnh lý, cũng như những
biến đổi về các chỉ tiêu lâm sàng, sinh lý, sinh hóa máu. Để bổ sung dữ liệu
khoa học cũng như làm cơ sở cho công tác phòng và điều trị bệnh viêm
ruột ỉa chảy trên đàn chó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số
chỉ tiêu lâm sàng, sinh lý – sinh hóa máu ở chó mắc bệnh viêm ruột tiêu
chảy và thử nghiệm điều trị”.
1.1. Mục tiêu của đề tài
- Xác định các chỉ tiêu lâm sàng, sinh lý, sinh hóa máu ở chó mắc
bệnh viêm ruột ỉa chảy làm cơ sở xây dựng phác đồ điều trị có hiệu quả
- Xác định phác đồ điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy có hiệu quả cao
và ứng dụng trong thực tế lâm sàng.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
giới. Cách đây khoảng 15.000 năm con người đã thuần hoá với mục đích
phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và là bạn với con người.
Trung tâm thuần hoá chó cổ nhất có lẽ là vùng Đông Nam á, sau đó
được du nhập vào Châu úc, lan ra khắp Phương Đông và đến Châu Mỹ.
ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ
đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn
năm). Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiên nay trên thế giới có
khoảng 400 giống, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris), thuộc
họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
2.1.2. Một số giống chó chính trên thế giới
Bắt đầu từ hàng trăm năm về trước, những nhà nhân giống đã cho
phối những con chó đực và những con chó cái có những đặc điểm, chất
lượng tốt. Với mục đích của họ là muốn những chú chó con có những đặc
điểm giống bố mẹ chúng.
Những con chó dùng để phát triển những đặc điểm này gọi là chó
giống. Theo AKC, có khoảng 150 giống chó và chia thành 7 nhóm: chó thông
minh, chó làm việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh.
- Những chú chó thông minh có bộ lông cứng và mỏng. Những con
chó này được nhân giống để săn bắt cáo và thỏ.
- Chó làm việc có thân hình rất khoẻ mạnh và rất nghe lời. Giống
chó này được nhân giống để kéo xe trượt tuyết.
- Chó thể thao như Pointers và Golden Retrieverf chúng được nhân
giống để tha những con vịt và những chim hoang dã mà thợ săn bắt được.
- Giống chó săn có khứu giác rất tốt, chúng giúp thợ săn lần ra được
dấu vết của thỏ và những loài động vật nhỏ bé khác.
thành và nó có thể bắt cá nuôi chủ khi chủ ốm.
2.1.3.2. Một số giống chó nhập ngoại
- Giống chó Berger Đức
Berger Đức (German sheperd) còn có các tên gọi khác" Alratian,
Deutsthe, Shaperhund; có nguồn gốc từ Đức, được nhập vào nước ta từ
những năm 1960 do Bộ nội vụ (nay là Bộ Công An). Giống chó này dùng
làm chó nghiệp vụ trong lực lượng cảnh sát hình sự và bảo vệ an ninh biên
giới trong bộ đội biên phòng.
Chó có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó nước ta, dài 110 112cm, cao từ 56 - 65cm đối với chó đực và từ 62 - 66cm đối với chó cái;
trọng lượng từ 28 - 37kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và
mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân
thuỳ, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít.
Cổ chắc xiên đến vạch lưng; lưng chắc rộng có độ dốc về phía sau; bụng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
thon thẳng, đuôi dài hình lưỡi kiếm. Các chi có cơ gân chắc khoẻ, chân
trước thẳng đứng, chân sau đứng hơi choãi về phía sau, khoeo chân sau
giống khoeo mèo. ở điều kiện Việt Nam chó Berger Đức có thể phối giống
ở độ tuổi 24 tháng; chó cái có thể sinh sản 18 - 20 tháng.
- Giống chó Dobermann
Chó có nguồn gốc từ Đức được phát hiện ra vào năm 1866 và được
nhập vào nước ta nuôi với mục đích để canh gác, tìm kiếm và làm cảnh.
