Tìm hiểu khả năng nhận thức từ nhiều nghĩa của học sinh tiểu học - Pdf 31

Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Lời cảm ơn
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được
sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu
học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Em
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc sỹ Lê Thị
Thùy Vinh, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành
khóa luận này.
Do điều kiện nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, kiến thức còn hạn
chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự
góp ý và chỉ bảo của các thầy cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn.

Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH


1.1 Khái niệm từ nhiều nghĩa ....................................................................... 5
1.2 Phân loại các nghĩa khác nhau trong từ nhiều nghĩa ............................... 7
1.3 Tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa ........................................ 8
1.4 Nét nghĩa ................................................................................................ 9
1.5 Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa .................................................. 16
Chương 2: Khả năng nhận thức từ nhiều nghĩa của học sinh Tiểu
học ............................................................................................................... 19
2.1. Các dạng bài tập nhận thức từ nhiều nghĩa ........................................... 19
2.1.1 Bài tập về khả năng nhận biết các nghĩa trong từ nhiều nghĩa. ............ 19
2.1.2 Bài tập về khả năng nhận biết mối liên hệ giữa các nghĩa trong từ
nhiều nghĩa. .................................................................................................. 21
2.1.3 Bài tập về khả năng nhận biết từ nhiều nghĩa trong sự phân biệt
với từ đồng âm. ............................................................................................ 22
2.2. Thực trạng nhận thức từ nhiều nghĩa của học sinh Tiểu học ................. 24
2.2.1. Kết quả số liệu thống kê ..................................................................... 24

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

2.2.2. Nhận xét kết quả số liệu thống kê ....................................................... 25
2.3. Một số đề xuất nhằm nâng cao khả năng nhận thức từ nhiều nghĩa
của học sinh Tiểu học ................................................................................... 30
2.3.1. Cung cấp kiến thức lí thuyết về từ nhiều nghĩa cho học sinh
Tiểu học ................................................................................................ 30

tạo nhiệm vụ ban đầu đặt ra là phải đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực có
năng lực, phẩm chất mới đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội hiện đại.
Để thực hiện được mục tiêu đó, nền giáo dục nói chung và bậc học
Tiểu học nói riêng đã có sự thay đổi mạnh mẽ từ nội dung đến phương pháp
dạy và học sao cho phù hợp với những yêu cầu mới mang tính thời đại. Bởi
giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vì
vậy nó quyết định sự hình thành cơ sở ban đầu về năng lực và nhân cách của
người công dân tương lai.
1.2. Cùng với các môn học khác, Tiếng Việt là một trong những môn
học trung tâm, quan trọng và chiếm nhiều thời lượng nhất trong chương trình
tiểu học. Môn học này không chỉ giúp cho học sinh hình thành các kĩ năng cơ
bản nghe, nói, đọc, viết mà nó còn có vai trò to lớn trong việc hình thành
những phẩm chất quan trọng của con người.
Trong năm phân môn của môn Tiếng Việt (Tập đọc, Kể chuyện, Luyện
từ và câu, Chính tả, Tập làm văn) thì phân môn Luyện từ và câu là một trong
những phân môn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh các
kiến thức về từ. Về vấn đề từ, bên cạnh những kiến thức cơ bản về cấu tạo từ
thì ý nghĩa của từ có vai trò quan trọng vì xét đến cùng dạy và học từ chính là
dạy và học về nghĩa của từ.

Khóa luận tốt nghiệp

1

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH


2

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là từ nhiều nghĩa. Đề tài đi sâu vào
việc tìm hiểu khả năng nhận thức từ nhiều nghĩa của học sinh Tiểu học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát khả năng nhận thức từ nhiều
nghĩa trên đối tượng của học sinh lớp 5 – Trường Tiểu học Ngô Quyền –
Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc, trường Tiểu học Cổ Loa –Huyện
Đông Anh – Thành phố Hà Nội và trường Tiểu học Yên Cường B – Huyện Ý
Yên – Tỉnh Nam Định.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến từ nhiều nghĩa
như khái niệm từ nhiều nghĩa, sự phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa, nét
nghĩa, sự giống nhau và khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Đưa ra một số dạng bài tập cơ bản để tìm hiểu khả năng nhận thức từ
nhiều nghĩa của học sinh ở trường Tiểu học.
Đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy và học kiểu bài từ
nhiều nghĩa.
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên

Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm từ nhiều nghĩa
Từ nhiều nghĩa (còn gọi là từ đa nghĩa) là một từ (một hình thức ngữ
âm) nhưng có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, nhiều khái niệm trong thực
tế khách quan. Nói cách khác mối quan hệ giữa âm thanh và ý nghĩa trong từ
nhiều nghĩa là mối quan hệ 1/n (một hiện tượng âm thanh nhưng có nhiều
nghĩa).
Ví dụ 1:
Chân:
- Chân người, chân con vật
- Chân giường, chân tủ, chân ghế
- Chân tường, chân trời
- Chân răng, chân tóc
Ví dụ 2:
Chạy:
- Chạy 100m
- Chạy thóc
- Chạy tiền, chạy điểm
- Chạy giặc, chạy loạn
- Máy chạy, đồng hồ chạy
- Hàng bán chạy

Khóa luận tốt nghiệp

5

Chạy (chạy thóc gạo)
Giữa chạy (chạy trên sân) và chạy ( chạy thóc gạo) cùng là hoạt động
của con người. Nó cũng mang nghĩa chỉ sự di chuyển. Tuy vậy, chạy (chạy
trên sân) là hoạt động đơn thuần của con người còn chạy (chạy thóc gạo) là
hoạt động của con người nhưng lại tác động vào vật khác.

Khóa luận tốt nghiệp

6

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Như thế, dù hai từ chạy đều chỉ hoạt động của con người song hai từ
chạy đã khác nhau. Một từ chạy (chạy trên sân) không tác động vào vật khác
còn chạy (chạy thóc gạo) tác động vào vật khác.
1.2 Phân loại các nghĩa khác nhau trong từ nhiều nhĩa
Sự phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa được thể hiện theo 2 tiêu
chí:
1.2.1 Sự phân loại theo nguyên tắc lịch đại
Đây là sự phân loại theo sự xuất hiện trước sau của các nghĩa. Theo tiêu
chí này, người ta chia các nghĩa khác nhau của các từ nhiều nghĩa thành nghĩa
gốc và nghĩa phái sinh:
Nghĩa gốc là nghĩa vốn có của từ, là nghĩa đầu tiên được dùng mà
không xuất phát từ một nghĩa nào khác.
Nghĩa phái sinh (nghĩa nhánh, nghĩa chuyển) là nghĩa bắt nguồn từ

cột, cây cầu, cây bút….), nghĩa phụ của từ vàng chỉ sự quý hiếm, đáng trân
trọng (tấm lòng vàng, bàn tay vàng,…)
- Nghĩa tu từ là nghĩa tồn tại nhất thời trong một câu nói cụ thể. Nghĩa
này mang tính sáng tạo, mang tính cá nhân, được hình thành trên cơ sở nghĩa
chính, nghĩa phụ.
Ví dụ: Nghĩa chỉ người con gái đẹp của từ “xuân” trong câu thơ của Tố
Hữu:
Ôi những nàng xuân rất dịu dàng
Hát câu quan họ chuyến đò ngang
Hay nghĩa chỉ Bác Hồ - Người như vì sao sáng soi đường chỉ lối, dẫn
dắt dân tộc thoát khỏi những đêm dài nô lệ trong câu:
Ngôi sao ấy lặn, hóa bình minh
Tố Hữu
1.3 . Tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa
Trong từ nhiều nghĩa, người ta phân biệt hiện tượng nhiều nghĩa biểu
vật và hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm:
- Hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật là hiện tượng một từ tương ứng với
các sự vật, hiện tượng và phạm trù các sự vật hiện tượng khác nhau.
Ví dụ: Chẳng hạn, từ ‘mũ’ trong tiếng Việt có thể có hai ý nghĩa biểu
vật (ví dụ: “mũ đội đầu” và “mũ van). Hay từ đi trong tiếng Việt , nó vừa có
nghĩa chỉ dịch chuyển bằng hai chi dưới (tôi đi rất nhanh nhưng vẫn không
đuổi kịp anh ấy) vừa có nghĩa chỉ một người nào đó đã chết (Anh ấy ra đi mà
không kịp nói lời trăng trối).

Khóa luận tốt nghiệp

8

Trường ĐHSP Hà Nội 2


hai cho kết quả các đơn vị một mặt (hoặc chỉ có mặt hình thức hoặc chỉ có
mặt nội dung).

