Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ Trần
Thị Minh - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục
Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi để
tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Soi
NguyÔn ThÞ Soi
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực. Đề tài
chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác.
2.2. Không gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng viết cho thiếu nhi............ 19
2.2.1. Bức tranh làng quê sống động và gần gũi tuổi thơ trong những câu
chuyện đồng thoại ........................................................................................ 20
2.2.2. Bức tranh sông nước vùng Trung Trung Bộ được tái hiện trong “Quê
nội” và “Tảng sáng” ..................................................................................... 25
2.3. Thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng viết cho thiếu nhi ............. 36
2.3.1. Thời gian trong những sáng tác đồng thoại ......................................... 36
2.3.2. Thời gian gắn liền với những biến cố lịch sử trong “Quê nội” và “Tảng
sáng” ........................................................................................................... 40
KẾT LUẬN ................................................................................................. 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 50
NguyÔn ThÞ Soi
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong nền văn học của mỗi
dân tộc. Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và làm giàu
có tâm hồn của mỗi con người ngay từ thuở ấu thơ, là hành trang cho các em
trong suốt cuộc đời. Văn học thiếu nhi nói chung và truyện viết cho thiếu nhi
nói riêng ở nước ta đã xuất hiện từ thập kỉ 40 và đã có một số tác phẩm tiêu
biểu nhưng phải đến sau năm 1945 mới thực sự phát triển một cách có ý thức
với đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, nội dung phong phú và có những
khi đọc tác phẩm này đều bắt gặp lại một chút tuổi thơ của chính mình, đó là
những ước mơ, là khát vọng được làm một việc tốt, là những cái tinh nghịch
và sự ham mê chơi đùa có khi vô cùng vụng dại.
Một mảng khác cũng rất đặc sắc trong sáng tác của Võ Quảng là những
truyện đồng thoại được tập hợp trong hai tập “Những chiếc áo ấm” và “Bài
học tốt”. Có thể nói sau “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, bạn đọc trẻ thơ
lại tiếp tục được hưởng một niềm vui thực sự tươi mới và thú vị trong truyện
đồng thoại của Võ Quảng. Nó thực sự trở thành những bài học nhẹ nhàng và
thấm thía với các em.
Đối với chương trình văn học giảng dạy trong nhà trường, văn học thiếu
nhi cũng là bộ phận được những người biên soạn đặc biệt quan tâm. Trong đó
các tác phẩm của Võ Quảng nhiều năm được tuyển chọn và xuất hiện trong
chương trình Ngữ văn cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở. Thế giới tuổi thơ
trong sáng tác của ông thực sự hấp dẫn vì nó vừa điển hình cho tâm hồn, tình
cảm, tính cách của thiếu nhi trong bối cảnh lịch sử của đất nước một thời vừa
mang đậm bản sắc của một vùng quê rất cụ thể. Ở đó các em tìm thấy những
nét quen thuộc trong cuộc sống của mình và thấy sự thân thương bầu bạn. Là
một giáo viên trong tương lai, tôi mong muốn mình không chỉ làm cho các em
thêm hiểu biết về kiến thức mà còn giúp các em biết thưởng thức cái hay cái
đẹp của tác phẩm văn chương trên nhiều phương diện khác nhau. Do đó việc
lựa chọn đề tài: Không gian và thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng
viết cho thiếu nhi theo chúng tôi là một việc làm thiết thực và hữu ích.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nhìn một cách khái quát, có thể thấy rằng: từ khi tác phẩm đầu tay là tập
thơ Gà mái hoa ra đời năm 1957 cho đến suốt hơn bốn mươi năm cầm bút,
NguyÔn ThÞ Soi
2
Ngọc Bình, “Đặc điểm truyện đồng thoại của Võ Quảng” của Lê Nhật Ký…
Các bài viết trên đều tập trung vào nghiên cứu để làm nổi bật vị trí và
những đóng góp của Võ Quảng với nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Người ta
nhớ Võ Quảng không chỉ ở tài năng mà còn ở đức độ, ở tấm lòng và trên hết là
NguyÔn ThÞ Soi
3
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
sự cống hiến hết mình, sự nhiệt thành đối với trẻ thơ. Nhà nghiên cứu Phong
Lê đã viết trong lời bình cho “Tuyển tập Võ Quảng”: “Trên con đường chưa
phải rộng rãi lắm của văn học thiếu nhi Việt Nam thế kỉ XX, Võ Quảng là hình
ảnh một bộ hành chung thủy trong một cuộc đi vẫn còn là vắng vẻ và vất vả.