Chó có tầm vóc trung bình cao, cao 65 - 69cm, dài 110 - 112cm;
nặng 30 - 33kg. Chó có bộ lông ngắn đen sẫm gần như toàn thân; mõm,
ngực, 4 chân có màu vàng sẫm. Có đầu hình nêm, hơi thô, mũi rộng mắt
đen, hàm răng chắc, cắn khít; cổ to khoẻ; ngực nở, bụng thon; cơ chi
chắc khoẻ, đuôi ngắn.
và nhọn dần về dưới. Lông ngắn, dầy và mượt, màu lông cơ bản là trắng
với vệt đen và bạc, chó sơ sinh lông hoàn toàn trắng; chó có 4 chân chắc
khoẻ, Dalmatian trung thành, trông hiền lành nhưng lại linh hoạt; chúng
thích sống gần người và thích được vuốt ve, thích chơi với trẻ em. Giống
chó này có trí nhớ tốt và hay thù dai. Chó nuôi để chạy thi, giữ nhà và bảo
vệ trẻ em, chó có tầm vóc lớn; cao 56 - 69cm, nặng 32 kg; dài 112 - 115cm.
- Giống Dug
Có nguồn gốc là một giống chó cảnh từ Viễn Đông, được nuôi rộng
rãi ở nhiều nước để làm cảnh vì tầm góc nhỏ, ngộ nghĩnh, lại rất thông
minh hiền lành, yêu mến trẻ em.
Chó có tầm vóc nhỏ, cao từ 30 - 33cm; dài từ 50 - 55cm; nặng từ 58 kg. Bộ lông mịn màu nâu nhạt hoặc vàng sẫm; khoang mắt, mũi, mõm có
màu đen; đầu to thô; mõm ngắn và thô; mũi chia thuỳ; tai cụp; ngực sâu;
thân chắc lẳn; đuôi ngắn và cuốn.
2.2. Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
2.2.1. Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
Đã có rất nhiều tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc.
Theo định nghĩa của Vũ Triệu An (1978); Stephen E.Goldifinger (Nguyên
lý Y học nội khoa 1993, mục 36 trang 313); Tạ Thị Vịnh (Sinh lí bệnh gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
súc 1991, mục 2 trang 128 ): ỉa chảy là đi ỉa nhanh nhiều lần trong ngày,
trong phân có nhiều nước do rối loạn phân tiết, hấp thụ và tăng cường nhu
động của ruột.
Bệnh gây tổn thương ở đường tiêu hóa dẫn tới triệu chứng ỉa chảy có
rất nhiều: dịch tả lợn, dịch tả trâu bò, bệnh phó lao, bệnh lị do
Entamoebehisstalytia (amip), Giatdia Intestinalis (trùng roi); bệnh do nội ký
sinh trùng đường tiêu hóa: giun đũa, giun móc, giun kim, sán dây... ký sinh
đồng thời tác động vào tổ chức thành ruột gây viêm nhiễm.
Trong trường hợp này cần phải kể đến tác động của Ecoli
(Escherichia Coli) là một vi khuẩn có sớm nhất trong đường tiêu hoá của
gia súc sơ sinh (có sau hai giờ). Ecoli thường ở ruột già, chiếm khoảng
80% trong tổng số vi sinh vật hiếu khí và là tác nhân gây bệnh không thể
phủ nhận (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974).
Nguyễn Tài Lương và cộng sự (1963) đã phân lập được 5 Serotyp
Ecoli trên lợn ỉa chảy và tác giả cho rằng: "E.coli là một trong những
nguyên nhân gây bệnh lợn con ỉa phân trắng".
Trong hệ vi khuẩn hiếu khí đường ruột Salmonella chiếm tỉ lệ khá
cao và vai trò của nó đã được nhiều tác giả nói đến.
Carter J. D và cộng sự (1986), Smith B. P và cộng sự (1978) đã tiến
hành nghiên cứu vai trò của Salmonella trong đường tiêu hoá của lợn và
thấy rằng: trong điều kiện chăn nuôi, quản lý kém, sực đề kháng của cơ thể
kém chính là cơ hội cho Salmonella nhân lên quá lớn trong đường tiêu hoá,
sản sinh độc tố gây viêm ruột iả chảy.
