TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THÔ
KHOA LUẬT
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠMTỘI
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƯ PHÁP
NIÊN KHÓA 1999 - 2003
SV thực hiện: LÂM TỐ TRANG
MSSV: 5992717
Giáo viên hướng dẫn: Ths. PHẠM VĂN BEO
Giảng viên Bộ môn Luật Tư pháp
Cần Thơ - 7/2003
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật niên khóa 1999 - 2003 về đề tài “Pháp
luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội” được hoàn thành
dưới sự giúp đỡ, động viên từ nhiều phía. Trước tiên, tác giả xin trân trọng gửi lời
cảm ơn đến Thầy PHẠM VĂN BEO, người đã luôn tận tình trao đổi, hướng dẫn
tác giả trong suốt quá trình làm luận văn, đồng thời đã cung cấp cho tác giả những
kiến thức nền, những tài liệu cơ bản định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô, các anh chị và các bạn
sinh viên trong Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ tác giả trong thời
gian thực hiện đề tài này.
tập
vàtrong
nghiên cứu
1.2.3.
Cácliệu
quyền
cơ Cần
bản củaThơ
trẻ em
người
chưa
thành
niên
pháp luật Việt Nam -----------------------------------------------------------------------16
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI ---------------------23
2.1. Từ nguồn gốc đến trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 ----------------23
2.1.1. Thời kỳ phong kiến -------------------------------------------------------23
2.1.2. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược ---------------------------------------26
2.2. Từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật
Hình sự năm 1985-------------------------------------------------------------------------28
2.2.1. Từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến năm 1954 -----------------28
2.2.2. Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975) -------------------------------29
2.2.3. Từ khi đất nước thống nhất năm 1975 cho đến trước khi ban
hành Bộ luật Hình sự năm 1985 --------------------------------------------------------30
2.3. Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời đến trước khi ban hành Bộ
luật Hình sự năm 1999 -------------------------------------------------------------------32
LỜI NÓI ĐẦU
cứu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Người chưa thành niên nói chung và trẻ em nói riêng - thế hệ tương lai của
đất nước - là đối tượng được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt.
Điều này đã được thể hiện một cách nhất quán và rõ ràng trong đường lối, chính
sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay. Bằng chứng là việc
nước ta là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuần Công ước về
quyền trẻ em, được thông qua ngày 20-11-1989 theo Nghị quyết 44/25 của Đại hội
đồng Liên hợp quốc. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên xác định về mặt pháp lý
quyền của trẻ em một cách toàn diện và đầy đủ nhất.
Hiện nay, vấn đề trẻ em - người chưa thành niên đang đặt ra những yêu cầu
mới, có những yêu cầu bức xúc đòi hỏi sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của toàn
xã hội. Chúng ta biết rằng, có không ít trẻ em mới hôm qua còn là những đứa trẻ
vô tư, trong trắng, tâm hồn chưa hề vẩn đục mà hôm nay đã sa vào con đường
phạm tội. Đặc biệt, trong những năm gần đây, sau khi thực hiện chính sách chuyển
đổi kinh tế, đã nổi lên một số tác động về mặt xã hội trong quá trình chuyển đổi,
trong đó có hiện tượng người chưa thành niên làm trái pháp luật. Và tình hình
người chưa thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng về số vụ và tính chất nghiêm
trọng như những hành vi cướp của, giết người, đánh người gây thương tích, gây
rối trật
công cộng...
ngàyCần
càng phổ
nổihọc
lên một
tội nghiên
năm gần đây ở Việt Nam, qua đó, đề xuất những kiến nghị liên quan đến những
quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về người chưa thành niên
phạm tội nhằm đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu bảo vệ đặc biệt trẻ em, thể hiện
chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta, phù hợp với tinh thần của
Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng,
chống có hiệu quả người chưa thành niên phạm tội trong tình hình mới.
