Công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ( nghiên cứu thực tế ở tỉnh hà tĩnh - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

NGUYỄN ĐỨC THẠCH

CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRONG
BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Ở TỈNH HÀ TĨNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

NGUYỄN ĐỨC THẠCH

CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRONG
BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Ở TỈNH HÀ TĨNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01


viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Thư viện Quốc gia, Thư viện Đại học
Quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Hà Tĩnh, Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tĩnh…
đã cung cấp những tài liệu quan trọng, quý báu cho tôi hoàn thành đề tài.
Học viên

guyễn ức Thạch

ii






U .........................................................................................................1
hng 1. S í U V H T G B V QUY
I
GI
G
ễ G
.................................................6
1.1. Quan im ca ch ngha ỏc- ờ nin, t tng H hớ inh v
ng ta v v trớ, vai trũ, chc nng ca t chc ụng on.....................6
1.1.1. Quan im ch ngha Mỏc-Lờnin v cụng on v tổ chức
cụng on .........................................................................................................6
1.1.2. T- t-ởng Hồ Chí Minh về cụng on và tổ chức cụng on .................10
1.1.3. Quan im c bn ca ng Cng sn Vit Nam v v trớ, vai trũ,
chc nng ca t chc Cụng on trong s nghip cụng nghip hoỏ,

doanh nghiệp ngoài hà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh .........................30
2.2.1. Công đoàn thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động ..........................30
2.2.2. Công đoàn tham gia kiểm tra, giám sát thi hành các quy định của
pháp luật lao động, các chính sách, chế độ liên quan đến người lao động ....36
2.2.3. Công đoàn thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể .................40
2.2.4. Công đoàn tham gia hoạt động quản lý, sử dụng lao động ..................43
2.2.5. Công đoàn tham gia đẩy mạnh công tác Bảo hộ lao động ...................48
2.2.6. Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công ......51
2.2.7. Công đoàn tổ chức nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người
lao động ...........................................................................................................53
2.3. ánh giá thực trạng công đoàn bảo vệ quyền lợi ngƣời lao động
trong các doanh nghiệp ngoài hà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ........57
2.3.1. Về ưu điểm .............................................................................................58
2.3.2. Về hạn chế ..............................................................................................64
2.3.3. Nguyên nhân ..........................................................................................66
hƣơng 3. PHƢƠ G HƢƠ G, GIẢI PHÁP Â G
V I TRÒ

Ô G
À TR G VIỆ BẢ VỆ QUYỀ
ỢI GƢỜI
Ộ G TẠI D
H GHIỆP G ÀI HÀ ƢỚ

Ô G
À TỈ H HÀ TĨ H ...................................................................68
3.1. Phƣơng hƣớng, mục tiêu bảo vệ quyền lợi ngƣời lao động tại
doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc của công đoàn tỉnh Hà Tĩnh ......................68
3.1.1. Phương hướng .......................................................................................68
3.1.2. Mục tiêu .................................................................................................69


H

Hợp đồng lao động

BH

Bảo hộ lao động



TT

Thỏa ước lao động tập thể

Nxb

Nhà xuất bản

CT-XH

Chính trị xã hội
Công nhân lao động
Liên đoàn Lao động
Công nhân, viên chức, lao động

V
TVS

-PCCN

kiện để các thành phần kinh tế phát triển nhất là doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
Tình hình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong những năm qua cho thấy,
khu vực kinh tế ngoài Nhà nước ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu,
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế góp phần tạo động lực mạnh mẽ
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự phát triển nhanh của các doanh
nghiệp ngoài nhà nước trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả to lớn. Đặc biệt là
huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển đất nước, tiếp thu khoa học công nghệ
hiện đại tiên tiến, xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước,
có ý nghĩa then chốt trong giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm, xóa đói giảm
nghèo, đào tạo phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động sâu sắc làm
chuyển dịch cơ cấu giai cấp công nhân nước ta. Cơ cấu, chất lượng đội ngũ công
nhân lao động ở nước ta ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và đang thay đổi
nhanh chóng. Bên cạnh sự thay đổi mang tính tích cực đã có nhiều bất cập xẩy ra:
Về việc làm, đời sống công bằng xã hội, quan hệ chủ thợ v.v… nhiều chủ doanh
nghiệp trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã không chấp hành, đã không làm
đúng các quy định của pháp luật lao động, vi phạm quyền lợi của người lao động
như việc làm, tiền lương, BHXH, BHYT, giao kết HĐLĐ, BHLĐ, ký kết TULĐTT,
điều kiện làm việc cho người lao động. Vì vậy đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong
quan hệ lao động, tình trạng tranh chấp lao động và đình công của các công nhân
lao động trong các doanh nghiệp ngày càng gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp,
nhất là trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước.
Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động đã được quy định
trong các văn bản pháp luật của nhà nước như Hiến pháp, Bộ Luật Lao động, Luật
Công đoàn và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, trên thực tế trong
1


