cái bi trong thơ ca cách mạng việt nam giai đoạn 1945 – 1975 - Pdf 32

Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
------o0o-----

NGUYỄN HOÀNG THIÊN

CÁI BI
TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1945 – 1975
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS TRẦN VĂN MINH

Cần Thơ, tháng 5/ 2010

Trang 1


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

LỜI CẢM ƠN
Chặng đường dài bốn năm Đại học đã dần lui về phía cuối. Việc thực hiện một

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cái bi – Những vấn đề lí luận
1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học
1.1.1 Khái niệm cái bi
1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của cái bi
1.1.3 Các dạng thức khác nhau của cái bi
1.2 Cảm hứng về cái bi trong văn chương
1.3 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật
1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi
1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975
1.4.2 Những chặng đường phát triển của thơ ca cách mạng
Chương 2: Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam về đề tài chiến tranh
giai đoạn 1945 – 1975
2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh
2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát
2.2.1 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng chí, đồng đội
2.2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng bào, người thân
2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận
2.3.1 Nỗi nhớ quê hương, gia đình, người yêu
2.3.2 Tình đồng chí, đồng đội
Chương 3: Cái bi trong thơ ca cách mạng về đề tài hậu phương

lập thống nhất tổ quốc (ngày 30/4/1975) là ba mươi năm dân tộc ta phải trường kì
kháng chiến. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp rồi đến hơn hai mươi năm
kháng chiến chống Mĩ – Ngụy, hết kẻ thù này đến kẻ thù khác luôn muốn thôn tín và
cướp nước ta bằng mọi giá. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là mốc son chói lọi khép lại
chặng đường ba mươi năm chiến đấu và chiến thắng một cách anh hùng của cả dân tộc
ta. Tuy có nhiều đau thương mất mát nhưng hết sức vẻ vang và đáng tự hào.
Ba mươi năm đã trôi qua, ba mươi năm chỉ là cái chớp mắt của lịch sử nhưng
đủ để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ không biết đến chiến tranh nhìn nhận đánh
giá nền văn học chiến tranh và cũng đủ để các thế hệ trưởng thành trong chiến tranh
nhìn nhận lại, đánh giá lại nền văn học cách mạng trong giai đoạn vừa qua – giai đoạn
1945 – 1975, đặc biệt là thơ ca cách mạng.
Tội ác của kẻ thù xâm lược trong suốt ba mươi năm đau thương ấy đã gây ra
không biết bao nhiêu cảnh tang thương chết chóc. Biết bao nhiêu máu, nước mắt và
tính mạng của đồng bào, chiến sĩ ta đã ngã xuống dưới gót giày xâm lược. Nên dù
muốn hay không thì hiện thực chiến tranh với bao mất mát kèm theo đã, đang và sẽ
hằn sâu trong tâm hồn mỗi con người, mỗi trang viết của các thi sĩ Việt Nam. Theo
bước đi của lịch sử, văn học nói chung và thơ ca nói riêng đã phản ánh chân thực và vô
cùng xúc động về nỗi đau của một thời mất nước này. Đề tài Cái bi trong thơ ca cách
mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã gây cho người viết rất nhiều suy nghĩ và
cảm xúc. Vì thế người viết muốn tìm hiểu sâu và rộng hơn để có cái nhìn khách quan
và hiểu biết thêm về lịch sử, về tâm tư tình cảm con người Việt Nam trong cuộc chiến
không cân sức với của kẻ thù xâm lược.