Do trình độ và thời gian có hạn nên khi bàn về quyền trẻ em trong pháp luật
quốc tế, tác giả chỉ đề cập đến một văn kiện pháp lý cơ bản nhất: Công ước Liên
hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989. Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về tình hình tội
phạm chưa thành niên ở Việt Nam trong những năm gần đây, tác giả chỉ giới thiệu
một cách tổng quát về thực trạng tội phạm chưa thành niên ở Việt Nam, trong đó
có tập trung phân tích thực trạng tội phạm chưa thành niên trên địa bàn Hà Nội và
xem đó là ví dụ điển hình.
Trung tâm
ĐHmình,
CầntácThơ
@ Tài
liệu
học
QuaHọc
luận liệu
văn của
giả mong
muốn
cung
cấptập
mộtvà
cái nghiên
nhìn tổngcứu
niên phạm tội với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Do thời gian và khả năng có hạn, kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn về lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều hạn chế, do đó, luận văn không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của quý
thầytâm
cô vàHọc
các bạn
để sau
sẽ nghiên
toàn học
diện hơn.
Trung
liệu
ĐHnày
Cần
Thơcứu
@vấn
Tàiđềliệu
tập và nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cảm ơn.
Cần Thơ, ngày 14 tháng 7 năm 2003
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUYỀN TRẺ EM
1.1. KHÁI NIỆM VỀ TRẺ EM VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1. Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên trong pháp
Như vậy, ta có thể khái quát Điều 1 của Công ước 1989 như sau:
- Độ tuổi thành niên chuẩn theo quy định của Công ước là 18 tuổi, vậy trẻ
em là người dưới 18 tuổi.
- Nếu độ tuổi thành niên theo quy định của một quốc gia nào đó nhỏ hơn 18
tuổi thì mốc giới hạn tuổi trẻ em của quốc gia đó nhỏ hơn 18 tuổi.
1.1.1.2. Khái niệm về người chưa thành niên
Như đã phân tích ở trên, Công ước 1989 chỉ xác lập khái niệm trẻ em,
không xác lập một cách chính xác khái niệm người chưa thành niên. Theo cách
hiểu thông thường, người chưa thành niên là người chưa đạt đến độ tuổi thành
niên theo luật định. Vậy, Công ước đã đồng nhất hai khái niệm: trẻ em và người
chưa thành niên.
Theo những quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng
pháp luật đối với người chưa thành niên năm 1985 (sau đây sẽ gọi là Quy tắc Bắc
Kinh), người chưa thành niên là trẻ em hoặc người ít tuổi (tùy theo từng hệ thống
pháp luật). Như vậy, có hai nhóm đối tượng người chưa thành niên như sau:
- Trẻ em.
- Người ít tuổi.
Nhưng, thế nào là trẻ em? Thế nào là người ít tuổi?
Như đã đề cập ở trên, độ tuổi trẻ em được xác định trong Công ước 1989
chỉ mang tính chất hướng dẫn, định hướng trên cơ sở tôn trọng tuyệt đối hệ thống
pháp luật, văn hoá, chính trị, xã hội và kinh tế của các quốc gia thành viên. Căn cứ
vào pháp luật của mỗi quốc gia sẽ có quy định cụ thể về giới hạn độ tuổi trẻ em và
độ tuổi đó thường nhỏ hơn độ tuổi thành niên (18 tuổi). Nghĩa là trên thực tế có
một lớp tuổi trung gian giữa trẻ em và người chưa thành niên, và nhóm người đó,
theo Quy tắc Bắc Kinh, là người ít tuổi.
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng người chưa thành niên theo Quy tắc
Bắc Kinh bao hàm cả trẻ em, trong khi đó, Công ước 1989 thì lại đồng nhất hai
khái niệm kể trên. Như vậy, việc phân biệt hai khái niệm trẻ em và người chưa
Vậy, ở đây, khái niệm người chưa thành niên đã bao hàm trong đó khái
niệm trẻ em.
