TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN KIM SOÀN
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC XOÀI CÁT
HÒA LỘC (Mangifera indica L.) THEO HƢỚNG
VIETGAP TẠI THỊ TRẤN BẢY NGÀN,
HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN KIM SOÀN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC XOÀI CÁT
HÒA LỘC (Mangifera indica L.) THEO HƢỚNG
VIETGAP TẠI THỊ TRẤN BẢY NGÀN,
HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
----oOo---Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sƣ Khoa
Học Cây Trồng với đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC XOÀI CÁT
HÒA LỘC (Mangifera indica L.) THEO HƢỚNG
VIETGAP TẠI THỊ TRẤN BẢY NGÀN,
HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Nguyễn Kim Soàn thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp ...........................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Luận văn tốt nghiệp đƣợc đánh giá ở mức:.................................................................
Thành viên Hội đồng
-------------------------
-----------------------------
DUYỆT KHOA
Trƣởng khoa Nông Nghiệp & SHƢD
----------------------------
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014
Chủ tịch Hội đồng
Các thầy, cô giáo trong Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng –
Trƣờng Đại học Cần Thơ – những ngƣời đã trực tiếp truyền đạt, trang bị kiến thức
cho em trong suốt thời gian học Đại học.
Thân gửi đến
Tập thể lớp Khoa Học Cây Trồng khóa 37 lời chúc sức khỏe và đạt đƣợc
nhiều thành công trong tƣơng lai.
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I. LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: Nguyễn Kim Soàn
Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 18/09/1991
Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Châu Phú, An Giang
Con ông: Nguyễn Văn Thông
Và Bà: Đặng Thị Sáu
Địa chỉ liên lạc: 369/10, ấp Hƣng Trung, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú,
tỉnh An Giang
Điện thoại: 01696 404 866
E-mail:
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1. Tiểu học
Thời gian đào tạo từ năm: 1998 đến năm 2004
cơ trong nhà và 10% hộ là cất giữ thuốc bảo vệ thực vật trong nhà. Dụng cụ bảo hộ
lao động đƣợc 66,7% số hộ trang bị tuy nhiên vẫn còn sơ sài chủ yếu là khẩu trang
và kính, 20% số hộ vẫn chƣa có cách xử lý rác hợp lý, còn vứt rác trên mƣơng liếp
và đổ xuống sông gây ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng. Nông dân vẫn còn sử
dụng thuốc cấm và 60% nông dân vẫn chƣa đƣợc tập huấn sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật. Đa số nhà vƣờn nơi đây không quan tâm đến vấn đề vệ sinh trái sau khi
thu hoạch (96,7%), 3,3% hộ có vệ sinh nhƣng chỉ rửa trái bằng nƣớc. Dụng cụ thu
hoạch và đựng trái không đƣợc vệ sinh kỹ, 86,7% nông dân không có tủ thuốc gia
đình. Hầu hết 100% nhà vƣờn không có sổ ghi chép sản lƣợng xoài sau thu hoạch.