Vất vả, vắng vẻ nhưng ông vẫn là người trong số hiếm hoi, gắn nối văn mạch
dân tộc và khơi tiếp cho nó một dòng chảy mới sau năm 1945” [8, 366].
Còn Tô Hoài - tác giả “Dế mèn phiêu lưu kí” thì không chút ngại ngần
khẳng định: “Đã có nhiều truyện dài viết cho các em nhưng truyện viết cẩn
thận, công phu, có giá trị giáo dục và hãy vẫn còn hiếm.“Quê nội” là một
trong những truyện hiếm ấy. Nhà thơ dùng lối viết tiểu thuyết để viết lại
những kỉ niệm đối với quê hương. Trong văn học Việt Nam, chúng ta đã dọc
những tác phẩm hay như thế: “Chiếc lá xanh” của Lưu Trọng Lư, “Phấn
thông vàng” của Xuân Diệu…nhưng “Quê nội” của Võ Quảng có vẻ đẹp cao
rộng hơn.” [xem 5].
hiện thêm những nét đặc sắc của hình tượng hai nhân vật Cục và Cù Lao. Là
người của Hòa Phước, nhưng cả hai vẫn có sự sống riêng, vẫn có sức lan tỏa
của những nhân vật điển hình. Từ đó, cũng như nhiều người khác, giáo sư
Phong Lê đã khẳng định đó là “một bộ truyện nổi tiếng” vì với “Quê
nội” và “Tảng sáng”, Võ Quảng “đã bổ sung thêm vào danh mục bảo tàng
văn chương hiện đại một cái tên riêng là Hòa Phước…"
Nhận xét về “Đồng thoại qua ngòi bút của Võ Quảng”, nhà nghiên cứu
Vũ Ngọc Bình đã viết: “Phần lớn truyện cấu trí trên những sự tích dân dã.
Câu văn anh thường ngắn và động bởi có lắm động từ. Chỉ vài nét phác họa,
anh đã dựng lên một cảnh trí, một tình huống trong đó màu sắc, âm thanh, ý
nghĩa và hành động cùng xôn xao, quẫy cựa lên để rồi sau đó tất cả lại lặng
tắt đi, trầm lắng sau cái ngụ ý, cái ngôn náu bên trong câu, chữ. Phải chăng
vì thế một số đồng thoại của anh mang dáng dấp ngụ ngôn. Tự nhiên tôi nghĩ
cách viết truyện của Võ Quảng khác nào công phu một con trai trong “Trai
và Ốc Gai” đã chắt lọc ánh sang màu sắc của mặt trời và mặt trăng, của sao
đêm và biển cả để làm nên ngọc quý. Nếu tư tưởng và ngôn ngữ được chắt lọc
thành những tia sáng và gam màu tinh diệu rút ra từ cuộc sống và lao động
sáng tạo - thì có thể xem đó là văn chương - ngọc quý” [1, 5].
Trong bài viết “Đặc điểm đồng thoại của Võ Quảng”, tác giả Lê Nhật
Ký cũng cho rằng: “Võ Quảng đã viết truyện đồng thoại trong niềm say mê,
trong cái hứng thú của người thích rủ rỉ và lắm lúc hóm hỉnh kể chuyện loài
vật cho các em…Đó thực sự là những “công trình sư phạm”mang đậm bản
NguyÔn ThÞ Soi
5
Líp K35 GDTH
Chương 1: Cơ sở lý luận chung.
NguyÔn ThÞ Soi
6
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ
Quảng viết cho thiếu nhi.
