Tiểu luận quan hệ kinh tế quốc tế HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY TRONG NƯỚC - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LỚP NGOẠI THƯƠNG K17

Môn học:
QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN NHÓM
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ
ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY TRONG NƯỚC



1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LỚP NGOẠI THƯƠNG K17

Môn học:
QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN NHÓM
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ ẢNH
HƯỞNG ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY TRONG NƯỚC
GVHD: Th.S Hoàng Thu Hằng
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Ngọc Thúy Tiên
Đặng Thị Bích Trang
Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Vũ Thị Luyến

3.4. Giải pháp..............................................................................................................36
3.4.1. Giải pháp từ phía cơ quan nhà nước.................................................................36
3.4.1.1. Chính sách......................................................................................................36
3.4.1.2. Đào tạo nguồn nhân lực.................................................................................41
3.4.1.3. Xúc tiến thương mại......................................................................................42
3.4.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp........................................................................43
3.4.2.1. Hiện đại hóa công nghệ.................................................................................43
3.4.2.2. Có chiến lược dài hạn....................................................................................45
3.4.2.3. Hình thành liên kết trong ngành....................................................................46
3.4.2.4. Chú trọng thị trường nội địa..........................................................................47
KẾT LUẬN

3


1. Tổng quan về hiệp định TPP (Trans-Pacific Partnership)

1.1.

Lịch sử hình thành và tiến trình đàm phán

Hiệp định TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) hay còn được
biết đến dưới cái tên Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương đang là một
trong những đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong suốt thời gian qua bởi tham vọng và
một quá trình đàm phán kéo dài. Hiệp định ban đầu được khởi xướng bởi 3 quốc gia gồm
Chile, New Zealand và Singapore với mong muốn tiến đến ký kết Hiệp định Đối tác kinh
tế chiến lược giữa các quốc gia này với nhau nhân Hội nghị cấp cao Apec được tổ chức
tại Mexico năm 2002. Chính vì vậy hiệp định còn có tên gọi là hiệp định P3. Đến tháng 4
/2005, Brunei xin tham gia với tư cách là thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán
cuối cùng kết thúc và lúc này P3 đã trở thành P4.

thương mại và có liên quan đến thương mại. Bên cạnh việc cập nhật các cách tiếp cận
truyền thống đối với những vấn đề đã có trong các Hiệp định mậu dịch tự do (FTAs)
trước đây, Hiệp định TPP bao gồm thêm những vấn đề thương mại mới, đang nổi và
những vấn đề xuyên suốt. Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong
5


các FTA, các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để
thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao
sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các
quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành
viên. Lời văn của Hiệp định sẽ bao trùm toàn bộ các khía cạnh của quan hệ thương mại
giữa các thành viên TPP. Sau đây là các vấn đề đang được đàm phán và tóm tắt những
tiến bộ đã đạt được.
Trong lĩnh vực Cạnh tranh: Lời văn của Chương Cạnh tranh sẽ giúp thúc đẩy môi trường
kinh doanh cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho
các doanh nghiệp của các thành viên TPP. Các nhà đàm phán đã đạt được tiến bộ quan
trọng về lời văn, bao gồm các cam kết về việc thiết lập và duy trì các luật và các cơ quan
quản lý cạnh tranh, thủ tục công bằng trong việc thực thi luật cạnh tranh, minh bạch hóa,
bảo vệ người tiêu dùng, quyền riêng tư về hành động và hợp tác kỹ thuật.
Trong lĩnh vực Hợp tác và Nâng cao năng lực: Các thành viên TPP nhất trí rằng việc
nâng cao năng lực và các hình thức hợp tác khác là hết sức quan trọng, cả trong giai đoạn
đàm phán và giai đoạn sau khi kết thúc đàm phán, trong việc hỗ trợ các nước thành viên
nâng cao khả năng thực thi và tận dụng lợi ích của Hiệp định. Các thành viên thừa nhận
các hoạt động nâng cao năng lực có thể là công cụ hiệu quả giúp giải quyết những nhu
cầu cụ thể của các nước đang phát triển nhằm đáp ứng những các tiêu chuẩn cao của Hiệp
định mà các thành viên TPP đã nhất trí hướng tới. Với tinh thần đó, các thành viên đã
triển khai một số hoạt động hợp tác và nâng cao năng lực nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ
thể và đang lên kế hoạch về những hoạt động bổ sungnhằm hỗ trợ các nước đang phát