1.1.3. Người chưa thành niên - Đối tượng bảo vệc đặc biệt của
pháp luật
Trẻ em là thời kỳ đang phát triển về mọi mặt của con người. Ở lứa tuổi
chưa thành niên, họ đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực và tinh thần.
Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn. Họ không còn thỏa
mãn với vai trò thụ động của những người đang được dạy dỗ, nhưng mặt khác, họ
lại chưa phải là người lớn - những người đang có vị trí và trách nhiệm nhất định
đối với xã hội. Sự vươn lên vị trí độc lập diễn ra rất tự phát - đó là xu hướng chung
của nhóm lứa tuổi này. Đối với người chưa thành niên, những áp đặt của người
lớn, sự chỉ bảo cặn kẽ, việc kiểm tra, giám sát đã trở thành "xiềng xích" và cần
phải phá bỏ. Nhưng họ có khả năng kiềm chế chưa cao, hành động thường bộc
phát,tâm
không
làm liệu
chủ được
thân,
dễ bị@
kíchTài
động,
lôi học
kéo vào
những
hành độngcứu
Trung
Học
ĐHbản
Cần
công dân tốt trong xã hội...
Bảng 1: Tỷ lệ phần trăm (%) các thành viên trong gia đình từng phạm tội,
có tiền án, đã và đang ở trong trại cải tạo
Trẻ ở Trường Giáo dưỡng số II
Ninh Bình
Trẻ ở Trường Marie Curie
Hà Nội
Bố
4,21%
0%
Mẹ
2.81%
0%
Anh
9,85%
0%
Chị
trng pháp luật Việt Nam, Bộ luật Lao động đã dành một chương quy định riêng
đối với lao động chưa thành niên (Chương XI). Cũng vậy, Bộ luật tố tụng hình sự
dành Chương XXXI để quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người
chưa thành niên... Đặc biệt, luật hình sự Việt Nam không coi người chưa thành
niên là người có năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên (xem
Chương II, mục 2.4.1). Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi
phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định khả
năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.2.1. Khái niệm về quyền trẻ em
"Quyền" theo Tự điển tiếng Việt2 được hiểu là điều mà pháp luật và xã hội
công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Vậy, theo cách hiểu thông
Trung
tâmquyền
Họctrẻliệu
ĐH
Cần
Thơ
@ Tài
liệu
học
tập
vàđòinghiên
cứu
thường,
em là
mọi người (Điều 1).
Dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 10-12-1948 Đại Hội đồng Liên
hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền, đã nâng tầm vóc của
vấn đề nhân quyền lên một bước mới. Đây là những quyền cơ bản nhất mà con
người phải có, là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là tập hợp những
quyền tự nhiên, do tạo hóa ban cho, nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật
(mặc nhiên tồn tại trong mỗi cá nhân trong xã hội mà không do pháp luật quy
định).
Trẻ em cũng là một con người, vì vậy, các em cũng có đầy đủ những quyền
nói trên. Nhưng, "trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và
chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau
khi ra đời" (Lời nói đầu, Công ước 1989). Để trẻ em có thể phát triển đầy đủ và
hài hòa về nhân cách, hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia cần phải quy định
những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được đòi hỏi.
Vậy, qua những phân tích trên, ta có thể rút ra được khái niệm chung nhất
về quyền trẻ em như sau: Quyền trẻ em là tập hợp các quyền mà pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia quy định cho trẻ em được hưởng, được làm và được đòi hỏi
bao gồm quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ và
quyền được tham gia trong chừng mực vào các hoạt động xã hội (xem Chương I,
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mục 1.2.2.2).