Trang 5


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên


Trang 6


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

nhiên, Vũ Duy Thông chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những biểu hiện của cái bi trong thơ
kháng chiến mà không nhận định đánh giá và làm rõ nó bằng việc lấy dẫn chứng cụ
thể và phân tích nó.
Những thế giới nghệ thuật thơ là một trong những công trình nghiên cứu có giá
trị của Trần Đình Sử. Tác giả có những nhận xét hết sức xác đáng về nghệ thuật thơ ca
cách mạng: “Về mặt nghệ thuật thơ ca cách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi
độc đáo” [tr.100]. Cũng theo ông: “Thế giới sử thi cũng có tình yêu đôi lứa, nhưng
tình yêu nam nữ ấy mang nội dung Tổ quốc” [tr.101]. Và Trần Đình Sử lại khẳng định
thơ ca cách mạng mang “Một thế giới sử thi đậm đặc, các giới hạn cá nhân bị phá vỡ
để hòa chung trong cuộc sống lớn” [tr.102].
Bài viết Nhìn lại thơ kháng chiến 1945 – 1975 của Nguyễn Thị Minh Giới
(đăng trên trang web: Www.hcmussh.edu.vn) đã đưa ra những lí do thích đáng nhất để
chúng ta phải nhìn nhận lại những giá trị của thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 theo quan
điểm và góc nhìn mới phù hợp hơn. Trong bài viết tác giả đã trích dẫn những ý kiến
của các nhà phê bình văn học hết sức xác đáng. Trong đó có ý kiến của Trần Đình Sử:
“Do nhu cầu đổi mới bức thiết của văn học trong công cuộc đổi mới chung của đất
nước, cũng như do khát vọng thiết tha muốn tự vượt lên chính mình trong thời kỳ
mới”. Và như vậy, việc nhìn nhận, đánh giá lại văn học cách mạng giai đoạn này là
cần thiết. Vấn đề là để nhìn nhận và đánh giá lại nền văn học giai đoạn này đã nảy sinh
rất nhiều ý kiến, không trùng khớp nhau, thậm chí phủ định nhau. “Bên cạnh việc
khẳng định nền văn học cách mạng giai đoạn này mà những nhược điểm được nhận
thức sâu sắc hơn, một số hiện tượng văn học từng được đánh giá cao nay không còn
được giữ nguyên kích thước như cũ”. Cũng có ý kiến cho rằng văn học 1945 – 1975 là

thuộc: Tình yêu đẹp nhất là tình yêu quê hương đất nước; hi sinh vì Tổ quốc là cao cả
nhất mang tính vĩnh hằng; cuộc sống của con người có ý nghĩa nhất khi hòa mình vào
dòng thác nhân dân; đường ra trận là con đường vui nhất và đẹp nhất…Tất cả những
điều đó được các nhà thơ viết bằng cảm hứng sôi nổi, mãnh liệt mang ý nghĩa khẳng
định, ca ngợi, tự hào” [tr.264]
Năm 1988, nhà xuất bản Giáo dục đã cho in quyển Văn học Việt Nam 1945 –
1975, tập 1, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên. Đây là công trình mang tính khái quát
những đặc điểm chung của văn học 1945 – 1975. Trong chương 1 khi trình bày về
“những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới”. Tác giả đã khẳng định rằng một trong
những nét riêng của nền văn học ba mươi năm chiến tranh này là “xu hướng sử thi hóa
là chủ đạo, chi phối từ tiểu thuyết, thi ca cho đến kịch bản sân khấu” [tr.20]. Ý kiến
này đã khẳng định thơ ca nói riêng và văn học 1945 – 1975 nói chung, đó là xu hướng
sử thi hóa. Tuy nhiên, Nguyễn Đăng Mạnh chỉ dừng lại ở việc nêu ra ý kiến cá nhân
chưa đưa ra những dẫn chứng, chi tiết cụ thể làm thuyết phục độc giả.

Trang 8


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nguyễn Văn Long trong quyển Văn học Việt Nam trong thời đại mới đã tập hợp
những bài tiểu luận nghiên cứu chủ yếu tập trung trong giai đoạn văn học 1945 – 1975.
Trong quyển sách này tác giả trình bày gồm ba phần. Ở phần một có đoạn: “Quan
niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mĩ cứu nước là sự tiếp tục của
quan niệm con người trong văn học hai mươi năm trước đó, nhưng được tập trung vào
hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là con người sử thi” [tr.37]. Ở phần hai, “Thơ giai
đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các khuynh hướng” tác giả đã trình bày khá rõ nét và tỉ
mỉ về những đặc điểm nội dung, đặc biệt là các khuynh hướng nghệ thuật của thơ ca

Ngoài những công trình đã nêu trên, còn rất nhiều công trình nghiên cứu và các
bài viết về thơ ca trong giai đoạn 1945 – 1975. Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay
một công trình nào đi sâu và đủ sức khái quát vào từng khía cạnh của văn học viết về
đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975. Người viết không cho
đó là một khó khăn thách thức với bản thân mình. Ngược lại, đây là cơ hội để người
viết có thể trình bày những quan điểm, hiểu biết của mình. Những công trình nghiên
cứu ở trên một phần đã giúp người viết xác định đúng hướng đi và hoàn thành tốt luận
văn của mình.