NguyÔn ThÞ Soi
7
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
1.2. Không gian và thời gian nghệ thuật trong văn học
1.2.1. Khái niệm về không gian nghệ thuật
Nói tới không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một vấn đề có
nhiều tranh cãi, nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, các quan niệm đều
gặp gỡ nhau trong quan niệm cho rằng: không gian nghệ thuật không đồng
nhất với không gian hiện thực. Đó là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà
con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong không
gian đó. Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình thức tồn
tại của thế giới nghệ thuật, là phạm trù thuộc hình thức nghệ thuật. Tuy nhiên,
điều đặc biệt ở chỗ, không gian nghệ thuật là hình thức mang tính nội dung.
Nếu mọi vật trên thế giới đều tồn tại không gian ba chiều: cao, rộng, xa và
chiều thời gian, thì không có hình tượng nghệ thuật nào đó. Nhưng không gian
nghệ thuật có những đặc điểm riêng của nó: trong nghệ thuật, sự miêu tả, trần
thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn diễn ra từ một trường nhìn nhất
định. Qua đó, thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ qua toàn bộ quảng tính
của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục - ngắt quãng, cao - thấp, xa - gần, rộng
- dài… tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. I.U.Lotman cho rằng: “Việc chú ý đến
vấn đề không gian về thời gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi
tác phẩm như một trong không gian được khu biệt theo một cách nào đó, phản
ánh trong cái hữu hạn của mình một đối tượng vô hạn - là thế giới ngoài tác
phẩm” [11, 367].
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đưa khái niệm không gian nghệ thuật như sau:
“Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại bên trong của hình thức nghệ
thuật thể hiện chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao
giờ cũng xuất phát từ một “điểm nhìn” diễn ra trong một “trường nhìn” nhất
của một thế giới tinh thần, trong đó sự vật có cách biểu hiện và tổ chức theo ý
nghĩa riêng. Nó là một hiện tượng ước lệ mang ý nghĩa cảm xúc và trở thành
phương tiện chiếm lĩnh đời sống vì không gian nghệ thuật luôn gắn với môi
trường hoạt động cụ thể, với điểm nhìn, trường nhất định.
Thế giới không gian nghệ thuật có thể chia thành các tiểu không gian, giữa
các tiểu không gian có các đường ranh giới có thể hoặc không thể vượt qua. Đó
có thể là không gian điểm, không gian tuyến hoặc không gian mặt phẳng.
Không gian điểm được xác định bằng các giới hạn và tính chất, chức
năng của nó. Chẳng hạn như: không gian quảng trường có tính chất rộng,
NguyÔn ThÞ Soi
10
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
không gian bãi chiến trường ở nơi chiến đấu, không gian ngôi nhà là nơi diễn
ra sinh hoạt riêng tư.
Không gian tuyến và không gian mặt phẳng lại có thể vươn ra chiều
rộng hoặc chiều thẳng đứng. Không gian tuyến có thể hướng theo chiều dài
như không gian con đường, đường đời. Lại có thể phân chia không gian nghệ
thuật thành không gian hành động (không gian diễn ra hành động của con
người) và không gian trữ tình.
Xét trong mối quan hệ với thời gian, không gian nghệ thuật có sự tương
quan chặt chẽ với thời gian nghệ thuật. Khi tác giả dừng lại để khắc họa
1.2.2. Khái niệm về thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật là phạm trù thi pháp ngày càng có tầm quan trọng,
bởi con người muốn cảm nhận được toàn bộ thế giới phải qua thời gian và
không gian. Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề thời gian nghệ thuật.
Trong cuốn “Thi pháp thơ Đường”, tác giả Nguyễn Thị Bích Hải định
nghĩa: “Thời gian là một đại lượng để xác định quá trình tồn tại, vận động,
phát triển của mọi vật, mọi sự trong thế giới” [xem 2]. Thời gian là một
phương diện và cũng là một phương tiện quan trọng của nghệ thuật nói chung
và văn học nói riêng. Nhà lí luận văn học Nga D.X Likhachop cho rằng:
“Thời gian vừa là khách thể vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh
của văn học, rằng văn học ngày nay càng thấm nhuần ý thức và cảm giác về
sự vận động của thế giới trong hình thức hết sức đa dạng của thời gian” [10,
61]. Vậy thời gian nghệ thuật được hiểu thế nào?