1.2.2. Quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế
1.2.2.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển
Như đã đề cập ở trên, quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người. Vì
vậy, lịch sử hình thành và phát triển quyền trẻ em luôn gắn với lịch sử hình thành
và phát triển quyền con người. Tuy nhiên, sự phát triển của quyền trẻ em diễn ra ở
mức độ chậm hơn do ý thức hệ của xã hội lúc đó có lúc đã không nhìn nhận quyền
trẻ em là một bộ phận của nhân quyền.
tập hợp các quyền của các bậc cha mẹ, của những người lớn đối với trẻ em. Thời
kỳ này, trẻ em lệ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ, là tài sản của cha mẹ và địa vị của
trẻ em trong xã hội chưa được xác định. Thực tế này đã tồn tại rất lâu trong lịch sử
của xã hội loài người.
Trung tâm
Thơ
Tài
vàthìnghiên
NếuHọc
như liệu
trong ĐH
xã hộiCần
chiếm
hữu @
nô lệ,
nô liệu
lệ là học
kẻ vô tập
quyền,
trong xãcứu
hội phong kiến không thể nói đến tự do của con người bởi vì "trên thực tế, địa vị
của người nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu"
(Lênin). Do vậy, nhu cầu được giải phóng ngày càng trở nên bức bách. Và chủ
nghĩa tư bản đã thay thế chủ nghĩa phong kiến. Với ngọn cờ "tự do, bình đẳng, bác
ái", "sống và mưu cầu hạnh phúc", giai cấp tư sản đã xác lập nên một nấc thang
mới và quan trọng trong lịch sử phát triển nhân quyền. Chế độ tư bản chủ nghĩa ra
đời là một bước ngoặt lịch sử đánh dấu sự nở rộ của luật pháp quốc tế về quyền
con người. Thế nhưng cho đến sau chiến tranh thế giới lần I (1914 - 1918) trong
pháp luật quốc tế vẫn chưa có một văn kiện nào chính thức đề cập đến trẻ em như
6. Trẻ
emliệu
phải ĐH
đượcCần
hưởngThơ
đầy đủ
phúc
lợi học
xã hộitập
và an
xã hội,cứu
Trung tâm
Học
@cácTài
liệu
vàtoàn
nghiên
được tạo nghề để có công ăn việc làm và phải được bảo vệ chống lại mọi hình thức
bóc lột.
7. Trẻ em phải được nuôi dạy theo tinh thần là đem những tài năng của
mình để phục vụ loài người.
Có thể nói Tuyên ngôn Genève đã đặt dấu chấm hết cho suốt một thời kỳ
của lịch sử mà con người chưa nhìn nhận trẻ em là một chủ thể hưởng quyền. Sau
chiến tranh thế giới lần thứ II, với sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc, ngay trong
bản Hiến chương của tổ chức này đã long trọng khẳng định: “Khuyến khích phát
triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi
người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” (khoản 3 Điều
1). Trên nền tảng đó, năm 1948 Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền ra đời, Tuyên
ngôn khẳng định con người sinh ra đã có những quyền mặc nhiên, những quyền
Thơđầy@đủTài
liệu
tập cách,
và nghiên
6. Trẻ
emliệu
phải ĐH
đượcCần
phát triển
và hài
hòahọc
về nhân
cần đượccứu
yêu thương và cảm thông, được bảo đảm cả về thể chất và tinh thần, sống cùng với
bố mẹ.
7. Trẻ em phải được học hành. Đây là điều bắt buộc và không phải đóng
học phí, ít nhất là ở bậc tiểu học. Nền giáo dục dành cho trẻ em phải phát triển
kiến thức văn hóa chung, khả năng, sự suy nghĩ và ý thức trách nhiệm về đạo đức
và xã hội để trở thành thành viên hữu ích của xã hội. Trẻ em có quyền được vui
chơi giải trí.
8. Trẻ em là đối tượng ưu tiên hàng đầu, được bảo vệ và cứu trợ trong mọi
trường hợp.