MỤC LỤC
Nội dung
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG
DANH SÁCH HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU
GIANG
Trang
i
iv
vi
vii
1
1
NGUỒN GỐC CỦA XOÀI CÁT HÒA LỘC
2
1.4
GIÁ TRỊ CỦA CÂY XOÀI
3
1.5
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT XOÀI Ở VIỆT NAM
3
1.5.1
Tình hình sản xuất chung
3
1.5.2
Tình hình sản xuất theo GAP
3
ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY XOÀI
5
NHU CẦU SINH THÁI
6
1.7.1
Nhiệt độ
6
1.7.2
Lƣợng mƣa
6
1.7.3
Đất đai
6
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
6
1.8.1
1.7
1.8
1.9
i
1.9.1
Các yếu tố ảnh hƣởng tới sự ra hoa
7
1.9.2
Hóa chất xử lý ra hoa
9
SÂU, BỆNH HẠI
9
1.10.1
Bọ trĩ (Bù lạch) (Scirtothrips dorsalis Hood)
1.12
TRỒNG XOÀI THEO VIETGAP
11
1.12.1
Khái niệm GAP
11
1.12.2
Mục đích của GAP
11
1.12.3
Lợi ích của GAP
11
1.12.4
Quy trình kỹ thuật trồng xoài theo VietGAP
11
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1
GHI NHẬN TỔNG QUÁT
15
15
3.1.1
Đặc điểm vƣờn
15
3.1.2
Điều kiện tự nhiên
18
3.1.3
Thiết kế vƣờn
18
KỸ THUẬT CANH TÁC
19
3.2.1
25
3.3.3
Sự ra hoa
26
3.3.4
Quy trình ra hoa, đậu trái và phát triển trái xoài
28
SAU ĐẬU TRÁI
29
3.2
3.3
3.4
ii
Rụng trái non và sự ra đọt non trên xoài
3.5.5
Kiến thức của nông dân về BVTV trong sản xuất
33
TỈA TRÁI, BAO TRÁI VÀ HIỆN TƢỢNG NỨT TRÁI
34
3.6.1
Tỉa trái
34
3.6.2
Bao trái
34
3.6.3
Hiện tƣợng nứt trái
35
THU HOẠCH
3.7
CHƢƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1
KẾT LUẬN
4.2
ĐỀ NGHỊ
38
38
38
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
3.1
Tỉ lệ (%) số hộ theo chiều rộng mƣơng, liếp đƣợc điều tra tại
Thị Trấn Bảy Ngàn (Hậu Giang)
Tỉ lệ (%) số hộ theo khoảng cách, mật độ, kiểu trồng và mô
(Hậu Giang) sử dụng
Xử lý thuốc sau khi sử dụng thuốc của nông dân thị trấn Bảy
Ngàn (Hậu Giang)
Tỉ lệ (%) số hộ theo kiến thức sử dụng thuốc tại thị trấn Bảy
Ngàn (Hậu Giang)
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
3.19
Tên bảng
iv
Giá xoài bán tại vƣờn ở thị trấn Bảy Ngàn, huyện Châu
Thành A, tỉnh Hậu Giang năm 2012
Dụng cụ an toàn lao động của nông dân thị trấn Bảy Ngàn
(Hậu Giang)
v
34
36
37
DANH SÁCH HÌNH
Hình
1.1
1.2
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
Tên hình
Bản đồ vị trí địa lý huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
30
31
31
35
36
Mở đầu
Xoài (Mangifera indica L.) là cây ăn trái nhiệt đới, đƣợc trồng rải
rác khắp các nƣớc Đông Nam Á và tập trung chủ yếu tại: Ấn Độ, Trung
Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam1. Ở Việt Nam, xoài là
loại cây mang lại giá trị kinh tế cao nên đƣợc trồng khá phổ biến trên cả
nƣớc và đặc biệt là ở Đồng Bằng sông Cửu Long. Trong đó, xoài cát Hòa
Lộc đƣợc trồng nhiều nhất bởi phẩm chất trái ngon đƣợc rất nhiều ngƣời
tiêu dùng ƣa chuộng và giá trị kinh tế mà nó mang lại cao hơn hẳn so với
những giống xoài khác.
Theo Trần Thị Ba (2012) thì lối sống của ngƣời tiêu dùng ngày nay
thay đổi, xu hƣớng chất lƣợng cuộc sống tăng dẫn đến nhu cầu về sản
phẩm rau quả có chất lƣợng và an toàn tăng. Tuy nhiên, hiện nay việc
nông dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp nói
chung và canh tác xoài nói riêng diễn ra rất phổ biến. Việc này đã gây ra
các tác hại nhƣ: ô nhiễm môi trƣờng, để lại dƣ lƣợng thuốc trong trái, ảnh
hƣởng sức khỏe ngƣời tiêu dùng và vì vậy vô tình làm mất đi vị thế cạnh
tranh trái xoài của nƣớc ta với thị trƣờng nƣớc ngoài.