Thời gian nghệ thuật là một trong những vấn đề hiện đại của nghiên
cứu văn học. Phạm trù mĩ học này trên thế giới đã được phổ rộng rãi và không
gian xa lạ gì vì nó toát ra từ nguyên lí cơ bản của mĩ học xem văn học là một
thế giới nghệ thuật đặc thù không đồng nhất với thế giới thực tại.
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” các tác giả cho rằng: Thời gian
là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của
nó” [4, 160]. Là hình thức tồn tại của thế giới vật chất, thời gian cũng như
không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như một yếu
tố của nó. Nếu như mọi sự vật hiện tượng của thế giới khách quan khi đi vào
nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng, tình cảm, được nhào nặn và sáng tạo
trở thành một hình tượng nghệ thuật phù hợp với một thế giới khách quan,
phương pháp sáng tác, phong cách truyền thống và thể loại nhất định thì thời
gian trong tác phẩm cũng như thế. Nó được coi là thời gian nghệ thuật như đã
được quen gọi tính cách nghệ thuật, xung đột nghệ thuật.
NguyÔn ThÞ Soi
lịch sử trừu tượng. Các tác giả của chủ nghĩa hiện thực lại đi theo hướng khác
đó là tìm hướng tổng hợp giữa thời gian sinh hoạt hằng ngày của con người
với thời gian lịch sử của các sự kiện lịch sử xã hội.
J.P Sartec nhận xét: “Phần đông các nhà văn hiện tại Paoust, Royce,
Dospassos, Faulkner, Gide mỗi người đều phải hủy hoại thời gian theo cách
riêng. Có người đã cắt bỏ quá khứ và tương lai rút gọn thời gian vào khoảng
NguyÔn ThÞ Soi
13
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
khắc trực giác, có người như Dospassos lại biểu hiện thời gian thành nhiều kí
ức hạn chế và máy móc. Paoust, Faulkner thì chỉ giản đơn chặt đầu thời gian.
Họ tước bỏ tương lai của nó tức bỏ cái chiều lực chọn và hoạt động tự do của
con người [xem 19].
Như vậy, ta có thể hiểu thời gian nghệ thuật là thời gian được đưa vào
tác phẩm với ý đồ của tác giả trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận
động, tái tạo dòng thời gian với những nhịp độ khác nhau. Sự vận động thời
gian trong tác phẩm văn học phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống. Có
lúc trong một thời gian ngắn chất chứa biết bao sự kiện biến đổi nhanh chóng
của cuộc sống và đời người.
Sự cảm thụ về thời gian gắn liền với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời,
với quan niệm về thế giới và lịch sử, với mơ ước lí tưởng và năng lực hoạt
chính là cách xử lí thời gian trong tác phẩm văn học của nhà văn để tạo ra thời
gian nghệ thuật theo ý đồ của tác giả.
Xem xét thời gian trong tác phẩm văn học chính là đi xem xét cách xử
lí thời gian, xem xét các bình diện của tổ chức thời gian, các lớp thời gian,
trình tự thời gian và nhịp điệu thời gian.
NguyÔn ThÞ Soi
15
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
CHƯƠNG 2
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
VĂN XUÔI VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG
2.1. Vài nét về mảng văn xuôi Võ Quảng viết cho thiếu nhi
Võ Quảng sinh ngày 1 tháng 3 năm 1920 trong một gia đình nhà nho
trung lưu ở xã Đaị Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thu Bồn, Quảng Nam
- Đà Nẵng (con sông đã in dấu ấn đậm nét trong nhiều sáng tác của Võ
Quảng). Ông chịu ảnh hưởng lớn của cha, là một nhà nho về lòng say mê văn
học. Ông sớm tham gia Cách Mạng và giữ nhiều chức vụ quan trọng. Nhưng
từ năm 1954, Võ Quảng tập kết ra Bắc. Kể từ đó, ông chỉ chuyên tâm sáng tác
văn học cho thiếu nhi. Ông là một trong những người tham gia sáng lập nhà
xuất bản Kim Đồng và cũng đã bỏ nhiều tâm sức xây dựng nền móng đầu tiên
đúng nơi, có thể chấp nhận về phương diện thẩm mĩ. Vượt ranh giới đó,
tưởng tượng sẽ đi đến tùy tiện, bông lông. Tưởng tượng đó sẽ biến thành
hoang đường” [xem 14]. Chính vì ý thức được ranh giới cho phép của tưởng
tượng, truyện đồng thoại của Võ Quảng nhẹ nhàng mà sâu sắc. Ông đề cập tới
những vấn đề thật giản dị, gần gũi trong cuộc sống của con người, nhưng lại
đem đến cho trẻ thơ những bài học thật thấm thía về cách đối nhân xử thế
trong những mối quan hệ hàng ngày, giúp các em vững vàng trong quá trình
hoàn thiện nhân cách của mình.