những năm qua vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà
nước còn mờ nhạt. Do đó, nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền

Dương Văn Sao, (2003); “Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh”, Trường Đại học Công đoàn Việt Nam tr.169, Nxb Lao động, Hà Nội
(2006); “Báo cáo kết quả khảo sát thực tế về quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam, Hà
Nội (2007); “Công đoàn với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam”, Viện nghiên cứu phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh, (2008).
Tuy vậy, các công trình, bài viết nói trên chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò của
công đoàn trong doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nói riêng, hoặc trong phạm vi hẹp hơn (giải quyết tranh chấp lao động…), hoặc chỉ
tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn
trong các doanh nghiệp mà không đề cập đến thực trạng hoạt động của công đoàn
trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng như vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước. Chính vì vậy
việc nghiên cứu một cách sâu sắc, có hệ thống và đầy đủ vấn đề “Công đoàn bảo vệ
quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trong bối cảnh kinh tế
thị trường, hội nhập quốc tế” (nghiên cứu thực tế ở tỉnh Hà Tĩnh) mang ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.
3.

ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi người lao
động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua; làm rõ sự
cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong doanh
nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới, luận văn đề
xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào công nhân, viên chức, lao động và
hoạt động Công đoàn trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội Đảng các cấp nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công

tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ
của tổ chức Công đoàn.
4


- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
phương pháp so sánh, điều tra Xã hội học, phương pháp quan sát được sử dụng phù
hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để thực hiện được nhiệm vụ
và đạt được mục đích mà luận văn đề ra.
6. óng góp và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về lý lý luận của chủ nghĩa MácLênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công đoàn, vai trò của công
đoàn và vận dụng những quan điểm lý luận trên vào nghiên cứu vai trò của công
đoàn trong bảo vệ quyền lợi của người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước ở
tỉnh Hà Tĩnh.
- Phân tích thực trạng hoạt động của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài
nhà nước hiện nay. Qua đó góp phần đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò
của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời góp
phần hoàn thiện hệ thống chính trị, phát triển đất nước, địa phương theo hướng ổn
định vững chắc.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho cán bộ công đoàn
các cấp hoạt động, phục vụ công tác giảng dạy tại các trường đào tạo cán bộ công
đoàn các cấp và những ai quan tâm đến hoạt động công đoàn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động bảo về quyền lợi người lao động của
Công đoàn.
Chương 2: Thực trạng Công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động ở các
doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của công đoàn trong

