Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở việt nam hiện nay - Pdf 32

Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT
--------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 (2006-2010)
Đề Tài:

HOÀN THIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY

Giáo viên hướng dẫn:
TRẦN THỤY QUỐC THÁI
Bộ Môn Luật Hành Chính

Sinh viên thực hiện:
TRƯƠNG THANH TÌNH
MSSV:5062364
Lớp: Tư Pháp 2- K32

MỞ ĐẦU
1. Tính
của đề tài

Cần Thơ, tháng 4 năm 2010

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái


phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực,
tham nhũng, chuyên quyền độc đoán, hống hách, xa rời quần chúng, tạo động lực
mạnh mẽ trong nhân dân, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới xây dựng đất nước
theo định hướng XHCN.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã, ngoài những
mặt tích cực đạt được đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ
hoá, công khai hoá trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến
đời sống hằng ngày của nhân dân ở cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện chế độ lấy ý
kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương chính sách của chính quyền còn mang
tính hình thức, kém hiệu quả, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền
trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Còn thiếu các phương thức cụ thể để thực
hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" một nội dung quan
trọng của việc thực hiện quyền dân chủ ở cấp xã.
Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước. Việc triển khai
nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay" là
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

2

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

việc làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu
bức xúc hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do
dân và vì dân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy chế dân chu là một vấn đề lớn đã có nhiều công trình nghiên cứu như:
"Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"

Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Tìm hiểu, phân tích một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên
cứu: Khái niệm, đặc điểm nền dân chủ, bản chất, vai trò của dân chủ ở cơ sở; khái
niệm, nội dung, vai trò và tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thực hiện dân chủ và thực trạng
thi hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã hiện nay.
- Đối chiếu, liên hệ với những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất
nước, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, bước đầu đề xuất
phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy chế về thực hiện dân
chủ ở cấp xã trong điều kiện mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương đối
rộng bao gồm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, cơ quan hành chính, doanh nghiệp,
trường học… Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn
thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Trong đó tập trung
phân tích những vấn đề lý luận chung về dân chủ, về pháp luật thực hiện dân chủ ở
cơ sở, về thực trạng thi hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến
nay (Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998). Trên cơ sở
đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
trong điều kiện mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền dân chủ
XHCN, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và về lý luận xây dựng
pháp luật nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp nghiên cứu của chủ
nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch sử - cụ thể;
kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: Thống kê, so sánh, điều tra xã hội
học.


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN QUY CHẾ
DÂN CHỦ Ở XÃ
1.1. Nhận thức chung về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân chủ XHCN
1.1.1.1. Dân chủ và quyền dân chủ
Một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu về lý luận và có ý nghĩa
thực tiễn cấp bách trong việc mở rộng và phát huy quyền dân chủ của công dân đó
chính là việc nghiên cứu một cách có hệ thống, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
1.1.1.1.1. Dân chủ
*Tiền đề của dân chủ
Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ
là do 2 từ hợp thành Demos (dân chúng) và Cratos (quyền lực hay cai trị). Như vậy,
với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của
nhân dân, dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định
nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc
thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình
đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của
những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" 1
Dân chủ không chỉ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự
vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế xã hội
mà dân chủ còn là thành tựu của nền văn hoá nhân loại, là thước đo về trình độ giải
phóng con người và xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử.
Mỗi bước tiến của dân chủ và mỗi trình độ phát triển của dân chủ là những nấc
thang khác nhau của tiến bộ xã hội. Phản ánh những kết quả khác nhau theo xu
hướng ngày càng cao hơn và hoàn thiện hơn của tổ chức xã hội, của quản lý Nhà