Võ Quảng không ham viết dài. Truyện của ông thường ngắn và động.
Chỉ bằng vài nét phác họa, ông đã dựng nên một cảnh trí, một tình huống, mà
ở đó có đủ màu sắc, âm thanh sống động, làm toát lên ý nghĩ cũng như tư
tưởng của người viết. Truyện của ông mang dáng dấp của những ngụ ngôn.
Nhìn chung, truyện đồng thoại của Võ Quảng viết giản dị, dễ hiểu,
đúng như ông từng quan niệm: “Tác phẩm văn học viết cho các em là một
công trình sư phạm. Người viết cần cân nhắc nên nói cái gì, nói như thế nào
để có lợi cho tâm hồn các em mà không ảnh hưởng đến sự thể hiện nghệ
thuật… Một quyển sách tốt có lúc mở cho các em thấy một ước mơ tốt đẹp,
ước mơ đó các em theo đuổi mãi cho đến khi khôn lớn” [xem 13]. Có thể nói,
những truyện đồng thoại của Võ Quảng là những “công trình sư phạm” góp
phần giáo dục các em cả về trí tuệ, thẩm mĩ và về phép đối nhân xử thế trong
cuộc sống.
Truyện viết về Quê hương và Cách Mạng của Võ Quảng có các tập
tiêu biểu như: Cái thăng (1961), Chỗ cây đa làng (1964), Quê nội (1973),
NguyÔn ThÞ Soi
17
Líp K35 GDTH
NguyÔn ThÞ Soi
18
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
mạng: càng yêu quê hương thì càng thêm yêu cách mạng, và càng gắn bó với
cách mạng thì càng thêm yêu quê hương.
2.2. Không gian nghệ thuật trong văn xuôi Võ Quảng viết cho thiếu nhi
Như đã trình bày mảng văn xuôi của Võ Quảng viết cho thiếu nhi khá
phong phú. Ngoài những truyện đồng thoại, những sáng tác còn lại có thể thâu
tóm trong một đề tài bao trùm là “Quê hương” và “Cách Mạng”. Chính vì thế
không gian nghệ thuật trong văn xuôi cũng mang hình ảnh của bức tranh làng
quê, của cuộc đấu tranh dân tộc trong thời kì kháng chiến, là không gian của một
làng nọ, vùng kia rất phiếm chỉ, nhưng người đọc tìm thấy bóng dáng của cuộc
sống thường nhật vừa gần gũi vừa thân quen trong các câu chuyện của tác giả.
Nói cách khác, không gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ
Quảng không mang tính chất huyền bí, xa lạ mà đó thường là bối cảnh sinh hoạt
đời thường.
Có thể nói, với cách dựng không gian như thế, các tác phẩm Võ Quảng
viết cho thiếu nhi rất đậm đà màu sắc thế sự. Con người trong thế giới ấy vẫn
phải lo cái ăn, cái mặc, lo kiếm sống mỗi ngày. Con người trong thế giới đó
không chỉ chứng kiến những điều kì ảo, có khát vọng làm những việc phi thường
mà còn phải đối diện với biết bao lo toan cho cuộc sống thường nhật, rồi sau
dựng nên một cảnh trí, một tình huống, mà ở đó có đủ âm thanh, màu sắc
sống động, làm toát lên ý nghĩ và tư tưởng của người viết. Nó giáo dục cho
các em về cả trí tuệ, thẩm mĩ và cả phép đối nhân xử thế trong cuộc sống.