trọng cũng như nâng cao tính hỗ trợ lẫn nhau giữa thương mại và môi trường. Các thành
viên TPP đã nhất trí lời văn của “Chương Môi trường” nên bao gồm những điều khoản
chặt chẽ về các cấp độ bảo vệ môi trường và việc thực thi luật, đồng thời tiếp tục thảo
luận việc xây dựng một cơ chế hiệu quả để giám sát việc triển khai và hình thành một
khuôn khổ hợp tác đặc thù nhằm đáp ứng những nhu cầu về xây dựng năng lực. Các
thành viên cũng đang thảo luận những đề xuất về những vấn đề mới như đánh bắt thủy
sản và các vấn đề bảo tồn khác, đa dạng sinh học, sự xâm lấn của các sinh vật lạ, biến đổi
khí hậu, hàng hóa và dịch vụ môi trường.
7


Trong lĩnh vực Dịch vụ tài chính: Lời văn của chương này đề cập đến đầu tư vào các thể
chế tài chính và thương mại qua biên giới trong dịch vụ tài chính sẽ giúp đảm bảo tính
minh bạch, không phân biệt đối xử, đối xử công bằng với các dịch vụ tài chính mới, các
biện pháp bảo vệ đầu tư và một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả để thực hiện những
biện pháp bảo vệ này. Những cam kết này sẽ tạo ra những cơ hội mở cửa thị trường, làm
lợi cho doanh nghiệp và người tiêu dùng về các sản phẩm tài chính, đồng thời đảm bảo
quyền của các cơ quan quản lý tài chính trong việc đảm bảo tính liêm chính và duy trì sự
ổn định của các thị trường tài chính, bao gồm cả trong tình huống khủng hoảng tài chính.
Trong lĩnh vực Mua sắm Chính phủ: Lời văn “Chương Mua sắm Chính phủ” đảm bảo
rằng các hoạt động mua sắm được điều chỉnh ở chương này sẽ được thực hiện một cách
công bằng, minh bạch và không phân biệt đối xử. Các nhà đàm phán TPP về cơ bản đã
nhất trí về các nguyên tắc và các thủ tục tiến hành các hoạt động mua sắm chính phủ
được điều chỉnh bởi chương này, và đang xây dựng các nghĩa vụ cụ thể. Các thành viên
TPP đang tham chiếu các phạm vi về mua sắm hiện hành của tất cả các nước, đồng thời
công nhận nhu cầu tạo thuận lợi cho việc mở cửa thị trường mua sắm chính phủ của các
nước đang phát triển thôngqua việc sử dụng các biện pháp mang tính quá độ.
Trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ: Các thành viên TPP đã nhất trí tăng cường và xây dựng các
quyền và nghĩa vụ dựa trên Hiệp định của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) về
những khía cạnh liên quan đến thương mại củaquyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) nhằm đảm