3. Mục đích, yêu cầu
Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca cách mạng giai
đoạn 1945 – 1975 nhưng đề Cái bi trong thơ ca cách mạng 1945 – 1975 thì vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào đủ sức thuyết phục và làm rõ cốt lõi vấn đề. Nhân đây,
người viết nghiên cứu đề tài này với mong muốn hiểu biết thêm và có cái nhìn khách
quan hơn về hoàn cảnh lịch sử và xã hội của đất nước trong thời kì 1945 – 1975.
Đồng thời cũng muốn tìm hiểu thêm tâm tư, thái độ, tình cảm của cả dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là các nhà thơ trước hoàn cảnh ấy. Hơn nữa góp một phần công sức nhỏ
bé của mình vào quá trình nghiên cứu thơ ca cách mạng của đất nước.
Nhiệm vụ của người viết khi thực hiện đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng
Việt Nam 1945 – 1975 là phải khái quát lên được hoàn cảnh lịch sử và xã hội rồi tiếp
cận phân tích những tác phẩm tiêu biểu để làm nổi bật những giá trị, thành tựu của
mảng thơ ca viết về đề tài cái bi. Từ đó, thấu hiểu được giá trị nhân văn sâu sắc mà các
nhà thơ muốn gửi gắm thông qua các tác phẩm của mình trước thực tại tàn khốc của
chiến tranh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975 có phạm vi
nghiên cứu rất rộng. Nó không dừng lại nghiên cứu riêng một tác phẩm hay một tác
giả cụ thể nào. Đề tài này bao quát cả một giai đoạn thơ ca Việt Nam thời hiện đại và
chủ yếu tập trung vào những tác phẩm thể hiện tình cảm nỗi lòng của con người Việt



Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

CHƯƠNG 1
CÁI BI – NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học
1.1.1 Khái niệm cái bi
a. Ý kiến của các nhà nghiên cứu
Những khái niệm, những phạm trù từ trước tới nay luôn tồn tại rất nhiều quan
điểm và ý kiến trong việc đưa ra tên gọi cũng như chỉ ra bản chất của nó. Xem xét cái
bi về mặt khái niệm ta thấy tồn tại rất nhiều ý kiến tương đồng cũng như dị biệt. Người
viết có thể điểm qua những ý kiến cụ thể sau:
Cái bi được đề cập đến một cách sâu sắc và có hệ thống lần đầu tiên trong Thi
pháp học của Aristốt. Ông cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các hành động nghiêm
túc và cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định, bi kịch nhằm miêu tả
những con người tốt nhất so với những người trong thực tế. Vì bi kịch miêu tả những
người tốt hơn mọi người nên ta cần bắt chước những nghệ sĩ vẽ chân dung giỏi: Tức là
khi vẽ người nào đó thì đồng thời với việc làm cho các bức chân dung giống người
được vẽ, họ còn vẽ người đó trở thành người đẹp hơn thực, “bi kịch làm trong sạch
hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”.
Những ý kiến trên của Aristốt có thể tóm gọn được những nét chung nhất về bản chất
của cái bi kịch chân chính.
Theo tài liệu 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân biên soạn, cái bi được
định nghĩa như sau: “Phạm trù Mĩ học xác định giá trị thẩm mĩ của những xung đột
không thể giải quyết, được khai triển trong tiến trình hành động tự do của nhân vật,
kèm theo những xung đột này là những tiêu vong của nhân vật hay những mất mát các
giá trị đời sống của nó. Tính thảm họa của cái bi chủ yếu quy định ở cái nội tại của cái