ảng ta về vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức ông đoàn
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về công đoàn và tæ chøc công đoàn.
C.Mác và Ph.Ănghen là lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động thế giới, là những người đầu tiên phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân, chỉ ra đấu tranh giai cấp vừa là quy luật vừa là động lực phát triển của
lịch sử xã hội loài người khi xã hội phân chia thành giai cấp. Trong học thuyết của
mình, các ông đã nhiều lần đề cập đến vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn, đến tính
tất yếu phải thống nhất hoạt động Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của chính Đảng
của giai cấp vô sản.
Khi bàn về Công đoàn, Mác-Ănghen viết: “Các công đoàn đã trở thành
trung tâm tổ chức đối với giai cấp công nhân. Nếu công đoàn cần thiết cho công
cuộc đấu tranh du kích giữa tư bản và lao động thì công đoàn lại càng quan trọng
hơn với tư cách là lực lượng có tổ chức để tiêu diệt bản thân chế độ lao động làm
thuê và quyền lực của chủ nghĩa tư bản. Nhiệm vụ chính là giải phóng hoàn toàn
giai cấp công nhân, các tổ chức công đoàn phải rèn luyện để hoạt động một cách
tự giác với tư cách là trung tâm tổ chức giai cấp công nhân. Các công đoàn phải
ủng hộ mọi phong trào xã hội và chính trị nhằm mục tiêu ấy. Tự coi mình là đại
biểu của toàn bộ giai cấp công nhân và chiến đấu cho giai cấp đó, các công đoàn
phải thu hút vào hàng ngũ của mình cả những công nhân chưa đứng trong tổ
chức. Các công đoàn phải làm cho toàn thế giới tin rằng mình chiến đấu không
phải vì những quyền lợi cá nhân hẹp hòi, mà là để giải phóng hàng triệu người bị
áp bức”[1, tr. 236].
Phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa C.Mác trong điều kiện mới của lịch sử,
V.I. Lênin đã hoàn thiện lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản,
học thuyết về Đảng và Nhà nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
6


cộng sản, những vấn đề thuộc lý luận và thực tiễn hoạt động của công đoàn. Cụ thể
hoá những nguyên tắc về chiến lược, chiến thuật của phong trào công nhân của Đảng

Vấn đề vị trí của Công đoàn trong điều kiện chế độ xã hội chủ nghĩa là một
vấn đề lý luận quan trọng nhất trong học thuyết của Lênin về Công đoàn. Việc xác
định đúng vị trí của Công đoàn gắn liền với vấn đề nhận thức sâu sắc về tính chất,
vai trò của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội, qua đó, xác định
được nhiệm vụ của Công đoàn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong bài phát biểu cũng như các tác phẩm của V.I. Lênin về Công đoàn sau
thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga như: “Nhiệm vụ trước mắt của chính
quyền Xô Viết” (1918 và 1920), “dự thảo đề cương về vai trò, nhiệm vụ của Công
đoàn trong điều kiện thực hiện chính sách kinh tế mới” (1922), “thư gửi Đại hội V
Công đoàn Nga” (1922)… V.I.Lênin cho rằng: “các công đoàn đã trở thành tổ chức
của giai cấp lãnh đạo, thống trị nắm chính quyền của giai cấp, thực hiện nền chuyên
chính của giai cấp, thực hiện cưỡng chế của Nhà nước”. Vấn đề vị trí của công đoàn
trong điều kiện chế độ xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề lý luận quan
trọng nhất trong học thuyết của V.I. Lênin về công đoàn. Việc xác định đúng đắn vị
trí của công đoàn gắn liền với vấn đề nhận thức sâu sắc về vai trò của tổ chức công
đoàn trong hệ thống chính trị xã hội, trên cơ sở đó xác định được nhiệm vụ của
công đoàn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng: Công đoàn
theo vị trí của mình trong hệ thống chuyên chính vô sản đứng ở chỗ nếu như có thể
nói được là: “Giữa Đảng và chính quyền Nhà nước”.
Dưới chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, vị trí của công đoàn khác nhau
căn bản: Sự khác nhau đó là do quan hệ sản xuất mới, do vị trí mới của giai cấp
công nhân trong nền sản xuất xã hội quyết định.
Dưới chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một hình thức tổ chức của giai cấp
công nhân, Công đoàn đã trở thành một thành viên quan trọng trong hệ thống chính
trị xã hội chủ nghĩa.
Khi nói về vị trí của Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội của thời kỳ
quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. V.I. Lênin cho rằng: “trong hệ thống chuyên chính vô
sản Công đoàn có một vị trí ở giữa Đảng và chính quyền Nhà nước” và là chỗ dựa
vững chắc của chính quyền và Nhà nước. Nhận thức đúng đắn về vị trí của công
đoàn là một trong những nhân tố quan trọng làm cho toàn bộ hệ thống chuyên chính

