Tiểu luận “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến tình hình quản lý, sử dụng đất, phát triển xã hội nông thôn và đời sống người nông dân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. - Pdf 31

1. Đặt vấn đề

Đô thị hoá là một xu thế tất yếu, đó là một quá trình phát triển của
xã hội mang tính chất toàn cầu và diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các
quốc gia trên toàn thế giới.
Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của cuộc sống,
đem đến nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển của các đô
thị nói riêng và cả xã hội nói chung. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
đô thị hoá cũng đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề có liên quan đến tính bền
vững cho cuộc sống nhân loại. Đối với các nước đang phát triển, quá trình
đô thị hoá diễn ra theo chiều rộng, chủ yếu chạy theo việc mở rộng quy mô
và gia tăng số lượng các đô thị…mà ít quan tâm đến chất lượng đô thị cũng
như chất lượng môi trường sống trong các đô thị, gây ra những hậu quả
không mong muốn, làm ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Vì vậy, cần phải tiến hành nghiên cứu và giải quyết nhiều vấn đề trong quá
trình đô thị hóa, trong đó có vấn đề quản lý và sử dụng đất đai.
Đô thị hoá là một quy luật khách quan diễn ra ở tất cả các quốc gia
trên toàn thế giới, Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
cũng không nằm ngoài quy luật đó. Phấn đấu trở thành thành phố trực
thuộc trung ương nên quá trình đô thị hoá tại tỉnh diễn ra khá nhanh. Đặc
biệt ở vùng ven đô quá trình đô thị hóa diễn ra sôi động hơn bao giờ hết,
điều này đã tạo ra những diện mạo mới cho bộ mặt nông thôn cũng như gây
nhiều áp lực đối với người dân ở đây, làm cho cơ cấu sử dụng đất trên địa
bàn tỉnh cũng có những biến động mạnh, nhất là quá trình chuyển mục
đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sang đất phi
nông nghiệp cũng như nhiều biến động khác trong quá trình trình sử dụng
đất. Điều này đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước để nâng
cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, đồng thời đảm bảo sự ổn định về
mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Vì vậy, trong bài tiểu
luận của mình, em xin chọn đề tài “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến tình hình
quản lý, sử dụng đất, phát triển xã hội nông thôn và đời sống người nông

xuất, các thành phần kinh tế hoạt động đa dạng hơn, phát triển sản xuất
theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường từ đó đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập cho người dân ở
khu vực nông thôn, góp phần tạo nên sự cân bằng hơn về kinh tế - xã hội
giữa các vùng.


+ Mặt tiêu cực: đô thị hóa sẽ kéo theo quá trình tập trung dân cư,
đặc biệt là sự di dân từ nông thôn ra thành thị, tạo ra sự chênh lệch rất lớn
về mật độ dân cư giữa đô thị với nông thôn, kéo theo nhiều vấn đề về nhà
ở, việc làm, sinh hoạt, nghỉ ngơi,…những vấn đề này nếu không được giải
quyết một cách kịp thời thì sẽ nảy sinh rất nhiều khó khăn cho hoạt động
sản xuất cũng như sinh hoạt của con người, đặc biệt là vấn đề về môi
trường đang có xu hướng mất cân bằng sinh thái. Đô thị hóa sẽ thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa diễn ra một cách ồ ạt, nhiều chất thải độc hại được
thải ra môi trường, kéo theo những vấn đề cực kỳ nóng bỏng đòi hỏi sự hợp
tác giải quyết toàn cầu, nhất là vấn đề về môi trường. Đô thị hóa cũng làm
cho cơ cấu sử dụng đất thay đổi, xu thế chung là giảm tỷ trọng đất nông
nghiệp và tăng tỷ trọng đất phi nông nghiệp. Tại thời điểm này, việc chuyển
đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đang diễn ra một cách ồ ạt trên
cả nước. Hàng năm có khoảng 10.000 ha đất nông nghiệp phải chuyển sang
các mục đích sử dụng khác. Nếu cứ tiếp tục theo xu thế này thì vấn đề an
ninh lương thực trong thời gian sắp tới là vấn đề rất đáng lo ngại.
2.1.2. Khái quát quá trình đô thị hoá ở Việt Nam
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời
trung đại với sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều
nguyên nhân, quá trình đó diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư
thành thị thấp.
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới đô thị hóa ở
Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh

công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án
đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn diện
tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng
chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân.
Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá Việt Nam là nước có tốc độ đô
thị hóa cao nhất Đông Nam Á. Nếu năm 1986, tỉ lệ dân cư sống tại đô thị
Việt Nam mới 19% (khoảng 11,8 triệu người) thì đến năm 2010 đã tăng lên
30,5% (khoảng 26,3 triệu người).
Thống kê đến cuối năm 2012, Việt Nam có 765 đô thị, chiếm tỷ lệ đô
thị hóa đạt 32,45%. Đô thị hóa đã đóng góp 70% GDP cả nước, tạo động
lực cho phát triển đất nước sau 20 năm đổi mới. Trong bản báo cáo “Đánh
giá đô thị hóa ở Việt Nam” của WB ngày 5/4/2012 cho biết: Việt Nam đang
đô thị hóa một cách nhanh chóng. Quá trình đô thị hóa sẽ là một phần quan
trọng trong tương lai của Việt Nam để đảm bảo có thành phố dễ sống và có
khả năng cạnh tranh trong khu vực cũng như trên toàn cầu. Đây cũng sẽ trở
thành một phần cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.


Theo báo cáo này, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam đạt 3,4%/năm, đa số tập
trung trong và xung quanh thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Đô thị hóa
đóng vai trò trọng tâm trong tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo của
Việt Nam. Đô thị hóa bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm
quốc gia: các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế. Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành
phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam
Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình… Các đô thị trung tâm
tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính-chính
trị, kinh tế, văn hoá, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị
trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô
thị mới.

công trình xanh; giao thông xanh; công nghiệp xanh; chất lượng môi
trường xanh; bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, công
trình lịch sử, văn hóa; cộng đồng dân cư sống thân thiện với môi trường và
thiên nhiên.
+ Đô thị thông minh là sự kết hợp giữa không gian đô thị và công
nghệ thông tin. Đô thị thông minh sẽ giúp nhà quản lý và người dân vận
hành tất cả mọi công việc trên hệ thống công nghệ thông tin, dưới sự điều
hành của một trung tâm. Đô thị thông minh làm cuộc sống con người trở
nên dễ dàng hơn, môi trường sinh hoạt an toàn và thoải mái hơn.
Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao. Sự
cạnh tranh đô thị với chất lượng cuộc sống ngày càng cao, đòi hỏi phải có
tầm nhìn chiến lược về quá trình xây dựng, quản lý và phát triển đô thị…
Sự phát triển đô thị tại Việt Nam tuy diễn ra nhanh chóng nhưng bộc lộ
nhiều hạn chế và yếu kém về hạ tầng kỹ thuật và ô nhiễm môi trường; đô
thị Việt Nam trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế cũng phải đối mặt
với các vấn đề toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, nước
biển dâng… Đặc biệt, đa số các thành phố lớn và khu công nghiệp lớn đều
tập trung ở vùng đồng bằng trũng thấp, khu vực ven biển - đây là những
khu vực rất dể bị tổn thương do biến đổi khí hậu gây ra. Đối mặt với thách
thức của tình trạng biến đổi khí hậu trong xu thế đô thị hóa tại Việt Nam
hiện nay đặt ra vấn đề chiến lược: phát triển đô thị bền vững hướng tới các
đô thị xanh; quản lý tổng hợp các rủi ro ngập úng đô thị hướng; lồng ghép
biến đổi khí hậu trong quy hoạch đô thị.
Chiến lược đô thị hóa của Việt Nam hướng tới mục tiêu bền vững
giữa tự nhiên, con người và xã hội. Đô thị xanh, đô thị thông minh là một
trong những tầm nhìn chiến lược cho trong mục tiêu xây dựng và phát triển
đô thị của Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần xem xét và có thêm cách nhìn
mới về quy hoạch và phát triển đô thị với ưu tiên cho phát triển mô hình đô