Một số nơi nông dân đã ý thức đƣợc tác hại to lớn đó nên tiến hành
cải thiện kỹ thuật canh tác của mình bằng việc thực hiện các mô hình canh
tác xoài theo hƣớng GAP và bằng chứng là: Ở Đồng Tháp năm 2011, hợp
tác xã xoài Mỹ Xƣơng đƣợc thành lập với 20 ha sản xuất xoài theo chuẩn
VietGAP và GlobalGAP, ở Tiền Giang năm 2012 các hợp tác xoài cũng
đƣợc thành lập. Trƣớc tình hình đó, nông dân thị trấn Bảy Ngàn (Hậu
1.2.1 Khí hậu
Tỉnh Hậu Giang nói chung, cũng nhƣ huyện Châu Thành A nói riêng có khí
hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mƣa có gió Tây Nam từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm.
Nhiệt độ trung bình là 27oC không có sự trên lệch quá lớn qua các năm. Tháng có
nhiệt độ cao nhất (35oC) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20,3oC). Mùa mƣa từ
tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92-97% lƣợng mƣa cả năm. Lƣợng mƣa ở
Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1.800 mm/năm, lƣợng mƣa cao nhất vào
khoảng tháng 9 (250,1 mm). Ẩm độ tƣơng đối trung bình trong năm phân hoá theo
2
/>
1
mùa một cách rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm
nhất khoảng 11%. Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và
giá trị độ ẩm trung bình trong năm là 82%3.
1.2.2 Thủy văn
Phần lớn lãnh thổ Hậu Giang nói chung, cũng nhƣ thị trấn Bảy Ngàn nói
riêng trong năm đều có thời kỳ ngập nƣớc, bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài khoảng 2-3
tháng. Độ sâu và thời gian ngập nƣớc tùy thuộc vào lƣợng nƣớc mƣa, độ cao tƣơng
đối, vị trí so với các dòng sông, kênh rạch. Hiện tƣợng ngập úng thƣờng đƣợc bắt
đầu do mƣa, sau đó tăng cƣờng do lũ sông Hậu. Các vùng cao ven sông Hậu và
những vùng phía Tây trong lƣu vực sông Cái Lớn thoát nƣớc tốt nên ít bị ngập hoặc
thời gian ngập ngắn. Vùng đất thấp có khả năng thoát nƣớc kém nên thời gian ngập
lụt dài hơn. Tùy theo mức độ ngập, có thể chia lãnh thổ Hậu Giang thành các vùng:
vùng ngập dƣới 30 cm, vùng ngập từ 30-60 cm, vùng ngập từ 60 cm trở lên. Và
Châu Thành A là vùng ngập dƣới 30 cm (Nguyễn Thanh Tùng, 2011).
1.2.3 Địa hình
Cũng nhƣ nhiều loại trái cây khác, ngoài vitamin A và C, trái xoài còn chứa nhiều
chất khác nhƣ protein, lipid, gluxit, tro, canxi (Ca), sắt (Fe), phốtpho (P)… Vitamin
A và C rất cần thiết cho trẻ em nhất là trẻ em suy dinh dƣỡng đồng thời rất cần thiết
cho ngƣời lớn phát triển bình thƣờng về thể trạng, về sự sáng suốt, sự nhạy cảm
(Nguyễn Văn Luật và ctv., 2004).
Ngoài việc trồng xoài lấy quả, cây xoài còn có nhiều công dụng khác: cây
xoài lá dày, xanh quanh năm nhiều bóng râm, là cây cảnh và che bóng tốt ở những
vùng nhiều nắng hay bị hạn. Hoa xoài nở rộ với số lƣợng rất nhiều cung cấp nhiều
mật cho ngƣời nuôi ong, có thể dùng làm thực phẩm cho con ngƣời và cũng là một
dƣợc phẩm. Hạt xoài trong có nhân nhiều tannin, có thể dùng làm thuốc trị giun sán,
bệnh ỉa chảy, xuất huyết nội (Vũ Công Hậu, 1999).