9. Trẻ em phải được bảo vệ chống lại mọi hình thức bị bỏ rơi, bị đối xử tàn
tệ, bị bóc lột và bị buôn đi bán lại. Trẻ em không phải lao động khi chưa đến tuổi
và không phải làm những việc gây tác hại đến sự phát triển các mặt liên quan đến
học tập.
10. Trẻ em được bảo vệ chống lại mọi sự phân biệt, được nuôi trong tinh
thần hiểu biết, khoan dung, hữu nghị giữa các dân tộc, hòa bình và đoàn kết anh
em, được phát triển tài năng để phục vụ loài người.
trở thành
thành
viên
qua việc
gia@
nhập
hoặc
phêhọc
chuẩn.
1.2.2.2. Những quyền cơ bản của trẻ em trong Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em
Công ước 1989 gồm Lời nói đầu, 3 phần với 54 điều.
- Lời nói đầu nhắc lại các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, các Công ước quốc tế về quyền con
người, và khẳng định rằng trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Ở
nhiều nơi trên thế giới trẻ em phải sống trong những điều kiện khó khăn khác
thường. Chăm sóc, bảo vệ và phát triển hài hòa các quyền trẻ em có một tầm quan
trọng đặc biệt trong truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi dân tộc. Công ước
khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế đối với việc cải thiện điều kiện
sinh hoạt của trẻ em ở tất cả các nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
- Phần I, Công ước gồm 41 điều (từ Điều 1 đến Điều 41) xác định khái
niệm về trẻ em và quyền trẻ em, trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong
việc bảo vệ quyền trẻ em, nội dung các quyền trẻ em.
- Phần II, Công ước gồm 4 điều (từ Điều 42 đến Điều 45) xác định việc
thành lập Ủy ban về quyền trẻ em do các quốc gia thành viên bầu ra, quyền hạn và
trách nhiệm của Ủy ban, quan hệ giữa Ủy ban với Tổng thư ký Liên hợp quốc, Đại
Hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế xã hội và các cơ quan của Liên hợp
quốc.
quyền được hưởng các loại phúc lợi xã hội, an toàn xã hội, bao gồm cả bảo hiểm
xã hội (Điều 26).
w Quyền được phát triển
Điều 27 Công ước quy định: “Mọi trẻ em được hưởng mức sống đủ để có
thể phát triển về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội”. Để bảo đảm về những
quyền lợi đó, “cha mẹ hoặc cha hay mẹ và những người khác chịu trách nhiệm về
trẻ em có trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo đảm, theo năng lực và khả năng tài
chính của mình, các điều kiện sống cần thiết cho sự phát triển của trẻ em” (khoản
2 Điều 27). Về phía Nhà nước, họ phải gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho các
bậc cha mẹ và những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em thực hiện quyền này,
đó có thể là sự giúp đỡ về mặt vật chất, đặc biệt là về dinh dưỡng, quần áo và nhà
ở.
Nhằm bảo đảm phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về tinh
thần và thể chất của trẻ em (Điều 29), vấn đề giáo dục phải được quan tâm hàng
đầu ở mỗi quốc gia. Điều 28 Công ước 1989 quy định: Trẻ em có quyền được học
hành, thi hành giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có, không mất tiền cho tất cả mọi
người; có biện pháp khuyến khích trẻ em đi học đều đặn, hạ thấp tỷ lệ bỏ học
(Điều 28). Mục tiêu của giáo dục là nhằm hướng đến việc tôn trọng quyền con
người ở mọi lứa trẻ, phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ, tôn trọng bản sắc văn
hóa, ngôn ngữ, tôn trọng các giá trị quốc gia của đất nước để chuẩn bị cho trẻ em
sống một cuộc sống có trách nhiệm trong xã hội, trở thành công dân có ích của xã
hội (Điều 29).