Khóa luận tốt nghiệp

9

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Đóng góp quan trọng cho bậc phân tích này là lí luận ngữ hình. Ngữ
hình là thành tố có tính tổ chức một mặt nhỏ nhất. Ngữ hình ở mặt hình thức
là các âm vị. Âm vị không có mặt biểu đạt của riêng mình nhưng có khả năng
khu biệt nghĩa của hình vị và từ. Nội dung hay mặt được biểu đạt cũng có thể
được miêu tả nhờ vào một tập hợp các ngữ hình. Các ngữ hình của nội dung
không có mặt hình thức thể hiện, nhưng chúng ta phân biệt được các hình
thức hình vị và từ khác nhau. Từ là đơn vị cơ bản 2 mặt có tính độc lập. Từ
được cấu thành bởi hệ thống các nét nghĩa. Mỗi nét nghĩa cũng là đơn vị hai
mặt nằm trong cấu trúc nghĩa của từ. Nét nghĩa được phân xuất trên cơ sở
phân tích thành tố nghĩa. Nó không thể hiện ra bằng vỏ vật chất của từ, mà
chúng được phân xuất một cách gián tiếp trên cơ sở đối chiếu nghĩa của các từ
khác nhau. Để một từ có thể thuộc vào nhóm một nhóm nào đó, nó phải có
đặc điểm, mà dựa vào đó, ta có thể xếp nó vào nhóm đó. Đặc điểm này chính
là nét nghĩa trong đặc điểm, mà dựa vào đó, ta có thể xếp nó vào nhóm đó.
Đặc điểm này chính là nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ. Nó chính là
những mẩu, những mảnh, những phiếm loạn của tư duy được đưa sang ngôn

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Ví dụ:
Nét nghĩa “đồ dùng” là chung cho các từ: bàn, ghế, giường, tủ….
Nét nghĩa “dụng cụ” là chung cho các từ: búa, dao, cưa, đục….
Nét nghĩa “hai bàn chân không đồng thời nhấc khỏi mặt đất” là nét
nghĩa riêng của từ “đi”.
Nét nghĩa “không gây tác hại sinh lý đối với cơ thể con người” chỉ gặp
trong từ “lành”.
Các nét nghĩa được sắp xếp theo trật tự từ khái quát đến cụ thể, từ nét
nghĩa chung đến nét nghĩa riêng. Nét nghĩa chung nhất (khái quát nhất) người
ta gọi là nét nghĩa phạm trù, khi sắp xếp trong từ người ta thường để nó đứng
đầu cấu trúc biểu niệm. Vì thế, trong ngôn ngữ sẽ có những phạm trù, khi sắp
xếp trong từ người ta thường để nó đứng đầu cấu trúc biểu niệm. Vì thế, trong
ngôn ngữ sẽ có những phạm trù như sự vật hoạt động tính chất, trạng thái,….
Các từ thuộc cùng từ loại có chung nét nghĩa phạm trù.
Ví dụ: Động từ “chạy”: (hoạt động) (dời chỗ) (bằng chân) (tốc độ cao)
(hai bàn chân không đồng thời nhấc khỏi mặt đất).
Nét nghĩa phạm trù (hoạt động) sẽ chung cho các đông từ: “ném”,
“cắt”, “nói” , “học”,…..
Danh từ “bàn”: ( sự vật) (đồ dùng sinh hoạt) (làm nguyên liệu rắn) (có
mặt phẳng đặt cách mặt bàn một khoảng đủ lớn bởi các chân) (dùng để đặt).
Nét nghĩa phạm trù (sự vật) sẽ chung cho các danh từ: “giường”, “ghế”,
“cây”, “nhà”,…
Còn những nét nghĩa riêng, nét nghĩa có tính chất đặc thù thường được

nghĩa “gồm một khối vật liệu rắn có trọng lượng”. “ có cần hay không…” của
từ “búa”… có thể quy về nét nghĩa “ cấu tạo về hình dạng”.
Nét nghĩa “để đặt”, của từ “bàn”, “để tạo ra một lực”..của từ “búa” có
thể quy về nét nghĩa “chức năng”.
Nét nghĩa “hai bàn chân không đồng thời nhấc” của từ “đi”, nét nghĩa
“theo đường kính của thân mình” trong từ “lăn”…có thể quy về nét nghĩa
khái quát: “cách thức” .
Như vậy, giữa các nét nghĩa khái quát và nét nghĩa cụ thể có quan hệ
bao gồm hay nằm trong. Các nét nghĩa khái quát không thể đưa vào một nét
nghĩa khái quát lớn hơn nữa, chỉ có thể phân hóa thành những nét nghĩa cụ thể
được gọi là một nét nghĩa phạm trù hay một phạm trù ngữ nghĩa. Chẳng hạn