Theo Tào Văn Ân thì cái bi là: “Một phạm trù thẩm mĩ phản ánh một hiện
tượng có tính qui luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh
không ngang sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu, cách
mạng và phản cách mạng... Trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái
trước. Ðó là sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng và bất tử về tinh thần bằng sự thất
bại, nỗi đau và cái chết của những con người tốt. Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ
phức hợp bao gồm nỗi đau xót, sự tự hào lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp”. [2; tr.23]

b. Ý kiến tác giả luận văn
Từ những nhận định nêu trên, người viết cho rằng cần có sự tổng hòa các ý kiến
trên lại để có một định nghĩa xác đáng và đầy đủ nhất. Người viết đặc biệt chú ý đến
các bình diện nội dung của cái bi được đề cập dưới đây:
Thứ nhất, cái bi đề cập đến “sự thất bại hay chết của cái đẹp trong cuộc đấu
tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập”. Người viết cho rằng không phải bất
kì sự thất bại hay cái chết nào cũng là cái bi. Đồng thời, không phải chỉ có thất bại, cái
Trang 13


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

chết mới là cái bi, trong trường hợp để chiến thắng nhưng phải trả giá cho hành động
quá lớn thì sự chiến thắng cũng là cái bi. Cái bi bao hàm cả chiến thắng và thất bại
nhưng có một điểm chung là sự trả giá cho hành động một cách lớn lao. Ví dụ như một
tên cướp thực hiện hành vi bất thành trước sự truy cản của cảnh sát và bị bắn hạ khi
đang cố gắng chạy trốn. Thì sự thất bại và cái chết đó của tên cướp không phải là cái
bi. Cái bi phải có ý nghĩa lịch sử xã hội. Tức là, bản thân hành động phải là một cuộc
cách mạng tiến bộ giải phóng giai cấp, tấn công vào cái xấu, cái lạc hậu mang lợi ích
cho một giai cấp tiến bộ, phù hợp với xu hướng tất yếu của lịch sử. Cái chết của chị Sứ

Việt Nam thời kháng chiến đã tự giác tham gia làm công việc liên lạc và hi sinh khi
đang làm nhiệm vụ. Cái chết của em là một mất mát hi sinh mà phía cách mạng phải
gánh chịu, đó cũng là cái bi.
Nói như thế không có nghĩa là từ trước tới giờ cái bi chưa từng xuất hiện trong
thơ Việt Nam. Bi kịch cá nhân trong thơ Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt về chất giữa
trước và sau năm 1945. Cụ thể như sau:
Những năm đầu chống Pháp, tầng lớp sĩ phu yêu nước rơi vào bi kịch không lối
thoát. Đó là sự thất bại của khát vọng cao cả (yêu nước, thương dân, tinh thần tự chủ
dân tộc) trước cái ác (triều đình bán nước, quân xâm lược). Có thể nói bi kịch họ mắc
phải là bi kịch của sự lầm lỗi: Muốn cứu nước nhưng lại thờ vua, mà vua và triều đình
thì hèn nhát bạt nhược. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của triều đình phong kiến đã chấp
dứt nếu họ cố duy trì thì nó là vật cản đường cho tiến trình tiến bộ của lịch sử xã hội,
thất bại là một điều tất yếu của lịch sử. Đó là bi kịch của sự lầm lỗi.
Đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản một lần nữa mắc sai lầm nghiêm trọng khi áp
dụng mô hình bảo vệ độc lập của nước ngoài vào việc giải phóng Việt Nam. Người ta
gọi đó là “cuộc cách mạng cải lương”. Nó sai lầm ở chổ họ không tính đến hoàn cảnh
lịch sử xã hội Việt Nam không giống như: Nhật, Trung Quốc hay các nước Tây Âu mà
đem áp dụng máy móc. Chúng ta tìm thấy cái bi tràn ngập trong thơ Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh phản ánh bi kịch đó.
Trong lịch sử dân tộc chưa có thời kì nào mà cái bi xuất hiện nhiều trong thơ
như thời kì phong trào Thơ Mới. Cái bi trong Thơ Mới là cái bi “tìm đường” và “cùng
đường” của tầng lớp trí thức yêu nước thời đó. Nhân vật trữ tình trong Thơ Mới không
chấp nhận hoàn cảnh và khao khát tìm lối thoát cho cá nhân mình. Họ tất yếu bị thất
bại vì nếu muốn giải phóng cá nhân thì trước hết phải giải phóng cho giai cấp mình.
Họ không chấp nhận thực tại của sự thất bại bằng cách trốn vào: Tôn giáo, thiên nhiên,
những giấc mơ, những cơn say, những cơn điên… như: Chế Lan Viên, Vũ Quần
Phương, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…đã làm.
Cái mới mẻ của cái bi trong thơ kháng chiến là cái bi chưa từng được thể hiện
trước đó. Đó là bi kịch mang dấu ấn thời đại: Chính nghĩa nhưng yếu kém về sức
mạnh vật chất phải trả giá đắt để đánh bại cái phi nghĩa dựa vào sức mạnh vật chất để