các điều khoản liên quan đến thực thi hiệp định, bao gồm các quy tắc rõ ràng và hiệu quả
nhằm giải quyết các tranh chấp và đang thảo luận một số vấn đề cụ thể liên quan đến tiến
trình này. Các thành viên TPP cũng đã đạt được những tiến bộ về các trường hợp ngoại lệ
đối với các nghĩa vụ của hiệp định cũng như về các quy tắc xử lý vấn đề minh bạch trong
việc xây dựng các điều luật, quy định hay các quy tắc khác. Ngoài ra, các thành viên
cũng đang thảo luận về các đề xuất liên quan đến quản trị tốt và tính công bằng trong thủ
tục ở một số lĩnh vực cụ thể.
Trong lĩnh vực Tiếp cận thị trường hàng hóa: Các thành viên TPP đã thống nhất xây dựng
các nguyên tắc và các nghĩa vụ liên quan đến thương mại hàng hóa cho tất cả các nước
TPP nhằm đảm bảo tiếp cận thị trường mà các nước dành cho nhau là tham vọng, cân
bằng và minh bạch. Lời văn về thương mại hàng hóa quy định việc xóa bỏ thuế quan giữa
các thành viên, trong đó có những cam kết quan trọng cao hơn các nghĩa vụ WTO hiện
9


nay, cũng như xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan đang tạo ra các rào cản thương mại.
Các thành viên TPP cũng đang cân nhắc các đề xuất liên quan đến cấp phép nhập khẩu và
xuất khẩu và hàng tân trang. Các điều khoản bổ sung liên quan đến cạnh tranh xuất khẩu
hàng nông nghiệp và an ninh lương thực cũng đang được thảo luận.
Các thành viên TPP cũng thống nhất tầm quan trọng của việc đưa ra cam kết ở mức cao
đối với hàng dệt may - một trong những nội dung được thảo luận ở Chương Tiếp cận thị
trường hàng hóa. Một số đề xuất đã được đưa ra về hàng loạt các vấn đề nguyên tắc trong
lĩnh vực này như hợp tác hải quan về quy trình thực thi pháp luật, quy tắc xuất xứ và tự
vệ đặc biệt.
Trong vấn đề Quy tắc xuất xứ: Các thành viên TPP đã nhất trí xây dựng một bộ quy tắc
xuất xứ chung nhằm xác định liệu một sản phẩm có xuất xứ từ khu vực TPP hay không.
Các nước cũng nhất trí rằng các quy tắc xuất xứ của TPP cần khách quan, minh bạch và
dễ dự đoán, hiện đang thảoluận cách tiếp cận liên quan tới khả năng cộng gộp hoặc sử
dụng nguyên vật liệu trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do để khẳng định một sản phẩm
có xuất xứ. Ngoài ra, các thành viên TPP cũngđang thảo luận các đề xuất xây dựng một

mới được đưa ra về lựa chọn công nghệ và giải quyết vấn đề cước phí cao của điện thoại
di động chuyển vùng quốc tế.
Trong lĩnh vực Di chuyển thể nhân: Các thành viên TPP đã kết thúc về cơ bản các
điều khoản chung của chương liên quan đến tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong
quá trình giải quyết nhập cảnh tạm thời, đồng thời thúc đẩy hợp tác kỹ thuật hiện tại giữa
các nước TPP. Các nghĩa vụ cụ thể liên quan đến các loại hình doanh nhân cũng đang
được thảo luận.
Trong lĩnh vực Các biện pháp phòng vệ thương mại: Các thành viên TPP đã nhất trí
khẳng định các quyền và nghĩa vụ của mình trong WTO và đang xem xét các đề xuất
mới, bao gồm các nghĩa vụ sẽ được xây dựng trên cơ sở những quyền lợi và nghĩa vụ
hiện hành trong lĩnh vực minh bạch hoặc các quy trình tố tụng. Các thành viên cũng đưa
ra một số đề xuất về cơ chế tự vệ khu vực quá độ.
Lộ trình xóa bỏ thuế quan và các gói mở cửa thị trường: Lộ trình xóa bỏ thuế quan của
Hiệp định TPP sẽ áp dụng cho tất cả các hàng hóa, tương đương khoảng 11.000 dòng
thuế. Các nước thành viên đang xây dựng quy tắc chung về xuất xứ hàng hóa vẫn hiện
đang cân nhắc các đề xuất nhằm thực hiện việc này hiệu quả và đơn giản nhất.
11