Khóa luận tốt nghiệp

13

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

có các phạm trù ngữ nghĩa: “sự vật”, “hoạt động”, “tư thế” , “trạng thái”,
“tính chất”…
Nét nghĩa cụ thể nhất không bao trùm một nét nghĩa cụ thể hơn được
goị là nét nghĩa tận cùng.
Ví dụ: Nét nghĩa “ cách thức” trong các động từ như “chém”, “bổ”,
“cựa”.., có thể phân hóa thành”
a) “Phương tiện”, “từ khoảng cách lớn ở ngoài đối tượng để tạo ra lực”.


K34A- GDTH

“ra”, “vào”, “lên”, “xuống”…và ngược lại, đã có “cách thức” thì không có
“phương hướng” như “chạy”, “bò lăn”…
Bên cạnh quan hệ tương hợp, giữa các nét nghĩa còn có quan hệ không
tương hợp (quan hệ tách biệt), tức là những nét nghĩa không thể đi đôi với
nhau trong một ý nghĩa biểu niệm và được gọi là các nét nghĩa tách biệt. Các
nét nghĩa tách biệt hình thành nên những ý nghĩa biểu niệm đối lập nhau,
những ý nghĩa biểu niệm tách biệt nhau này nằm trong các từ thuộc các
trường khác nhau hoặc thuộc các trường nhỏ đối lập nhau trong một trường
hợp lớn. Đây chính là cơ sở để tách biệt nghĩa của từ.
Ví dụ:
Cày

(Sự vật) (làm bằng nguyên liệu rắn) (có lưỡi sắt dùng để cày xới đất
thành luống) (1)

(Hoạt động) (tác động đến X) (làm thành luống bằng dụng cụ có
lưỡi) (2)

Tương đương vỡi nghĩa (1) sẽ có các nghĩa biểu vật: Cày chìa vôi, cày
58, cày 51 ,….
Tương đương với nghĩa (2) sẽ có các nghĩa biểu vật: Cày ải, cày vỡ,cày
đảo, cày dầm,…..
Trở lại với ví dụ trên: nét nghĩa “cách thức” và nét nghĩa “phương
hướng” không cùng tồn tại trong các động từ chỉ sự dời chỗ. Do đó, ta có hai
ý nghĩa biểu niệm tạo nên hai trường hợp nỏ trong trường “dời chỗ”, trường
nhỏ thứ nhất gồm cấc từ như “chạy”, “nhảy”, “bò”,… và trường nhỏ thứ hai
gồm các từ như “ra”, “vào”, “lên”…

cơ thể sử dụng như phương tiện.
c) Về chức năng
Chức năng thứ nhất là chức năng tổ chức công vụ trong hệ thống ngôn
ngữ, tức là chức năng nhờ đó mà từ mới tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, và
nhờ đó người ta phân biệt được từ này hay từ kia trong hệ thống.
Ví dụ: Cấu trúc biểu niệm của hai danh từ “chân” và “tay”
Chân: (bộ phận cơ thể) ( người hay động vật) (có chức năng đỡ cho cơ
thể khi đứng yên hay vận động dời chỗ).
Tay: (bộ phận cơ thể ) (người hay động vật) (có chức năng cầm nắm).

Khóa luận tốt nghiệp

16

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Nhìn vào cấu trúc biểu niệm ta thấy hai từ “chân” và “tay” khác nhau ở
chức năng đỡ cơ thể cầm, nắm. Nhờ hai nét nghĩa này mà phân biệt được hai
từ “tay” và “chân” trong hệ thống.
Chức năng thứ hai là chức năng tổ chức văn bản trong lời nói, tức là
nhờ nét nghĩa mà người ta mới có thể đặt câu đi với từ đó, hay nói cách khác
nét nghĩa quyết định khẳ năng kết hợp giữa từ này và từ kia trong lời nói.
Ví dụ : Nó đẩy cái ghế ra xa.
Trong cấu trúc biểu niệm của từ “đẩy” có nét nghĩa “tác động đến X”.
Bổ ngữ “cái ghế” đã cụ thể hóa cho nét nghĩa đó. Vì vậy, từ “đẩy” mới kết