Việt Nam”.
9


1.1.2. T- t-ëng Hå ChÝ Minh vÒ công đoàn vµ tæ chøc công đoàn.
Từ quan điểm tư tưởng trên của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp những tinh
hoa trong nghệ thuật dùng người của các nước Phương Đông và của cha ông chúng
ta trong suốt bề dày lịch sử, trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng lý luận về tư tưởng và tổ chức cho Công
đoàn Việt Nam. Năm 1925, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã nói đến
sự cần thiết phải thành lập Công hội cách mạng. Người chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của
tổ chức này: “Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có
cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công
nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là giúp
cho quốc dân, giúp cho thế giới”[21, tr.234].
Để xúc tiến cho việc thành lập tổ chức Công đoàn ở nước ta, năm 1926, trên
báo Thanh niên, Hồ Chí Minh đã nói đến hai cách tổ chức Công hội, đó là: “…chức
nghiệp tổ chức và sản nghiệp tổ chức. Chức nghiệp tổ chức là: nghề nghiệp nào tổ
chức theo nghề nghiệp ấy… sản nghiệp tổ chức là: không theo nghề nghiệp mà theo
những người làm ở chỗ nào thì tổ chức ở chỗ ấy”. Người thường nhắc nhở: “Mục
đích của Công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật
chất, văn hoá của giai cấp công nhân”[20, tr.52]. Trong Sắc lệnh số 29 - SL ngày
12/3/1947 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký, tại Điều 151 ghi: “Công đoàn là những đoàn thể lập ra, mục đích để bảo vệ quyền
lợi của công nhân về phương diện nghề nghiệp”.
Khi nói về nhiệm vụ của Công đoàn, Người nói: “Công đoàn phải làm cho
công nhân hiểu rõ trách nhiệm, nâng cao năng suất lao động là nguồn của cải to
lớn nhất; phải làm cho họ hiểu lỗ, lãi của đơn vị, việc sử dụng công suất máy móc,
việc tiêu hao nguyên liệu, vật tư… Công đoàn phải giáo dục công nhân có tinh
thần kiên quyết đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và phát triển kinh tế , đó

nghiệp cách mạng và tổ chức công đoàn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây
dựng, đào tạo và rèn luyện được đội ngũ cán bộ công đoàn, đầy bản lĩnh chính trị,
được trang bị bằng học thuyết Mác-Lênin, suốt đời nguyện hy sinh, phấn đấu vì độc
lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân và lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Đội
ngũ cán bộ dày dạn kinh nghiệm và bản lĩnh đó đã được tôi luyện và thử thách trong
gần một thế kỷ đấu tranh khốc liệt của cuộc cách mạng.
11


1.1.3. Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò,
chức năng của tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, được
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trong suốt chặng đường lịch sử hơn
80 năm qua, Đảng luôn giữ vững bản chất, lập trường của giai cấp công nhân, coi
giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt của liên minh công - nông - trí thức, đây là
vấn đề chiến lược, là điều kiện đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam
trong mọi thời kỳ lịch sử.
Đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động công nhân và tăng cường sức mạnh
cho tổ chức công hội đỏ, Ban Chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng
quyết định triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam vào
ngày 28/7/1929. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời
Đông Dương Cộng sản Đảng, phụ trách công tác vận động công nhân của Đảng đã
trình bày báo cáo chung trước Đại hội, trong đó nhấn mạnh đặc điểm, tình hình
phong trào công nhân, công hội trong giai đoạn sau đó. Từ Đại hội này, Tổng Công
hội đỏ miền Bắc Việt Nam, một tổ chức được Đảng Cộng sản thành lập đã trở thành
tổ chức công đoàn cách mạng, tiêu biểu của giai cấp công nhân Việt Nam. Nó là kết
quả tất yếu của phong trào công nhân vận động với sự truyền bá lý luận công đoàn
cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các Đảng viên Đảng Cộng sản vào
phong trào công đoàn nước ta. Công đoàn Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