tổ chức và bộ máy Nhà nước. Cũng do đó, trong quan niệm truyền thống dân chủ
chỉ được xem như một phạm trù lịch sử.
* Nội dung của dân chủ
Dân chủ bao giờ cũng được biểu hiện trong đời sống của nhân dân, là nguyện
vong, là lợi ích cuả nhân dân. Các khái niện “nhân dân ”, “quyền lực”và “dân chủ”
đều gắn liền với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hân dân và mang tính
lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, của nhà nước và pháp luật, những quan
điểm về nhân dân, quyền lực và dân chủ cũng biến đổi, phát triển theo.
Dân chủ trong đời sống hiện thực là một hiện tượng phức tạp và đa diện,
được biểu hiện khác nhau trong các lĩnh vực của đời sông và thực sự có vô số con
đường phương thức thực hiện. Nó hoàn toàn không chỉ được quy về lĩnh vực sinh
hoạt chính trị của xã hội hay nhà nước, mà còn được phổ biến sang các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học và hệ tư tưởng…
Giá trị của dân chủ còn thể hiện ở chỗ, nó là yếu tố quan trọng làm sáng tỏ ý
chí của quần chúng, là cơ chế hình thành, tích tụ và thực hiện dân chủ một cách
thích hợp. Dân chủ là phương thức tốt nhất để đặt các đại biểu của nhân dân có
phẩm chất chính trị - đạo đức, chuyên môn xứng đáng nhất vào địa vị lãnh đạo Nhà
nước, vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị - xã hội.
Một nhân tố không kém phần quan trọng cho việc thực hiện dân chủ là nhờ
có nền kinh tế cao mà đạt được sự phát triển tương ứng của các phương tiện truyền
thông đại chúng. Thông tin đại chúng không chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng dân
chủ của nhân dân, mà chính quần chúng nhân dân còn sử dụng các phương tiện
thông tin đại chúng để đấu tranh giành lấy giá trị dân chủ cần thiết cho cuộc sống
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

7

SVTH: Trương Thanh Tình



quyền lực Nhà nước và không phải lúc nào những uỷ quyền của nhân dân cũng
được thực thi đúng. Vẫn có nguy cơ về căn bệnh tha hoá quyền lực, quan liêu hoá
bộ máy Nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất
hiện một bộ phận cán bộ đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Nhà nước sẽ khó khắc
phục nổi nến thiếu các nổ lực của các lực lượng quần chúng nhân dân. Để khắc
phục tình trạng đó cần phải có sự tham gia tích cực và chủ động của nhân dân với tư
cách là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực Nhà nước - Đó chính là chế độ
dân chủ trực tiếp.
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

8

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai: Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền
lực về những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng. Cơ quan
quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nó vào thực thi trong cuộc
sống.
Dân chủ trực tiếp có vị trí, vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ
đời sống dân chủ của đất nước được thể hiện trên những điểm chính sau đây:
Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí
tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những
vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, dân cư..
Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất, những thông tin phản
hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước. Giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính
sách của mình một cách nhanh nhất, kịp thời sửa chữa, bổ sung, khắc phục bệnh chủ

1. Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật
2. Bảo đảm quyền của nhân dân dược biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực
hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã
3. Bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và
cá nhân

4. Công khai minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã
5. Bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, sự quả lý của nhà nước.
*Bảo đảm pháp lý cho hoạt dộng dân chủ
. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp xã trong việc triển khai Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã:
Là một trong những nhân tố cơ bản tạo thành hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân và một bộ phận quan trọng quá
trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ mới, bảo đảm
bản chất của chế độ xã hội. Trong cuộc vận động thực hiện Quy chế dân chủ ở xã,
vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là tạo sự nhất trí về chính
trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân, xây dựng môi trường chính trị - xã hội
lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi để động viên người dân tích cực phát huy
quyền làm chủ của mình thông qua các hoạt động.
Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, xây dựng sự đoàn kết nhất trí
về chính trị trong đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, chủ động giải quyết
những điểm nóng chính trị - xã hội.
Phối hợp cùng chính quyền quán triệt, tuyên truyền và triển khai Quy chế,
từng bước đưa Quy chế vào cuộc sống.
Cùng cấp uỷ, chính quyền kiểm tra, giám sát, tổng kết việc thực hiện Quy
chế.
1.1.1.1.2. Quyền dân chủ
Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà
nước XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện quy định các quyền của công dân trong
mối quan hệ với Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… bảo

luật ghi nhận và bảo vệ bao gồm: Các quyền nhân thân (quyền đối với họ, tên, hình
ảnh, quyền đối với quốc tịch, nơi cư trú, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, bí
mật đầu tư, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đi lại…); các quyền sở hữu, thừa kế
và các quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ pháp luật dân sự…
Quyền dân sự cho phép con người bảo vệ được cá tính là chính mình trong
quan hệ với Nhà nước và người khác. Các quyền dân sự là tiền đề để xây dựng một
chế độ Nhà nước dân chủ.
3. Quyền kinh tế:
Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội
lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức. Tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Các quyền kinh tế gắn liền với việc bảo đảm cho cá nhân tự do sử dụng các
đồ dùng và các yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất - các điều kiện sản xuất và sức
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