1.5 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT XOÀI Ở VIỆT NAM
1.5.1 Tình hình sản xuất chung
Xoài là loại cây đƣợc trồng phổ biến ở Việt Nam với 59/63 tỉnh, thành. Tổng
diện tích xoài cả nƣớc 2010 là 87.500 ha. Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng trồng
xoài lớn nhất cả nƣớc với 43.100 ha chiếm trên 49% so với cả nƣớc 4.
1.5.2 Tình hình sản xuất theo GAP
Đồng Tháp 2011, hợp tác xã xoài Mỹ Xƣơng đƣợc thành lập, có 42 xã viên,
trong đó 25 với 20 ha sản xuất xoài theo chuẩn VietGAP và GlobalGAP. Tiền
Giang có hợp tác xã xoài: Cẩm Thành, Cẩm Sơn, hợp tác xã xoài cát Hòa Lộc Hòa
Hƣng… Nông Trƣờng Sông Hậu có trên 150.000 cây xoài cát Hòa Lộc đƣợc trồng
trên diện tích 7.000 ha đã thành lập câu lạc bộ sản xuất xoài cát Hòa Lộc theo
hƣớng an toàn (Trần Văn Hòa và ctv., 2007).
4
/>
3
4
Đâm
chồi
Tích lũy chất
dinh dƣỡng
1
Phát triển
rễ
2
3
Trổ hoa
Thời kỳ quyết
định sự ra hoa
9
8
Thời kỳ
nghỉ ngắn
chín là 3 đến 3,5 tháng) (Trần Thế Tục, 2002).
Sự đậu trái:Ở xoài mỗi chùm có nhiều hoa song đậu quả ít, có chùm tối đa
10 quả (Thanh Ca chùm) hoặc 3 quả (xoài Cát) và cũng có chùm không đậu quả
nào. Xoài là cây thụ phấn chéo, thụ phấn nhờ côn trùng là chủ yếu. Một trong
những nguyên nhân làm cho xoài đậu quả kém là do khả năng tiếp nhận hạt phấn
của nhụy rất ngắn chỉ trong vài giờ (Trần Thế Tục, 2002). Theo Trần Văn Hâu
(2005), sự đậu trái ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố nhƣ giống, tỉ lệ hoa lƣỡng tính, sự
mở của bao phấn và sự nẩy mầm, sức sống của hạt phấn.
Xoài cát Hòa Lộc khó ra hoa và ra hoa không tập trung dẫn đến số lƣợng trái
trên cây ít và không đồng đều (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004). Tỉ lệ
đậu trái ở xoài rất thấp so với các loại cây ăn trái khác và điều náy có nghĩa là từ
1000 hoa lƣỡng tính trung bình chỉ có 1-2 trái đậu. Đây là một sự lãng phí dinh
dƣỡng đáng kể đối với cây xoài sau mỗi lần ra hoa (Phạm Thị Hƣơng và ctv.,2003).
5
Sự rụng trái non: Xoài có 3 giai đoạn rụng (Singh, 1954; Phạm Thị Hƣơng
và ctv.,2003):
-
Ở giai đoạn trứng cá (kéo dài 2-3 tuần) hoa và trái rụng rất nhiều.
-
Ở giai đoạn hạt đậu, sự rụng trái đƣợc đặt trƣng bởi sự ngừng phát triển ở các
trái non có đƣờng kính 5-35 mm, trái chuyển sang màu vàng, da nhăn lại.