công trình quan trọng để đầu tư phát triển đã được mở rộng ra các vùng xa
trung tâm thành phố như: sân bay Phú Bài, cảng biển Thuận An, khu nghỉ
mát Cảnh Dương, khu du lịch sinh thái Bạch Mã… cùng với việc mở rộng
giao thông nối liền giữa thành phố Huế với các khu vực này đã từng bước


hình thành nên các thị xã, thị trấn mới, thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở tỉnh
Thừa Thiên Huế và phát triển đến ngày nay.
2.2.2. Đô thị hoá tại Thừa Thiên Huế hiện nay
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đặc biệt là qua quá trình
thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, bộ mặt
đô thị ở Thừa Thiên Huế đang có bước chuyển biến tích cực. Sau những
năm tháng dò dẫm, với không ít những bước đi vấp váp, Thừa Thiên Huế
đã từng bước nhận thức lại về giá trị độc đáo của di sản kiến trúc đô thị
Huế để tập trung bảo tồn và phát huy hệ thống di tích cố đô, gắn với chỉnh
trang đô thị, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên; đồng thời tiếp tục mở hướng
phát triển đô thị mới về phía bờ Nam sông Hương, vươn rộng về hướng
Phú Bài, Thuận An, Tứ Hạ và tập trung đầu tư cho khu đô thị mới Chân
Mây – Lăng Cô, hình thành một chuổi các thị trấn, thị tứ ở Nam Đông, A
Lưới, Phong Điền, Phú Đa, Sịa... với một hệ thống kết cấu hạ tầng và giao
thông đô thị nối các vùng xa về với thành phố Huế và trục quốc lộ IA. Cơ
cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng phát triển dịch vụ – công
nghiệp và nông nghiệp toàn diện; thế mạnh về văn hoá du lịch, về kinh tế
biển đang được đánh thức dậy, đặc biệt, từ ngày 24-8-2005 thành phố Huế
được công nhận là đô thị loại I của quốc gia, đánh dấu một bước phát triển
mới trong quá trình đô thị hóa ở Thừa Thiên Huế.Vóc dáng của một trung
tâm văn hoá du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo và y tế chuyên sâu ngày
càng được khẳng định.
Sự phát triển nhanh chóng của Huế đã làm ảnh hưởng rất lớn đến
các vùng xung quanh và thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng

vệ tinh cũng không ngừng được đầu tư xây dựng. Hệ thống giao thông
nông thôn được đầu tư kiên cố hóa. Một số tuyến giao thông quan trọng
phá thế chia cắt đã hoàn thành, như hệ thống đường và cầu vượt phá Tam
Giang, đường Phong Điền - Điền Lộc; Thủy Phù - Vinh Thanh, nhiều tuyến
đường qua các miền núi, vùng biển, đầm phá khác... đang được xây dựng.
Nằm về phía Đông Bắc Thừa Thiên Huế, thị trấn Sịa được biết đến
không chỉ là nơi hội tụ giao thương của huyện Quảng Điền, mà còn của cả
các vùng lân cận và đang tiếp tục xây dựng trở thành đô thị động lực của
tỉnh. Riêng 5 năm trở lại đây, tổng giá trị đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội trên địa bàn thị trấn Sịa đạt trên 210 tỷ đồng, tập trung chủ
yếu vào giao thông, mặt bằng đô thị. Tuyến Quốc lộ 1A qua TP. Huế, nơi
kết nối các đô thị Phong Điền, Hương Trà, Huế, Hương Thủy, Phú Lộc,
Lăng Cô và nhiều khu đô thị khác cũng đang được mở rộng với quy mô
hiện đại hơn.
2.2.3. Xu hướng phát triển đô thị của Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là đô thị mang những yếu tố đặc thù của đô thị di
sản, đây là đô thị cố đô còn giữ được khá nguyên vẹn và đô thị di sản văn
hóa thì nó sẽ khác đô thị công nghiệp. Nếu như thành phố Hồ Chí Minh là