11

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

lao động là một trong các điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của xã hội công
dân với tư cách là cơ sở xã hội của chế độ dân chủ và cho sự bảo đảm tự do của cá
nhân.
Các quyền kinh tế ngày càng được mở rộng cho cá nhân, đó là việc Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ các quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, các cá nhân có

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

12

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

1. Nâng cao dân trí:
Chủ trương của Hồ Chí Minh về "diệt giặc dốt", xoá nạn mù chữ là nhất
quán và xuyên suốt trong quá trình thực hành dân chủ, khi bắt đầu cách mạng
XHCN ở miền Bắc Người khẳng định "Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại,
chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan
trọng của nhân dân các nước dân chủ mới". Người nói: "Thanh toán nạn mù chữ
là bước đầu nâng cao trình độ văn hoá. Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ
giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao
trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta
thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" vì vậy Hồ
Chí Minh cùng với Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nhân
dân về kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và cả về giáo dục chính trị, tư tưởng.
Giáo dục kiến thức văn hoá - khoa học kỹ thuật có tác- dụng tạo ra cơ sở cho
việc thực hiện dân chủ. Trên cơ sở đó mới có thể nâng cao đời sống nhân dân, mặt
khác, giáo dục văn hoá còn có tác dụng nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân.
Có trình độ văn hoá còn có tác dụng nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân. Mục
tiêu của giáo dục văn hoá là: "Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ,
biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm".
Giáo dục chính trị, tư tưởng có tác dụng nâng cao ý thức làm chủ của nhân
dân. Muốn làm chủ trong quá trình cách mạng. Thì nhân dân phải được giác ngộ,
tập hợp, đoàn kết thành sức mạnh. Để thực hiện quyền làm chủ nhân dân không

kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội - công dân có
nghĩa vụ tôn trọng tài sản công cộng, đóng thuế theo luật pháp, làm nghĩa vụ quân
sự, bảo vệ Tổ quốc"
Để có thể làm trọn chức năng của dân, do dân, vì dân, ngoài việc xây dựng
và thi hành Hiến pháp và luật, Nhà nước cần phải tạo ra các điều kiện vật chất và
tinh thần giúp nhân dân thực hiện các quyền dân chủ, hướng dẫn nhân dân phát huy
các quyền làm chủ của mình. Người cho rằng, đối với một Nhà nước dân chủ có 3
điều phải chống là "Nạn tham ô, nạn lãng phí, bênh quan liêu" và "Tham ô, lãng
phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng". Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra
cách chữa bệnh quan liêu: "Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều:
- Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân.
- Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ.
- Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan ngênh
nhân dân phê bình mình.
- Sẵn sàng học hỏi nhân dân.
- Tự mình phải làm gương cần, kiện liên chính để nhân dân noi theo"
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân gắn với công
bằng xã hội, được thực hiện trong thực tế, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, với nhiều cấp độ khác nhau, được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật
bảo đảm. Dân chủ là một mặt của quá trình hoàn thiện thể chế quản lý xã hội. Đó là
Nhà nước pháp quyền dựa trên một nền dân chủ phát triển. Dân chủ bao gồm cả 2
mặt: Quyền lợi và nghĩa vụ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ
làm tròn bổn phận công dân.
3. Bảo đảm dân sinh:
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

14

SVTH: Trương Thanh Tình

mọi công dân phải triệt để tuân thủ pháp luật.
Quy chế thực hịên dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở với
công dân trong việc phải thông tin kịp thời và công khai những việc để dân biết;
những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến trước
khi cơ quan Nhà nước quyết định; những việc dân giám sát kiểm tra và việc xây
dựng cộng đồng dân cư thôn.

2

Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995,Trang 653.