-
1.8.3 Tỉa cành
Tỉa cành, tạo tán là khâu chăm sóc không thể thiếu đƣợc trong canh tác xoài
(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011). Việc cắt ,tỉa phải đƣợc thực hiện
thƣờng xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch trái, để cây ra đọt mới.
1.8.4 Bón phân
Với xoài chê độ bón phân có ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, nếu thiếu phân
cây sẽ ra trái cách năm (Nguyễn Danh Vàn, 2008).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), lƣợng phân cho cây 6-8 năm
tuổi đƣợc bón theo công thức 1,09-0,90-0,96 (kg N-P-K/cây/năm) chia ra làm 3 lần
bón cho cây: Sau thu hoạch, trƣớc xử lý ra hoa và sau khi đậu trái.
1.9 XỬ LÝ RA HOA
1.9.1 Các yếu tố ảnh hƣởng tới sự ra hoa
a. Nhiệt độ thấp
Nhiệt độ thấp là nguyên nhân chính dẫn đến quá trình ra hoa và đậu trái xoài.
Nhiệt độ ban đêm trong mùa đông từ 10oC đến 12oC thúc đẩy phát triển hoa. Nhƣng
khi nhiệt độ giảm xuống dƣới 10oC trong khi hoa đang nở có khả năng phấn hoa bị
ảnh hƣởng (Dirou, 2004). Theo Husen và ctv., (2012) khi ở nhiệt độ dƣới 20ºC thì
các cơ quan sinh trƣởng kiểm soát các chất điều hòa, sự phát triển của cây sẽ tiếp
tục làm giảm nồng độ giberellin và điều này phụ thuộc vào di truyền, làm giảm tỉ lệ
auxin, làm tăng nồng độ các cytokynin, tăng nồng độ axit absicic, ethylene, tăng
lƣợng nitơ và vì vậy mà làm tăng mức độ đƣờng sucrose, để các lá trƣởng thành và
nụ cuối cùng sẽ đƣợc tiếp nhận cảm ứng ra hoa.
b. Sự khô hạn
Sự khô hạn là 1 yếu tố quyết định sự ra hoa (sự phát triển mầm hoa) đƣa
mầm hoa ra khỏi thời kỳ miên trạng do đó xoài cát Hòa Lộc thƣờng ra hoa vào đầu
mùa khô, khoảng đầu tháng 11 dƣơng lịch đến tháng giêng năm sau. Khảo sát ảnh
hƣởng của sƣ khô hạn lên quá trình ra hoa xoài, bơ và vải, Chaikiattiyos và ctv.
(1994) cho biết sự khô hạn trong 2, 4, 8 tuần ngăn cản sự sinh trƣởng dinh dƣỡng và
kéo dài sự ra hoa cho tới khi cây đƣợc tƣới trở lại (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu,
Uyển, 2001). Theo Trần Văn Hâu (1997), khi xử lý ra hoa bằng PBZ cho cây xoài
cát Hòa Lộc 6, 7 và 8 năm tuổi, nhận thấy cùng liều lƣợng 5 g a.i./cây, cây 8 năm
tuổi có tỷ lệ ra hoa cao hơn cây 6 và 7 năm tuổi.
Tuổi lá
Trong thực tế sản xuất ở ĐBSCL, khi tiến hành kích thích ra hoa cho cây
xoài thì tuổi lá là yếu tố quan trọng quyết định thời điểm kích thích ra hoa, tuy
nhiên yếu tố này còn tùy thuộc vào từng giống khác nhau. Đối với giống xoài cát
Hòa Lộc khi lá có màu xanh nhạt chuyển dần sang xanh, mềm, còn dẻo là thời điểm
thích hợp để kích thích ra hoa, nhƣng đối với xoài Châu Hạng Võ, xoài Bƣởi, xoài
Thanh Ca thì thời điểm kích thích ra hoa là khi lá đang chuyển sang màu xanh đậm,
khoảng 4-5 tháng tuổi, tức là lá phải già hơn so với xoài cát Hòa Lộc (Trần Văn
Hâu, 2004).