trung tâm phát triển kinh tế, đô thị công nghiệp, Hà Nội là thủ đô, đô thị
hành chính. Các đô thị như Đà Nẵng, Hải Phòng cũng phát triển công
nghiệp thì Thừa Thiên Huế, tỷ trọng dịch vụ, du lịch đạt trên 50% và có rất
nhiều di sản, cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấp dẫn…
Hiện nay, Chính phủ đang có chủ trương phát triển kinh tế, theo
hướng tăng trưởng xanh, lãnh đạo Thừa Thiên Huế cũng định hướng xây
dựng thành phố Huế trở thành thành phố xanh. Một vấn đề đáng chú trọng
trong phát triển đô thị tại thành phố Huế là phải giữ gìn di sản do đó nếu đô
thị hóa theo hướng hiện đại nhà cao tầng mật độ xây dựng cao sẽ phá vỡ
cảnh quan. Chính đặc thù này đem đến định hướng phát triển đô thị tại đây

Theo số liệu bảng 2.1, diện tích đất nông nghiệp tại phường Kim
Long ngày càng giảm qua các năm. Tại thời điển năm năm 2006 diện tích
đất nông nghiệp tại phường là 97,48 ha chiếm 39,21% tổng diện tích tự
nhiên của phường, năm 2008 diện tích nhóm đất này còn lại 37,23 ha và
đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 22,65 ha
chiếm 9,15% tổng diện tích tự nhiên. Như vậy, trong vòng 4 năm từ 2006 –
2010 thì diện tích đất nông nghiệp tại phường Kim Long giảm đi 60,25 ha.
Diện tích đất nông nghiệp giảm tập trung chủ yếu vào diện tích đất
sản xuất nông nghiệp, trong đó, giảm mạnh là diện tích đất trồng cây lâu
năm với 75,61 ha).
Cũng theo nghiên cứu này, diện tích đất phi nông nghiệp tại phường
cũng có sự biến động lớn. Trong đó:
+ Diện tích đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, biến
động mạnh nhất đáp ứng nhu cầu của người dân. Trong 78,83 ha đất phi
nông nghiệp tăng trong giai đoạn năm 2006 – 2010 thì tăng diện tích đất ở
chiếm 70,02 ha (88,82%). Diện tích đất ở được chuyển từ đất trồng cây lâu
năm và một phần chuyển từ đất trồng cây hàng năm.


+ Diện tích đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệptăng nhưng
không đáng kể 0,35 ha. Trong những năm trở lại đây, phát triển công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của phường theo hướng chuyên sâu, hộ gia
đình cá nhân là chủ yếu, các cơ sở sản xuất kinh doanh có trước đây.
+ Diện tích đất công cộng tăng 13,38 ha và chủ yếu phục vụ nâng
cấp, mở rộng, làm mới các công trình giao thông và các công trình có mục
đích công cộng.
Cơ cấu kinh tế phường Kim Long đang chuyển dịch từ nông nghiệp
sang tiểu thủ công nghiệp – thương mại, dịch vụ. Nếu xét về biến động diện
tích đất theo mục đích sử dụng từ năm 2006 – 2010 thì diện tích đất nông
nghiệp giảm 74,8 ha, đất phi nông nghiệp tăng từ 142,87 ha (năm 2006) lên

Trong một nghiên cứu được đăng trên tạp chí khoa học Đại học Huế,
tập 72B, số 3, năm 2012 nhóm nghiên cứu trường Đại học Kinh tế, Đại học
Huế khảo sát tại xã Phú Thượng cho thấy quá trình đô thị hóa đã làm
chuyển đổi ngành nghề lao động, lao động nông nghiệp giảm và lao động
phi nông nghiệp tăng biểu hiện cụ thể qua số liệu bảng sau:
Bảng 2.2. Chuyển đổi ngành nghề của lực lượng lao động xã Phú Thượng
trước và sau đô thị hóa

Sự hình thành các cụm công nghiệp, làng nghề mới trong quá trình
đô thị hóa cùng với phát triển các khu đô thị, nghề truyền thống tại địa
phương đã thu hút một lượng lao động trong tình trạng không có việc làm
ổn định, mang tính thời vụ sang có việc làm thường xuyên và thu nhập ổn
định. Cụ thể số lao động có việc làm thường xuyên tăng từ 69% lên 75,7%,
số lao động thời vụ giảm từ 19,8% xuống 8,1%.
Cùng với sự thay đổi việc làm, cơ cấu nghề nghiệp cũng có sự thay
đổi rõ nét, một lượng lớn lao động đã chuyển đổi ngành nghề sang buôn
bán, công nhân và các ngành nghề khác như thợ nề, thợ mộc, thợ may,...
Lao động nông nghiệp có sự chuyển đổi mạnh nhất từ 29,4% trước đô thị
hóa xuống còn 14,9% sau đô thị hóa.