cái bi. Chẳng hạn, phong trào Công xã Pari, 1871 ở Pháp.

b. Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc
Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn con người.
Aristót, nhà triết học, mĩ học thời Hi Lạp cổ đại cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các
hành động nghiêm túc mà cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định”, “bi
kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất”. Nhân vật mà lực lượng bi kịch có sức
mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có ý tưởng đẹp đẽ, có khát vọng chân chính. Nhân
vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt. Nhưng đặc trưng thẫm mĩ của cái bi lại không
bi. Aristót cũng khẳng định: “Bị kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua

Trang 16


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

việc khiêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”. Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn
tích cực, vẫn là vui, phấn chấn… Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêu cực.

c. Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui
Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìn những diễn
viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình hay lòng trắc ẩn, mà mặt
mày như tươi tỉnh xán lạn, tâm tư dàn trải thoải mái. Máu và nước mắt thường đem lại
cho ta những ý vị ngọt ngào tươi mát hơn là những nụ cười hoan hỉ. Vì vậy cảm xúc
vui tươi trong bi kịch do đâu mà có? Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau.
Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giải thích được một cách đúng đắn
nguyên nhân cái vui trong bi kịch. Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở đâu? Bi kịch là một
thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinh nghiệm mĩ cảm. Kinh nghiệm mĩ

cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử. Họ trở nên anh hùng vì động cơ,
hành động, do trách nhiệm trước lịch sử. Lịch sử mãi mãi ca ngợi sự thất bại của nghĩa
quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám. Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi
Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện.
Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu: Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch
lịch sử. Cái mới cách mạng đã ở thế thắng trên toàn cục. Nhưng một bộ phận nào đó
lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến người anh hùng sa cơ. Chẳng hạn, Chiến bại, Đội
cận vệ thanh niên của Phađêép; Hùng & Rin trong Bài ca chim Chơrao; Võ Thị Sáu
trong Mùa hoa lêkima...
Bi kịch của sự lầm lạc của cái cũ: Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo C.Mác,
phải xét theo 3 tiêu chí: Một, cái cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái
xấu. Hai, bản thân cái cũ còn tin vào tính chất hợp lý của mình. Ba, những con người
đứng về phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc
có tính chất lịch sử toàn thế giới. Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (C.Mác). Bản
chất cái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặt lịch
sử. Chẳng hạn, Ðônkihôtê. Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu, đấu tranh cho lí
tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành động theo thói quen. Những
người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu vì “đơn thương độc mã”. Sự thất bại của vua
Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọn đời, cũng là một ví dụ.
Bi kịch của cái xấu: Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của
cái đẹp, cái tốt hay sự lầm lạc. Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy
xót thương làm luyến tiếc. Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làm điều
khủng khiếp. Aristót nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bi kịch làm trong
sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự thương xót và khủng khiếp.
Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịch Mắcbét. Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác
bị trừng trị. Ðây là một bi kịch chính trị - xã hội. Tác giả lên án chế độ tập quyền
chuyên chế triều Giêm I, tên vua bạo tàn Anh quốc đầu thế kỉ XVII.
Bi kịch về sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt: Bi kịch này được nêu ra như là
bài học xương máu trên đường đời để nhắc nhở cảnh tỉnh. Bi kịch về sự kém hiểu biết
Trang 18