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

15

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

1.2.2. Phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã chỉ điều chỉnh trong giới hạn xác định hoạt
động của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn liên quan đến quyền dân chủ của
công dân.
Hiện nay Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành kèm theo nghị định
79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh gồm:
Thứ nhất: Những việc cần thông báo để nhân dân biết:
Đây là những nội dung rất quan trọng đối với nhân dân nó liên quan đến các
quyền và lợi ích thiết thân của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,



Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Nhằm thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình
thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ chức cho nhân dân thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm
vụ cấp trên giao. Thôn xây dựng hương ước, quy ước về công việc nội bộ cộng
đồng dân cư, kế thừa và phát huy thuần phong, mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với
quy định của pháp luật hiện hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội,
giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn
mới giàu đẹp, văn minh.
1.2.3. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
1.2.3.1. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam
Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể các quy phạm
pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp
luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Đồng thời Quy
chế thực hiện dân chủ đã thể chế hoá các chủ trương lớn của Đảng là: Quyền làm
chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu,
mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiều hà cho dân vẫn đang phổ
biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được.Phương châm
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá
thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống… phải phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà
nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng"3
Trong phạm vi điều chỉnh của mình, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã góp
phần nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác như: "Luật tổ chức
HĐND - UBND, luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; luật bầu cử: Quốc hội, Luật bầu


18

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

của nhân dân, mọi người được biết, được bàn dân chủ, chính quyền các cấp nâng
cao trách nhiệm và công khai hoá nên đã giải quyết các vấn đề kinh tế một cách
thuận lợi, không phát sinh khiếu kiện đông người, kéo dài. Không nảy sinh mâu
thuẫn lớn; nhiều công trình kinh tế, văn hoá, xã hội đòi hỏi sự đóng góp sức dân rất
lớn, nhờ vận dụng phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nên đã đem lại
những thành tựu rất lớn cho nền kinh tế, xã hội của đất nước.
* Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước:
Quy chế thực hiện dân chủ thực sự là công cụ cho hoạt động quản lý, điều
hành của chính quyền cơ sở. Quy chế đã xác định rõ những nhiệm vụ và phương
thức thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở một cách khá cụ thể mặt khác
nhân dân cũng xác định được phạm vi, nội dung những nghĩa vụ mà chính quyền
phải thực hiện đối với nhân dân; tránh được những đòi hỏi, yêu sách quá đáng, thiếu
cơ sở gây rối loạn trật tự xã hội cũng như cản trở hoạt động đúng đắn của chính
quyền.
Sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là phù hợp với tình hình lịch
sử của đất nước. Nhân dân rất phấn khởi về "Quy chế" vừa giải quyết được những
bức xúc của nhân dân, phát huy quyền làm chủ, tính sáng tạo của nhân dân, vừa
nâng cao được vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, sự vận động của
mặt trận và các đoàn thể trong phát triển kinh tế xã hội. Niềm tin đối với Đảng được
tăng cường, mối quan hệ gắn bó giữa người lãnh đạo và đông đảo quần chúng được
củng cố đã thúc đẩy sự tích cực, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng
Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

tương đối trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do vậy về mặt "định lượng" Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã phải chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật quy định
cách thức, biện pháp thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám
sát kiểm tra" và các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư, nhằm phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm
kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và
tham nhũng.
1.3.1.2. Tiêu chí về tính đồng bộ
Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật. Tính đồng bộ được đặt ra
để tránh các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy
định của ngành luật hoặc giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật.
Để tạo ra tính đồng bộ, đòi hỏi phải vừa có quan điểm tổng quát, vừa có quan
điểm cụ thể. Quan điểm tổng quát để xác định tính chất chung của mỗi ngành luật,
mỗi chế định pháp luật; quan điểm cụ thể để dự kiến chính xác các tình huống và
hoàn cảnh cụ thể để đề ra các quy phạm phù hợp.
Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã phải dựa trên tiêu chí về tính
đồng bộ. Trên cơ sở tiêu chí này, kết cấu cũng như các quy định ở mỗi chương,
mục, điều, khoản các Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được đảm bảo về tính thống
nhất cũng như tránh trùng lắp, chồng chéo với nhau và với quy định của ngành luật
khác có liên quan.