Gần gũi và gắn bó với tuổi thơ, Võ Quảng đã dành hết tâm hồn và tài
năng xây dựng nên những câu chuyện đồng thoại nhỏ nhắn và xinh xắn, hồn
nhiên và đậm đà triết lí. Trong truyện đồng thoại của Võ Quảng, không gian
được tái hiện nhiều nhất là khung cảnh làng quê Việt Nam. Cái thế giới nhỏ
xinh chỉ quanh nhà, mảnh sân, khu vườn, hồ nước, cái ao, dãy núi, khoảng
trời mùa thu mênh mông nhưng tất cả đều hiện lên với dáng vẻ phong phú,
rộn rã màu sắc và âm thanh. Điều này rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ. Bởi vì
các em còn nhỏ, vốn sống chưa có là bao nên nhà văn đã viết về những gì các
em quan sát được, cảm nhận ở ngay xung quanh ngôi nhà bình dị của mình.
Đó là một thế giới rất đỗi gần gũi, thân quen nhưng ẩn bao điều diệu kì đang
đợi các em khám phá. Vẫn là một chú mèo hoang, đàn trâu, một đàn gà liếp
nhiếp, dãy mí, hàng cau, hàng chuối, bụi cỏ, con giun đất, đàn bướm, chim
NguyÔn ThÞ Soi
20
Líp K35 GDTH
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
chiền chiện, đàn bồ chao, chim cun chút, đàn kiến, chú cò trằng, đàn vịt bầu,
chú kì đà, chú cá giếc, loài ong vàng, vầng trăng tròn… qua đôi mắt ngây thơ
của các em đã trở thành một thế giới sinh động. Đó thật sự là “những vật
Khãa luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi
cóc tía, kì đà… Các loài vật gắn bó với nhau trở thành những đôi bạn thân. Cá
Giếc và Nòng Nọc đều sinh ra trong một hồ nước, chúng rất “tâm đầu ý hợp,
cùng trườn, cùng bơi, cùng chui, cùng nhảy thích thú”, đến khi Nòng Nọc
biến thành Nhái Bén vẫn không quên người bạn cũ mà thường xuyên về chơi
hồ nước năm nào. Nòng Nọc còn quyết tâm cho Giếc biết “nhảy cao, nhảy lên
lá sen để cùng Nòng Nọc ngắm hồ, ngắm sương sa, ngắm ráng đỏ”, cùng
nhau thưởng thức món rong nâu và ốc sên. Những câu chuyện đồng thoại của
Võ Quảng cứ giản dị và êm dịu như thế, đây đó trong hoạt cảnh về các loài
vật lại điểm xuyên những bức tranh thiên nhiên tươi sáng đầy sức sống:
“Những cơn mưa phùn kéo dài bỗng chấm dứt. Mây mù tan biến. Bầu trời
như được ai cầm chiếc khăn lau sạch. Cây cỏ quanh hồ như được thay lá đổi
màu. Hàng ổi ném xuống mặt nước những hoa trắng đầy phấn ngọt. Chợt hoa
phượng thắp đỏ cả góc hồ” (Mắt giếc đỏ hoe). Khung cảnh tươi sáng, trong
trẻo và chan chứa chất thơ: “Tiếng hót chim Cu vang lên vào đúng lúc canh
trưa, êm như tiếng ru làm cho xóm làng thêm tĩnh mịch. Tiếng hót của Chèo
Bẻo vang lên vào lúc rạng đông làm cho mặt trời càng trong suốt”. Những
tiếng chim gợi cảnh thiên nhiên đồng nội thanh bình như bao đời nay vẫn thế,
mang đến sự trong trẻo và xanh cao vời vợi, đẩy sâu thêm vào nỗi nhớ, làm
thức dậy một nỗi niềm gì thật man mác, bâng khuâng. Đó là kí ức về một
miền thơ ấu đang lắng đọng trong tâm hồn mỗi người.
Với trí tưởng tượng bay bổng, không gian của đồng thoại còn được mở
rộng xa hơn phù hợp với tầm nhìn và sự quan sát của trẻ thơ. Trong những
ngày hạn hán, các loài vật cảm nhận rõ rệt sự thay đổi của thiên nhiên: “Trời
nổi cơn nắng dữ. Ao hồ cạn hết, cây cối khô queo. Đất trời hoàn toàn trống