Để phát triển về mặt tinh thần, trẻ em có quyền được nghỉ ngơi và tiêu
khiển, được vui chơi và tham gia các hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được
tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật (Điều 31). Ngoài ra, trẻ em còn
được tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 14).
w Quyền được bảo vệ
Điều 16 Công ước 1989 quy định: Trẻ em có quyền được luật pháp bảo vệ
hưởng các quyền thích hợp nêu trong Công ước (Điều 22).
- Trẻ em bị khuyết tật về tinh thần hay thể chất được hưởng một cuộc sống
trọn vẹn và tử tế trong những điều kiện bảo đảm nhân phẩm, thúc đẩy khả năng tự
lực và tạo điều kiện cho trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng (Điều 23).
- Trẻ em còn có quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế và khỏi bất
kỳ công việc gì có thể gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ
em, hoặc có hại đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần,
đạo đức hay xã hội của trẻ em (Điều 32). Trẻ em được quyền bảo vệ chống lại mọi
hình thức bóc lột cũng như lạm dụng về tình dục (Điều 34). Ngoài ra, trẻ em còn
được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột khác gây hại về bất kỳ phương diện nào
cho phúc lợi của trẻ (Điều 36).
- Các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em chống lại việc sử dụng bất hợp
pháp các chất ma túy và an thần như đã được nêu trong các hiệp ước quốc tế hữu
quan, và để ngăn ngừa việc sử dụng trẻ em vào việc sản xuất và buôn bán bất hợp
pháp những chất đó (Điều 33).
- Các quốc gia thành viên bảo đảm không áp dụng án tử hình hoặc tù chung
thân mà không có khả năng phóng thích đối với những hành động phạm pháp do
Trung
tâm
Học
liệu
ĐHgây
Cần
Thơ
@ giam
Tài giữ
liệuhoặc
học
những
người
khích các quốc gia thành viên hợp tác quốc tế trong việc sản xuất, trao đổi, phổ
biến thông tin, tư liệu, khuyến khích việc xuất bản và phổ biến sách cho trẻ em…
(Điều 17).
Thông qua các quyền của mình, trẻ em có thể tự biểu hiện mình trong mọi
mặt của hoạt động xã hội. Công ước 1989 đã chính thức xác lập nên một tập hợp
các các nghĩa vụ ràng buộc bằng những cam kết, bảo đảm của các quốc gia thành
viên trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
1.2.3. Các quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên
trong pháp luật Việt Nam
1.2.3.1. Sơ lược về việc Việt Nam ký kết và phê chuẩn Công ước
Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quãng
trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”
long trọng tuyên bố sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng đồng bào
cả nước và nhân dân thế giới. Bản Tuyên ngôn bắt đầu bằng lời khẳng định: “Tất
cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
Trung
tâm Học
liệucầu
ĐHhạnh
Cần
Thơ
@thứ
Tài
tập 1946
và nghiên
và quyền
được mưu
về bảo vệ trẻ em: “Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất
nước, là lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của tổ tiên, gánh vác mọi công việc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (Lời nói đầu, Pháp lệnh về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em); mặt khác, Pháp lệnh đã tập hợp tất cả các văn bản
đề cập đến quyền trẻ em đã có từ trước để hình thành nên một văn bản pháp luật
hoàn chỉnh về quyền trẻ em trên nguyên tắc: “bảo đảm sự phát triển toàn diện và
cân đối của trẻ em, bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được tôn trọng và thực
hiện” (Lời nói đầu, Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em).
Thật vậy, vấn đề trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà
nước ta. Chính vì vậy, ngay sau khi Công ước 1989 ra đời, ngày 20-2-1990 Hội
đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết về
việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Việt Nam là nước đầu
tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp
quốc về quyền trẻ em mà không cần bảo lưu bất kỳ một điều khoản nào trong
Công ước.