f. Tình trạng sinh trưởng và năng suất năm trước của cây
Tình trạng sinh trƣởng của cây và năng suất năm trƣớc có ảnh huởng rất lớn
lên sự ra hoa xoài, đặc biệt đối với các giống xoài có hiện tƣợng ra trái cách năm
(năm trúng mùa, năm thất mùa). Cây xoài bị kiệt sức do đậu trái quá nhiều hoặc cho
năng suất cao trong năm trƣớc sẽ làm giảm khả năng đâm chồi và phân hóa mầm
8
hoa ở năm tiếp theo. Do đó, những năm cây đậu trái quá nhiều cần phải tỉa bớt trái
hoặc phải bón phân nhiều hơn để cây không bị suy kiệt ở năm tiếp theo (Sở Nông
Nghiệp phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp, 2009).
1.9.2 Hóa chất xử lý ra hoa
Trong việc điều khiển việc ra hoa trên cây xoài có nhiều hóa chất đƣợc sử
dụng mà dựa vào tác dụng của nó ta có thể chia làm 2 nhóm chính: các chất có tác
dụng phá miên trạng mầm hoa (Nitrate Kali và Thiourea) và chất ức chế sự sinh
2001).
9
1.10.3 Bệnh Thán thƣ (Colletotrichum gloeosporioides Penz)
Xuất hiện khá phổ biến nhất là trong mùa mƣa hoặc những thời điểm ban
đêm có nhiều sƣơng mù trong mùa khô. Nấm tấn công trên hoa, lá, trái, cành non.
o Trên lá non: có những đốm nhỏ nhƣ mũi kim có màu nâu sậm đến
đen, vết bệnh phát triển liên kết với nhau thành từng mãn và lan rộng
ra, có những lỗ thũng làm lá non không phát triển ảnh hƣởng đến khả
năng sinh trƣởng của cây.
o Trên bông: làm đen bông và rụng.
o Trên trái: bệnh nhiễm từ lúc trái còn non đến thu hoạch, lúc đầu vết
bệnh là những đốm nhỏ hình tròn, có màu nâu đen sau đó có nhiều
đốm kết lại với nhau thành những đốm lớn hơn lõm vào phần thịt trái,
làm cho thịt trái bị chai sƣợng và thối sau đó sẽ rụng.
Phòng trị: Vệ sinh vƣờn, tiêu hủy bộ phận bị bệnh, không nên trồng quá dày.
Những vƣờn thƣờng bị bệnh hàng năm nên dung thuốc phun ngừa. Định kỳ 7-10
ngày/lần các loại thuốc nhu Nustar, Antracol… (Nguyễn Danh Vàn, 2006).
1.10.4 Đốm vi khuẩn (Vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. mangiferaeindicae)
Bệnh phát triển nặng trong mùa mƣa, gây hại cả lá, nhánh và trái. Đốm bệnh
lúc đầu nhỏ nhƣ đầu kim có màu vàng, sau lớn dần có màu nâu nhạt, sau chuyển
thành màu nâu đậm, có viền màu tím sậm. Phần giữa vết bệnh có màu xám tro có
các vết đen là những ổ nấm. Vết bệnh ở lá có hình bầu dục hay biến dạng, khi lan
dần vào cuống lá làm chóp lá bí cháy khô.Trên trái, đóm bệnh tròn úng nƣớc, sau đó
lan nhanh làm thối trái. Bệnh lây lan nhờ nƣớc mƣa.
Phòng trị bệnh: Bằng cách cắt bỏ và tiêu huỷ các bộ phận bị bệnh để giảm
nguồn lây lan. Phun Copper- Zinc, Copper-B, Zineb hay Benomyl (Nguyễn Phƣớc
Tuyên và ctv., 2001).
1.10.5 Bệnh Phấn trắng (Nấm Oidium mangiferae)