Các gói cam kết về dịch vụ và đầu tư sẽ bao gồm tất cả các ngành dịch vụ. Nhằm đảm
bảo một kết quả đạt tiêu chuẩn cao mới cho các quốc gia hướng tới. Các thành viên TPP
đang đàm phán theo nguyên tắc “chọn- bỏ” với giả định hiệp định sẽ bao trùm trên một
phạm vi toàn diện nhưng vẫn cho phép các nước đàm phán các ngoại lệ cụ thể trong cam
kết ở các ngành dịch vụ cụ thể. Gói các cam kết về mua sắm chính phủ đang được đàm
phán, trong đó mỗi thành viên phải nỗ lực mở cửa thị trường mua sắm chính phủ hơn nữa
nhằm đảm bảo sự tiếp cận tối đa của nước khác trong lĩnh vực này, đồng thời ghi nhận
những vấn đề nhạy cảm của từng thành viên. Nhìn chung, phạm vi và nội dung điều
chỉnh của TPP được xem là “bị quy định” bởi ít nhất 03 yếu tố sau:
TPP – Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Về nguyên tắc, các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreements - FTA) đòi hỏi

người ta nhìn vào các FTA mà Hoa Kỳ đàm phán trong thời gian gần đây (FTA với
Panama, Colombia và đặc biệt là FTA với Hàn Quốc ). Mong muốn đằng sau tuyên bố
này là Hoa Kỳ sẽ cố gắng để TPP có phạm vi lớn nhất có thể, và với mức độ mở cửa rộng
nhất có thể. Với tham vọng như vậy của “người cầm trịch”, đàm phán TPP khó có thể là
một đàm phán ở mức độ “tự do cầm chừng” hay phạm vi “tự do hạn chế”.
1.3.

Mục đích của hiệp định TPP.

Mục tiêu của hiệp định TPP là nhằm thiết lập một khu vực thương mại tự do chung cho
các nước đối tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Cho đến nay, đã có 12 nước
tham gia vào đàm phán TPP (bao gồm New Zealand, Brunei, Chile, Singapore, Australia,
Peru, Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Canada, Mexico và Nhật Bản).
TPP hiện đã trải qua 16 phiên đàm phán chính thức, được kỳ vọng là một Hiệp định kiểu
mẫu của thế kỷ 21 với những lĩnh vực đàm phán gồm không chỉ các vấn đề về mở cửa thị
trường hàng hóa và dịch vụ mà còn cả những vấn đề phi thương như các vấn để về sở
hữu trí tuệ , mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, các vấn đề pháp lý…Khi so sánh
TPP với các hiệp định thương mại khác ta có thể thấy rằng:


TPP cũng như mọi hiệp định về hội nhập quốc tế khác đều nhằm mở rộng hợp tác
kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài vào các nước thành viên.

13




Các thỏa thuận tự do hóa của TPP sẽ làm lợi hơn cho nền kinh tế bằng cách
khuyến khích thương mại và thương mại đến lượt nó, sẽ thực hiện được vai trò


đan

xen,

chằng

chịt,

tự

do

hóa

thị

trường

trong

nước…

Một kỳ vọng lớn mà các nước tham gia đàm phán TPP hướng tới là khả năng tạo ra chuỗi
giá trị trong vực có khả năng cạnh tranh cao tận dụng tốt thế mạnh về vốn, công nghệ, và
năng lực của các thành viên. TPP thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp nội khối trên cơ sở loại
bỏ hầu hết rào cản thương mại và môi trường pháp lý đối với hoạt động kinh doanh của
các nước thuận lợi, minh bạch và có tính tương đồng cao. TPP cũng được kỳ vọng là sẽ
14