cách mạng” và tiếp tục “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống
chính trị”[17, tr.13].
Triển khai các quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn,
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Công đoàn Việt Nam lần thứ V, VI, VII,
VIII, IX, X, XI đều xác định: Công đoàn Việt Nam có chức năng to lớn là tham gia
công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, động viên công nhân lao động và mọi
tầng lớp nhân dân lao động xây dựng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực
chất là bảo vệ tận gốc quyền lợi của giai cấp công nhân, thông qua việc tổ chức các
phong trào hành động cách mạng của quần chúng, tham gia kiểm tra, giám sát việc
thực hiện các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động.
Công đoàn còn có chức năng giáo dục cho công nhân lao động về chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước,
14


nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, nhận thức về khoa học công nghệ, các yếu tố
của nền kinh tế tri thức, động viên công nhân, lao động ra sức thi đua học tập nâng
cao trình độ văn hoá, trình độ tay nghề, ngoại ngữ để đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp
cách mạng mới.
1.1.4. Vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của Công đoàn trong doanh
nghiệp ngoài Nhà nước.
* Vị trí của Công đoàn Việt Nam
Vị trí của Công đoàn là chỗ đứng của Công đoàn trong hệ thống chính trị,
được xác định thông qua mối liên hệ giữa Công đoàn với các tổ chức thành viên
trong hệ thống chính trị và trong xã hội.
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trong bối cảnh
xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của Công đoàn Việt Nam được xác định từ Đại hội III
và đã được phát triển ở Đại hội VI - Công đoàn Việt Nam, cho đến nay: Công đoàn
Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị làm cầu nối giữa Đảng với quần
chúng; là người cộng tác đắc lực, chỗ dựa của chính quyền Nhà nước; là đại diện

dung hoạt động trong mối quan hệ giữa Công đoàn với người sử dụng lao động là
nhằm làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của CNLĐ; chung tay xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa,
ổn định, tiến bộ trong các doanh nghiệp.
Vị trí của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước:
Công đoàn là tổ chức chính trị, xã hội của công nhân và người lao động trong
doanh nghiệp, có vị trí là người đại diện hợp pháp duy nhất cho người lao động trong
quan hệ với giới chủ (người sử dụng lao động). Trong mối quan hệ đó, công đoàn và
chủ doanh nghiệp đảm bảo sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu
tranh nhằm giải quyết hài hoà và lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động. Nội
dung và mục đích của mối quan hệ giữa công đoàn và người sử dụng lao động là
nhằm làm cho doanh nghiệp phát triển, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng
của công nhân lao động. Công đoàn có trách nhiệm phối hợp với người sử dụng lao
động vận động đoàn viên, công nhân lao động sản xuất với năng suất với năng suất,
chất lượng và hiệu quả cao nhất…đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của
16


doanh nghiệp; tạo cơ sở ổn định việc làm, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao
thu nhập cho người lao động
* Vai trò của Công đoàn Việt Nam
Trong suốt quá trình phát triển của cách mạng, Công đoàn luôn có vai trò
tích cực tác động đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, góp phần
thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò “trường học” của Công đoàn vẫn được
khẳng định và nội dung của nó ngày càng được mở rộng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công đoàn Việt Nam vẫn thể hiện rõ vai
trò của mình đối với xã hội thông qua hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa
phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên lao động và đã đạt được
những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng.

nâng cao lập trường giai cấp công nhân, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng; phát huy
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân
loại; giáo dục lối sống mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; phòng chống
các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, học vấn;
quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNLĐ.
- Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên: Với vai trò là người đại diện và
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, có trách nhiệm
tham gia với nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần cho người lao động.
Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ công nhân, lao động trong
khu vực này có xu hướng giảm dần; công nhân, lao động trong các thành phần kinh
tế khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng chưa
phản ánh được đầy đủ sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn.
Qua thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ công nhân, lao động trình độ
giác ngộ về giai cấp còn hạn chế, ý thức và hiểu biết về pháp luật chưa cao, dẫn đến
tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, kỷ luật lao động còn nhiều. Thực
trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, thu nhập của người lao động, thậm
chí trở thành nguyên nhân của các vụ xung đột làm nãy sinh mâu thuẫn và các vụ
18


Trích đoạn Công đoàn tham gia hoạt động quản lý, sử dụng lao động Công đoàn tham gia đẩy mạnh công tác Bảo hộ lao động Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công Công đoàn tổ chức nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngườ Về các quy định của pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status