Vũ Đạt và Đoàn Thị Băng Tâm (1995) phân lập ở trâu, bò ỉa chảy
các Serotyp: S. Sublin; S. Enteritidis; S. Typhimurium; Samonella sp và
cho rằng Salmonella đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh nêu trên.
Nguyễn Quang Tuyên (1995) phân lập Salmonella ở trâu, bò ỉa chảy
thuộc Bắc Thái, Ba Vì, Hà Nội, cho thấy tỉ lệ Salmonella cao hơn ba lần so
với gia súc khoẻ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Ngoài hai vi khuẩn E. coli, Samonella thường xuyên có trong đường
ruột và được coi là những tác nhân gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
nhẹ, lớp hạ niêm mạc phù nhẹ, có nhiều tế bào ái toan thâm nhiễm, nhung
mao ruột biến dạng bề mặt, biểu bì thoái hoá, các tuyến lieberkuhn giảm. Hệ
thống nhung mao bị tổn thương, hàng loạt các men tiêu hoá bị ức chế.
Nhiều kết quả cho thấy: Khi gia súc mắc bệnh viêm ruột ỉa chảy kéo
theo sự thay đổi lớn về các chỉ tiêu huyết học. Theo Macfaclance W.V. và
cộng sự, 1987 cho rằng: gia súc bị viêm ruột ỉa chảy kéo dài thì cơ quan tạo
máu bị ảnh hưởng, số lượng hồng cầu trong máu giảm thấp.
Macfaslance W.V. và cs (1987) cũng nhận xét: Gia súc bị bệnh
viêm ruột ỉa chảy mạn thì cơ quan tạo máu bị ảnh hưởng, số lượng hồng
cầu trong máu giảm thấp.
Theo Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997: ở trâu bị viêm ruột ỉa chảy số
lượng bạch cầu tăng, chủ yếu là bạch cầu ái trung.
Khi viêm ruột do rối loạn tiêu hoá, thức ăn lên men phân giải ra rất nhiều
chất độc. Hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản ra nhiều độc tố. Các chất độc đó
cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức bị phân huỷ, tất cả ngấm vào máu,
trước hết tác động vào gan, làm chức phận gan rối loạn (Vũ Triệu An, 1978).
Gan có vai trò quan trọng trong chuyển hoá đạm, trong sự điều hoà số
lượng và chất lượng của protein huyết thanh ( Rubb J.V.F. và cộng sự, 1985).
Protein huyết thanh bao gồm Albumin và Globulin. Bằng phương
pháp điện di người ta chia protein huyết thanh thành bốn phân suất lớn:
Albumin và α,β,γ globulin (Nguyễn Tấn Di Trọng, 1984).
Gan tổng hợp hầu hết các Anbumin, 80% glubulin chủ yếu là α và β
glubulin. Albumin được gan tổng hợp từ các axít amin do máu mang tới và
do đó trong các bệnh làm giảm chức năng gan, albumin trong máu giảm
(Nguyễn Tấn Di Trọng, 1984).
α- globulin có liên quan đến sự chuyển hoá mỡ, cụ thể là khi αglobulin cao thì mỡ sữa cũng cao, còn β- globulin nằm trong thành phần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Cấp tính
Mất nước
Khối lượng tuần
hoàn giảm
Máu cô đặc
Rối loạn
chuyển hoá
Thoát huyết tương
Nhiễm
toan
Dãn mạch
Suy
dưỡng
Họcdinh
viện Nông
nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Trụy mạch
Thiếu máu
Giảm huyết áp
Còi xương
Hình 2.2: Sự phân chia dịch thể ở cơ thể động vật
Nhu cầu về nước của gia súc là rất lớn, nếu cơ thể mất hết mỡ,
đường và một nửa protit trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn
còn sống. Nhưng nếu cơ thể mất 10% nước thì con vật có thể chết (Trần Cừ
và Cù Xuân Dần, 1975; Church N.V., 1994).
Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống và được thải ra
theo phân, nước tiểu, hơi thở, mồ hôi (hình 3). Quá trình hấp thu và thải trừ
nước cân bằng tạo lượng nước trong cơ thể khoẻ mạnh thường ổn định
(Thornton, 1978 - Trích theo Lê Minh Chí, 1995; Rose R.J., 1981,
Dibartola S.P., 1985).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Thornton 1978 (trích theo Lê Minh Chí, 1995) khi bị viêm ruột, cơ
thể không những không hấp thu được nước từ thức ăn đưa vào, mà còn mất
nước cả do tiết dịch. Mặt khác do ruột bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu
động ruột tăng lên nhiều lần. Hơn nữa do tổ chức bị tổn thương niêm mạc
tăng tiết cùng với dịch rỉ viêm, dịch tiết có thể tăng gấp 80 lần bình thường.
Gia súc ỉa chảy kéo theo một lượng nước và điện giải bài xuất ra, cơ thể
mất nước chất điện giải (hình 2.4) với hàng loạt các biến đổi bệnh lí khác
nhau (Vũ Triệu An, 1978).
Vì lẽ đó, trong điều trị viêm ruột ỉa chảy, việc xác định mức độ mất
nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu.
Tăng cường
lọc máu
Tim đập nhanh
Mất chất
điện giải
Oxy hoá yếm khí
lactic Acidosis
Iả chảy cấp
tính
Mất dịch lỏng và chất điện giải
qua đường tiêu hoá và tiết niệu
khi ỉa chảy
Giảm tiêu hoá
thức ăn
Cân bằng âm
về dinh dưỡng
Haematokrite
Học viện Nông Mất
nghiệp
Việt Nam – Luận vănTăng
Thạc sỹ
Khoa học Nông nghiệp
nước
Đói sinh lý
Tăng độ đặc huyết
Mất dịch đẳng trương
và mất Natri
Mất nước mức độ
trung bình
Mất nước mức độ trung
bình và giảm Natri
trong máu
Mất nước nhược
Mất dịch và mất
Natri nặng
Mất nước nặng và
giảm Natri trong máu
trầm trọng
Hình 2.4. Các thể mất nước
- Mất nước ưu trương: Nước mất nhiều hơn điện giải, ở khu vực
ngoại bào, thể tích nước bị giảm, đậm độ muối tăng (tức là hằng số điện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
giải tăng) nên áp lực thẩm thấu tăng. Để lập lại thăng bằng áp lực thẩm
thấu giữa hai khu vực nước đi từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào; kết
* Dấu hiệu lâm sàng:
- Tình trạng toàn thân sút kém, mệt mỏi
- Da nhăn, đàn tính của da kém.
- Mạch yếu, hơi nhanh, hạ huyết áp.
* Dấu hiệu phi lâm sàng
- Giảm thể tích huyết tương là đặc điểm chính của mất nước ngoại bào.
- Hàm lượng Clo và Natri của huyết tương thường giảm.
- Thường có dấu hiệu máu cô đặc, những dấu hiệu này có một giá trị
rất lớn khi chúng biểu hiện, Tăng tỉ khối hồng cầu, tăng hàm lượng protein
huyết tương.
Sự mất nước tế bào:
Những rối loạn nước và điện giải của khu vực tế bào không được
biết rõ bằng rối loạn nội mô. Tuy vậy, hiện nay người ta thiết lập được một
số sự kiện chính xác:
Sự mất nước tế bào có đặc tính là giảm số lượng nước khu trú ở một
khu vực. Trong trường hợp này, mất nước là sự kiện chủ yếu.
* Dấu hiệu lâm sàng:
- Dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất là khát nước
- Trọng lượng cơ thể thường giảm nhiều
- Da không bị nhăn, không có dấu hiệu mất đàn tính của da
- Mạch và huyết áp không thay đổi
* Dấu hiệu phi lâm sàng:
Hàm lượng của những chất điện giải chính thường tăng. Tuy vậy
phải nhận thấy rằng hàm lượng Clo huyết thanh có thể giảm thấp, còn hàm
lượng natri thường cao.
2.2.3.3. Điều chỉnh nước và điện giải trong trạng thái bệnh lí
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17