Một số lao động còn gặp khó khăn trong chuyển đổi ngành nghề do
hạn chế về trình độ học vấn, tuổi tác và vốn để phát triển sản xuất. Chính
điều này làm cho số người chưa có việc làm và có việc làm không ổn định
chiếm tới 16,8%, hầu hết đây thuộc nhóm người tuổi cao, khả năng học
nghề mới hoặc tham gia các ngành nghề khác là rất khó khăn.
2.5. Thu nhập và đời sống của người dân sau quá trình đô thị
hóa
Xem xét vấn đề thu nhập và đời sống của người dân sau quá trình đô
thị hóa tại tỉnh Thừa Thiên Huế ta sẽ dựa vào số liệu điều tra của nhóm

bù không đúng mục đích như đã dùng tiền đền bù để xây dựng nhà cửa,
mua sắm xe máy... hoặc những hộ bị thu hồi đất nhưng không có cơ hội tìm
kiếm việc làm mới.
Sự thay đổi hoạt động sản xuất của hộ do nhiều nguyên nhân khác
nhau cả chủ quan lẫn khách quan. Qua số liệu điều tra cho thấy 62% số hộ
cho rằng mất đất sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân dẫn đến việc thay
đổi hoạt động sản xuất, 58% số hộ cho rằng thay đổi hoạt động sản xuất do
có cơ hội để tìm kiếm việc làm mới, việc làm phi nông nghiệp. Số hộ do
tình trạng sức khỏe, không tìm được việc làm chiếm 26%.
Như vậy, quá trình đô thị hóa đã tác động đến kinh tế của các hộ
nông dân ở các xã vùng ven đô. Kết quả phân tích cho thấy, hầu hết các hộ
nông dân ở xã Phú Thượng đều có sự thay đổi đáng kể về việc làm và thu
nhập so với trước đô thị hóa. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hộ nông dân chưa
thích nghi được với điều kiện mới để ổn định cuộc sống. Lao động đã có xu
hướng chuyển dịch theo hướng chuyển từ nông nghiệp sang các ngành
nghề phi nông nghiệp.
2.6. Các vấn đề môi trường cần quan tâm trong quá trình đô thị
hoá
Quá trình đô thị hoá đi liền với sự nghiệp công nghiệp hoá, phát triển
giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng điện, nước đã làm thay đổi bộ mặt của
các đô thị tại Thừa Thiên Huế. Công nghiệp phát triển, đô thị càng mở
rộng, dân số đô thị ngày càng tăng đã làm bùng nổ lượng chất thải khí,
nước thải và đặc biệt là chất thải rắn với khối lượng vượt quá khả năng thu


gom, xử lý, ở một số nơi vượt quá tầm kiểm soát của cơ quan chức năng
địa phương.

Hình 2.1. Bãi chôn lấp không hợp vệ sinh thị trấn Sịa, Quảng Điền
Tại thành phố Huế, tác động của đô thị hóa làm tăng diện tích xây

OneID=12&TwoID=99
4.

Khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá tác động của quá trình đô thị hoá đến
việc quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Huế”.

5.

Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang
đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2006 – 2010,
tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012.

6.

Tác động của đô thị hóa đến kinh tế hộ nông dân tại xã phú thượng,
huyện phú vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, tạp chí khoa học, Đại học Huế,
tập 72B, số 3, năm 2012.

7.

Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam

http://www.diaoconline.vn/tin-tuc/thi-truong-dia-oc-c18/thuc-trang-do-thihoa-o-viet-nam-i9039
8.

Thực trạng và giải pháp công nghệ xử lý chất thải rắn khu vực miền
Trung Tây Nguyên

http://stnmt.hue.gov.vn/?gd=1&cn=190&newsid=14-0-40
9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status