nghĩa gốc, từ chín3 đã mang nghĩa chuyển. Tuy nhiên xét về nghĩa chúng đều
chỉ trạng thái.
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều được hình thành từ quy luật tiết
kiệm của ngôn ngữ - đó là dùng ít kí hiệu nhưng biểu đạt được nhiều.
Ví dụ: Từ bò có các nghĩa biểu đạt như sau:
Là danh từ, chỉ một loại động vật có bốn chân, có sừng, cùng họ với
trâu.
Là động từ, chỉ hoạt động rời chỗ bằng cả tay và chân.
1.5.2. Sự khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là những từ có một số đặc điểm giống
nhau nhưng chúng là hai lớp từ khác biệt.
Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có
nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau. Đây là những từ khác biệt nhau về ý nghĩa.
Ví dụ 1: Bò trong kiến bò chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng
xuống nền bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn.
Bò trong trâu bò chỉ động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu
vàng, được nuôi để lấy sức kéo,thịt, sữa.
Ví dụ 2 : Đầm trong đầm sen chỉ khoảng trũng to và sâu giữa rừng để
giữ nước.
Đầm trong bà đầm chỉ đàn bà con gái phương Tây.
Đầm trong cái đầm đất chỉ vật nặng có cán, dùng để nện đất cho chặt.
Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế:
- Do trùng hợp ngẫu nhiên (gió bay, bọn bay, cái bay)
- Do chuyển nghĩa quá xa mà thành
- Do từ vay mượn trùng với từ sẵn có ( la mắng, nốt la)
- Do sự rút gọn trùng với từ sẵn có (hụt mất 2 li, cái li)
Từ nhiều nghĩa là một hình thức âm thanh nhưng có nhiều nghĩa. Đây
là các nghĩa khác nhau của cùng một từ, các nghĩa có mối liên hệ với nhau

Khóa luận tốt nghiệp

Các từ mang nghĩa gốc thì nêu được nghĩa khác nhau nhưng phải bằng
cách diễn giải.
Còn phần nhiều các từ mang nghĩa chuyển thì nêu bằng cách thay thế
bằng một từ khác (mang nghĩa phụ).
Ví dụ 3:

Mùa xuân1 là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân2

Xuân2 được dùng theo nghĩa chuyển vì xuân có thể thay bằng từ “tươi
đẹp”.

Khóa luận tốt nghiệp

19

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

Trong cùng một hình thức ngữ âm vừa có thể là hiện tượng đồng âm,
vừa có thể là hiện tượng nhiều nghĩa.

CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG NHẬN THỨC TỪ NHIỀU NGHĨA
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. Các dạng bài tập nhận thức từ nhiều nghĩa của học sinh Tiểu học
Vấn đề từ nhiều nghĩa đã được các tác giả sách giáo khoa biên soạn

Khóa luận tốt nghiệp

20

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Hằng

K34A- GDTH

b) Cứ chiều chiều, Vũ lại nghe tiếng còi tàu vào cảng ăn than.
c) Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn bữa cơm tối rất vui vẻ.
(Bài tập 2/73 Luyện từ và câu_ tiếng Việt 5_tập 1)
c. Yêu cầu học sinh xác định nghĩa chuyển thông qua các từ cho trước.
Ví dụ: Từ ngữ nào chứa từ có nghĩa chuyển trong mỗi dòng sau?
a) Cái lưỡi, lưỡi liềm, đau lưỡi, thè lưỡi,
b) Nhổ răng, răng cưa, răng hàm, khoa răng hàm mặt.
c) Mũi dao, nhỏ mũi, ngạt mũi, thính mũi.
2.1.1.2. Nhận biết các nghĩa trong trong từ nhiều nghĩa qua việc đưa
ra các từ nhiều nghĩa sau đó yêu cầu tìm các ví dụ về sự chuyển nghĩa.
Ví dụ: Các từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật thường là từ nhiều
nghĩa. Hãy tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của những từ sau: lưỡi,
miệng, cổ, tay, lưng.
(Bài tập 2/67_Luyện từ và câu_Tiếng Việt 5)
2.1.1.3. Nhận biết các từ nhiều nghĩa thông qua việc đặt câu.
Ví dụ:Tìm hai từ ngiều nghĩa và đặt câu phân biệt chúng:
Mẫu: chín
Cơm đá chín rồi
Bị điểm kém, An ngượng chín cả người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status