15


lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, thông qua Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội đàm phán với Hoa Kỳ để mở
cửa thị trường cho hàng hóa của Việt Nam, tạo cú hích mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm
chế nhập siêu. Bên cạnh đó, việc tham gia Hiệp định TPP sẽ góp phần thúc đẩy hơn
nữa đầu tư của Hoa Kỳ và các nước vào Việt Nam.
Thứ tư, lợi ích từ việc cắt giảm thuế sẽ giúp hàng hóa Việt Nam được tiếp cận các thị
trường thành viên TPP với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0. Rõ ràng lợi ích này chỉ thực
tế nếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuế quan cao ở các thị trường này và thuế
quan là vấn đề duy nhất cản trở sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường
đó. Vì là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị
trường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp như vậy sẽ mang lại một lợi
thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng, kéo
theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục
vụ xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang
có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…) mà còn là động lực để nhiều
nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạch đáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh
tranh. Nói một cách khác, lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn
thấy ở cả tiềm năng trong tương lai.
Tuy nhiên, lợi ích này cần được đánh giá một cách chừng mực hơn, đặc biệt khi quyết
định đánh đổi quyền tiếp cận thị trường Việt Nam của hàng hóa nước ngoài để có được
những lợi ích này. Bởi trên thực tế, cơ hội tăng mạnh xuất khẩu không phải cho tất cả khi
mà ví dụ đối với Hoa Kỳ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đã đang được hưởng mức thuế suất
gần bằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng không quan trọng. Cũng như vậy, dù rằng
tương lai không hẳn chắc chắn nhưng một số mặt hàng có thể được Hoa Kỳ xem xét cho
hưởng GSP “miễn phí” nếu chúng ta có nỗ lực vận động tốt mà không cần TPP với những

Nam

hầu

như

không

hưởng

lợi



từ

việc

này.

Thứ sáu, trong thực thi các FTA, thị trường nội địa thường được hiểu là nơi chịu thiệt
hại.Tuy nhiên, đối với trường hợp của Việt Nam, nhiều chuyên gia nhấn mạnh rằng
chúng ta có thể “có lời” từ TPP ngay cả ở thị trường nội địa, nơi vốn được xem là “chỉ
17


chịu thiệt” từ các FTA nói chung. “Khoản lời” này nằm ở việc giảm thuế hàng nhập khẩu
từ các nước TPP. Nhờ đó, người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu
nhập khẩu từ các nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa,
nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao

không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ rơi vào tình thế
khó khăn. Tham gia TPP có thể gây ra một số hệ quả xã hội tiêu cực như tình trạng phá
sản và thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu. Ngoài ra, kết quả đàm
phán nội dung lao động trong Hiệp định TPP có thể sẽ có tác động tới môi trường lao
động ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải
trải qua để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng,
chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, để thực thi cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam có thể sẽ phải điều chỉnh,
sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ… Với
những kinh nghiệm có được từ quá trình đàm phán gia nhập WTO, đây có thể không phải
là một thách thức quá lớn đối với Việt Nam.
Thứ ba, Việt Nam hiện vẫn còn là thị trường tương đối đóng với nhiều nhóm mặt hàng
còn giữ mức thuế MFN khá cao (và với lộ trình mở cửa dài hơi). Vì thế việc phải cam kết
giảm thuế đối với phần lớn các nhóm mặt hàng từ các nước đối tác TPP dự kiến sẽ gây ra
02 bất lợi trực tiếp, bao gồm (i) giảm nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu và (ii) cạnh
tranh trong nước gay gắt hơn.
Thứ tư, giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt
Nam gia tăng, với giá cả cạnh tranh hơn. Hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan tại
Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Đây là thực tế đã từng xảy ra khi
chúng ta thực hiện các FTA đã ký mà đặc biệt là ACFTA với Trung Quốc. Nguy cơ này
đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, vốn gắn liền với nhóm đối tượng dễ bị
tổn thương trong hội nhập là nông dân và nông thôn. Tuy vậy, các ý kiến lạc quan lại cho
rằng trong trường hợp cụ thể của TPP, cái “mất” này có thể không phải là quá nghiêm
trọng, ví dụ với đối tác Hoa Kỳ, hàng hóa của Hoa Kỳ có phân khúc và khách hàng khác
với hàng hóa tương tự của Việt Nam, vì vậy đối với một số ngành, cạnh tranh đến từ hàng
19