Sau khi phê chuẩn Công ước 1989, Việt Nam bắt đầu quá trình nội luật hóa
các quy định của Công ước. Ngày 12-8-1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Có thể
xemtâm
đây làHọc
luật nguồn
của tất
cả các
ngành
trong
việc
xâyvà
dựng
các quycứu
Trung
pháp quy định cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt,
không được phân biệt đối xử giữa các con (Điều 64 Hiến pháp 1992). Nhà nước và
xã hội có trách nhiệm tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện
các quyền của mình, đặc biệt đối với những em có hoàn cảnh đặc biệt như: trẻ tàn
tật, trẻ mồ côi được nhà nước và xã hội giúp đỡ, được tạo điều kiện để học văn
hóa, học nghề phù hợp (Điều 59, Điều 67 Hiến pháp 1992). Vậy, các quyền hiến
định của các em bao gồm quyền được chăm sóc, quyền được nuôi dưỡng, quyền
được học tập và phát triển.
w Trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Như đã trình bày ở trên, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là luật
nguồn của tất cả các ngành luật khác trong việc xây dựng các quy phạm có liên
quan đến quyền trẻ em. Vì vậy, tìm hiểu các quyền cơ bản của trẻ em trong Luật
này là cần thiết. Nhưng ở đây, không đề cập đến các quyền của người chưa thành
niên bởi vì không giống như Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, nước ta
không đồng nhất khái niệm trẻ em và người chưa thành niên (xem Chương I, mục
1.1). Tuy nhiên, các quyền cơ bản của trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em vẫn được xây dựng trên cơ sở quán triệt tinh thần của Công ước 1999.
Theo Chương II Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các quyền cơ
bản của trẻ em bao gồm:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch (Điều 5).
- Quyền được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức
(Điều 6).
- Quyền được sống chung với cha mẹ, quyền được nhận làm con nuôi (Điều
7).
- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự
(Điều 8).
- Quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe (Điều 9).
- Quyền và bổn phận học tập (Điều 10).
Bảng
2: Từ
Điều
22,Cần
23 BLDS
có thể
quát
năngtập
lực hành
vi dân sựcứu
của người chưa thành niên như sau:
Người chưa đủ 6
tuổi
Người từ đủ 6 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi
Người từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi
- Không có năng lực - Năng lực hành vi dân sự - Năng lực hành vi dân sự
hành vi dân sự.
hạn chế.
hạn chế.
- Mọi giao dịch dân
sự do người đại diện
theo pháp luật xác
lập, thực hiện.
- Được quyền xác lập, thực
quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33), quyền được hưởng sự
chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 37), quyền nhận cha, mẹ (Điều
39), quyền được nhận làm con nuôi (Điều 40), quyền đối với quốc tịch (Điều 41),
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 43)… Ngoài ra, trẻ còn có quyền được
khai sinh. Điều 55 BLDS quy định: “Mọi người khi sinh ra đều có quyền được
khai sinh không phân biệt sinh trong giá thú hoặc ngoài giá thú”. Đây là quyền
bình đẳng đối với mọi trẻ em, ngay cả đối với những trẻ có hoàn cảnh ra đời đặc
biệt như trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi (Điều 56 BLDS).
- Quyền về tài sản gồm:
Trung tâm Học
liệu ĐH
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Quyền
có tàiCần
sản riêng:
Người chưa thành niên có quyền sở hữu đối với tài sản của mình
theo những căn cứ xác lập quyền sở hữu tại Điều 176 BLDS:
ú Do lao động, hoạt động sản xuất (theo quy định của pháp luật
lao động)
ú Được chuyển giao quyền sở hữu theo quyết định của Tòa án
(Ví dụ: quyết định của Tòa án về việc cấp dưỡng cho trẻ)
ú Thu hoa lợi, lợi tức
ú Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến
ú Được thừa kế tài sản
ú Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị
chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự
nhiên theo quy định của pháp luật
+ Quyền sử dụng đất đai: Ngoài tài sản riêng, người chưa thành niên
có thể có tài sản chung cùng với các thành viên khác trong hộ gia đình. Theo Điều