1.3.1.3. Tiêu chí về tính phù hợp
Tính phù hợp thể hiện sự tương quan giữa trình độ của văn bản pháp luật với
trình độ phát triển của kinh tế - xã hội. Hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản quy
GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

20

SVTH: Trương Thanh Tình


Trên đây là những tiêu chí cơ bản có ý nghĩa chung đối với việc hoàn thiện
pháp luật nói chung và Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nói riêng. Bên cạnh những
tiêu chí chung này, vấn đề hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã còn phải dựa
trên những tiêu chí riêng và cụ thể của nó dưới đây.
1.3.2. Những tiêu chí riêng của hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
1.3.2.1. Tiêu chí về hình thức

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

21

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Hình thức của văn bản quy phạm pháp luật là tiêu chí đảm bảo cho văn bản
đó có tính pháp lý, tính khuôn mẫu và dễ áp dụng trong cuộc sống. Trước hết lựa
chọn hình thức văn bản để ban hành là nội dung quan trọng của tiêu chí này. Hình
thức văn bản hay tên gọi của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã phải phù hợp với
thẩm quyền ban hành, phạm vi điều chỉnh, nội dung thể hiện.
Pháp luật thực hiện dân chủ ở xã của Nhà nước ta hiện nay được ban hành
dưới dạng Nghị định kèm theo Quy chế như: Nghị định số 29/1989/NĐ-CP ngày
11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về việc ban hành kèm theo
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, nhìn chung hình thức này đã được sử dụng phù
hợp với nội dung văn bản, bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản trong giai đoạn lịch
sử hiện nay.
Qua thực tiễn thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trong thời gian qua
cho thấy vẫn còn nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng nhiệm vụ triển khai Quy
chế ở địa phương mình, nhiều cán bộ còn đánh giá thấp về tính pháp lý của Quy

phát triển xã hội mà các quy định của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã phản ánh
được đó là:
+ Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật,
các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp
đến đời sống và lợi ích hàng ngày ở cơ sở.
+ Có quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn
bạc và tham gia ý kiến và các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên
môn, công tác cán bộ… của chính quyền; kết quả ý kiến đóng góp phải được xem
xét, cân nhắc khi chính quyền ra quyết định.
+ Hoàn thiện cơ chế để nhân dân ở cơ sở trực tiếp và thông qua Mặt trận, các
đoàn thể, Ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền; kết
quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc.
+ Mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và thực hiện trong
khuôn khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính
quyền.
+ Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người
khiếu nại, tố cáo.
+ Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền định kỳ báo cáo công việc
trước dân, phải tự phê bình và tổ chức để nhân dân góp ý kiến, đánh giá, phê bình;
nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó.
Trên đây là những vấn đề có tính lý luận về hoàn thiện Quy chế thực hiện
dân chủ ở xã, là cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và các giải pháp hoàn
thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ở Việt Nam hiện nay.

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

23

SVTH: Trương Thanh Tình

Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và
thể chế hoá thành pháp luật. Một số cán bộ chính quyền đã lợi dụng kẽ hở trong quá
trình chuyển đổi cơ chế đã lợi dụng việc bán đất, đấu thầu, thực hiện dự án huy
động dân đóng góp quá sức vào xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ trái phép, lạm dụng
công quỹ, tham ô, hối lộ, mưu lợi cá nhân, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát công quỹ.
Trong khi đó, nhiều đòi hỏi của dân về công bằng, dân chủ, công khai không được
thực hiện, nhân dân hầu như không được tham gia, bàn bạc, thảo luận và quy định
những công việc cụ thể liên quan đến đời sống của dân, vì vậy đã làm dân bất bình,
5

ĐCSVN:Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

24

SVTH: Trương Thanh Tình


Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

phản ứng gay gắt. Do đó, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách đúng
hướng là cách tốt nhất để khắc phục, hạn chế tình trạng trên. Ngày 18/2/1998 Bộ
chính trị, ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã ra chỉ thị số 30/CT-TW về
xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị nêu rõ: "Quyền làm chủ của
nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh,
cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và
nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được. Phương châm "Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật
pháp, chậm đi vào cuộc sống"6. Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu,

GVHD: Trần Thụy Quốc Thái

25

SVTH: Trương Thanh Tình


Trích đoạn Thực hiện dân giám sát, kiểm tra Thực hiện xây dựng cộng đồng dân cư thôn Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thực hiện dân Về nội dung của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status