hóa Hoa Kỳ sẽ không quá nguy hiểm. Theo cách hiểu này, thị phần nội địa có thể sẽ bị
phân chia lại sau TPP, nhưng là giữa các đối thủ Hoa Kỳ với những đối thủ nước ngoài

vướng mắc)…Các đối tác phát triển như Úc, New Zealand khá quan tâm đến các vấn đề
này. Hiệp định P4 (tiền thân của TPP) cũng bao gồm các quy định liên quan. Vì vậy khả
năng TPP tương lai có thể bao trùm các lĩnh vực này là tương đối lớn. Một mặt, việc tổ
chức thực hiện các yêu cầu này sẽ là một gánh nặng lớn đối với Nhà nước (trong việc gia
nhập các công ước liên quan, sửa đổi quy định pháp luật nội địa, xây dựng các cơ chế,
thủ tục ban hành thực thi mới…). Việc thực thi cũng tao ra nhiều chi phí cho doanh
nghiệp để thực thi (ví dụ như thay đổi công nghệ nuôi trồng – sản xuất, thay đổi nguồn
cung nguyên vật liệu, bổ sung cơ chế kiểm soát…). Ngoài ra, có những vấn đề thuộc về
thể chế không dễ thay đổi (như quyền lập hội, quyền đàm phán tập thể…). Mặt khác,
thực hiện các cam kết dạng này sẽ là cơ hội tốt để chúng ta cải thiện hệ thống pháp luật,
đặc biệt là từ góc độ phát triển bền vững (môi trường), vì quyền con người (lao động),
minh bạch hóa và cải cách hành chính (các vấn đề còn lại). Từ góc độ này, những lợi ích
mà việc thực hiện những cam kết này mang lại có thể là rất lớn và có giá trị lâu dài (vượt
xa những chi phí bỏ ra để tổ chức thực hiện các yêu cầu này).
Thứ bảy, bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ Hoa Kỳ là đối tác có tiếng là cứng rắn trong những vấn đề liên quan đến bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ cả trong WTO lẫn trong các FTA của nước này. Đối với TPP, vấn đề
này cũng đã được Hoa Kỳ thể hiện tương đối rõ ràng (với mong muốn đạt được TRIPs +
trong lĩnh vực này). Tuy nhiên, đây lại là vấn đề lớn đối với Việt Nam trong hoàn cảnh
thực tế vi phạm còn lớn và các thiết chế bảo hộ còn thiếu hiệu quả. Việc bảo hộ chặt chẽ
các quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ dẫn tới những khó khăn trước mắt cho nhiều doanh
nghiệp Việt Nam (khi phải bỏ vốn nhiều hơn cho những sản phẩm thuộc loại này) và
người tiêu dùng (khi phải trả giá đắt hơn cho dản phẩm).
Thứ tám, bất lợi từ việc mở cửa thị trường mua sắm công. Mua sắm công là một vấn đề
phức tạp và hiện vẫn đang là lĩnh vực tương đối đóng đối với tự do thương mại. Trong
WTO, Hiệp định về mua sắm công có sự tham gia của một số lượng rất hạn chế các nước
và mặc dù bị Hoa Kỳ kêu gọi hoặc thúc ép, nhiều nước vẫn giữ quan điểm thận trọng đối
với lĩnh vực này . Trong TPP, có nhiều ý kiến cho rằng Hoa Kỳ sẽ lại đưa ra yêu cầu này
21




Tuy nhiên, cần phải thực tế hơn khi xem xét vấn đề này. Đúng là những lợi ích từ việc
giảm thuế sẽ không là gì nếu các rào cản kiểu TBT, SPS hay phòng vệ thương mại ngày
càng dựng cao hơn đối với hàng Việt Nam. Tuy nhiên, tham khảo các điều khoản liên
quan trong các FTA mà Hoa Kỳ hay các đối tác TPP ký gần đây thì chúng hầu như chỉ
bao gồm những nội dung liên quan đến thủ tục (theo hướng tăng cường các thủ tục ràng
buộc các chính phủ khi ban hành hay thực thi những quy định TBT, SPS, phòng vệ
thương mại) chứ không quy định cụ thể về các tiêu chuẩn/yêu cầu xác định cho từng loại
hàng hóa (trừ một số rất hãn hữu các trường hợp, ví dụ quy định liên quan đến ô tô trong
FTA Hoa Kỳ - Hàn Quốc). Do đó TPP được suy đoán là cũng không thể xử lý các vấn đề
về mức độ rào cản cụ thể trên thực tế. Và vì vậy, cũng tương tự như vấn đề môi trường
hay lao động, hàng hóa Việt Nam dù có hay không có TPP vẫn phải đáp ứng các yêu cầu
thực tế về những nội dung này của đối tác TPP. Thậm chí, từ một góc độ khác, những
ràng buộc mới về thủ tục trong TPP còn có thể khiến cho Việt Nam có thêm cơ hội để
tham gia ý kiến, bình luận và do đó có thể can thiệp nhiều hơn vào quá trình ban hành
mới những quy định thuộc nhóm này.Vì vậy, các vấn đề này nếu được TPP điều chỉnh
cũng sẽ không làm hàng hóa Việt Nam bất lợi hơn so với hiện tại ở thị trường các nước
TPP.
Tóm lại, việc tham gia vào TPP nói riêng hay bất kỳ một FTA nào cũng đem lại nhiều cơ
hội và thách thức cho Việt Nam. Việc nhìn nhận một yếu tố dưới góc độ tích cực hay tiêu
cực hoàn toàn chỉ mang tính tương đối. Dù nhìn nhận từ góc độ nào thì Việt Nam cũng
cần phải giữ vững tâm thế chào đón bằng những giải pháp linh hoạt. Chỉ khi có một định
hướng đúng đắn cùng với những quyết sách đúng đắn, kịp lúc thì chúng ta hoàn toàn có
khả năng biến bất cứ thách thức nào thành cơ hội để thực hiện mục tiêu phát triển đất
nước và gia tăng vị thế trên trường quốc tế.
3. Tác động của TPP đến ngành dệt may Việt Nam
3.1. Tổng quan về ngành dệt may
3.1.1. Đôi nét về ngành dệt may Việt Nam



và hàng ngàn lao động gián tiếp.
Tổng nộp ngân sách thông qua các loại thuế ngày càng tăng, tốc độ tăng bình quân



khoảng 15%/ năm.
Về thì trường xuất khẩu: chúng ta xuất khẩu nhiều sang các thị trường Mỹ, EU,
Canada và Nhật Bản trong đó các nước EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may
lớn nhất của Việt Nam chiếm 34%-38% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của
Việt Nam. Còn sản phẩm dệt may xuất khẩu sang Nhật Bản đã được hưởng thuế
ưu đãi theo hệ thống GSP nên kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường
này tăng khá nhanh trong những năm gần đây, thị phần hàng dệt thoi và dệt kim
của nước ta trên thị trường hàng dệt may của Nhật Bản tương ứng là 3,6% và
2,3%, kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 30% sản phẩm dệt may.

24


3.1.2. Cơ cấu xuất khẩu vào các thị trường chính
Nhà nhập khẩu chính của Việt Nam: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Năm 2013,
tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 15,3 tỷ USD, chiếm tới
85,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Kim ngạch đạt 8,6 tỷ
USD năm 2013; chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam. Việt Nam
xuất sang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với tỷ trọng chiếm 38% tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Năm 2013

Năm 2014




trưởng %



trưởng %

2,843.19

118.8

3130.24

117.5

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may năm 2012-2014

25


Trích đoạn Cơ cấu xuất khẩu vào các thị trường chính Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu Cấu trúc ngành có vấn đề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status