Sécnưsépki đã có lí khi phản đối những khái niệm thu hẹp vấn đề như vậy, ông
định nghĩa cái bi là toàn bộ những điều “ khủng khiếp” trong đời sống con người. Tuy
vậy cũng phải thừa nhận định nghĩa của ông là quá rộng, bởi vì các tình huống kịch
tính và những chuyện ngẫu nhiên bất hạnh bên ngoài gây ra điều khủng kiếp. Có lẽ
gần với chân lí hơn cả là định nghĩa của Bêlinki đưa ra: “Cái bi bao hàm trong sự xung
đột giữa sự say mê tự nhiên của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ bao hàm trong sự
đấu tranh bắt nguồn từ xung đột đó và sau cùng, bao hàm cả sự thắng lợi hoặc sụp đổ”.
Nhưng một định nghĩa như vậy cần có thêm bổ sung quan trọng.
Trang 19


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Tính chất bi kịch của các tình huống đời sống thực và của những cảm xúc do
các tình huống gây nên cần được khảo sát theo tương đồng và sự tương phản với tính
kịch. Khi ở trong tình huống bi kịch người ta trãi nghiệm sự căng thẳng và sự lo âu sâu
sắc có tâm hồn, khiến người ta phải chịu những đau khổ, thường rất nặng nề. Nhưng
những lo âu và đau khổ nảy sinh chủ yếu không phải nảy sinh do những xung đột với
các thế lực từ bên ngoài đe dọa những lợi ích thiết cốt nhất, đôi khi đe dọa cả sự sống
của người ta và gây ra sự phản kháng, như tình hình xảy ra trong các tình huống mang
tính kịch. Tính chất bi kịch của tình huống và cảm xúc bao hàm trong ý thức, trong
tâm hồn con người.
Theo định nghĩa cái bi của Bêlinki đưa ra, một mặt của mâu thuẫn bên trong “là
sự say mê tự nhiên của con tim”, tức là những quyến luyến của tân hồn riêng tư, và
những tình cảm yêu thương,…, và mặt khác là “tư tưởng về nghĩa vụ”, tức là cái cản
trở “sự say mê của con tim”, những ý thức về điều luật đạo đức đã gắn kẻ đang yêu
nước với tư tưởng đó. Thường khi đó là luật hôn nhân, nhưng cũng còn trách nhiệm
với gia đình, nhưng cũng trước dân tộc, quốc gia.

trị đó lại phải được đồng hóa trong thế giới tâm hồn để hình thành lí tưởng thẩm mĩ. Lí
tưởng thẩm mĩ của nhà thơ chi phối thị hiếu thẩm mĩ, nảy sinh cảm xúc thẩm mĩ. Xúc
cảm thẩm mĩ đạt tới một “độ” nào đó sẽ nảy sinh cảm hứng sáng tạo. Duy trì được
cảm hứng sáng tạo trong quá trình sáng tạo đầy hứng khởi và đau khổ, tác phẩm thơ sẽ
ra đời. Như vậy ở các nhà thơ ý thức phục vụ mục đích chính trị là một chuỗi hoạt
động tự giác, được nhào nặn qua cảm hứng sáng tạo và lao động nghệ thuật. Ý thức
công dân và ý thức nghệ sĩ là mối quan hệ máu thịt, biện chứng không thể bóc tách
một cách siêu hình” [tr.65- 66].
Do sai lầm trong quan điểm nghệ thuật và tầm nhìn thiển cận về thơ ca nên có
một thời kì những sáng tác như: Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Tây tiến (Quang Dũng),
Bến kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…bị coi là “mang màu sắc tư sản”, quá ủy mị vì đã
đề cập trực tiếp đến cái chết nên thường bị liệt vào những tác phẩm hạn chế phổ biến.
Đó là một quan điểm sai lầm nghiên trọng. Thơ ca cách mạng đề cập đến những mất
mát hi sinh trong chiến tranh là điều tất yếu, là phù hợp và không thể né tránh, vì:
Thứ nhất, nó giải quyết nhu cầu nắm bắt hiện thực của độc giả, mà thơ ca cách
mạng ra đời để phục vụ người đọc, vì họ muốn biết rõ diễn biến của chiến tranh qua
từng mặt trận và qua từng thời điểm một cách nhanh chóng và chính xác.
Thứ hai, tham gia vào chiến trận, hàng ngày phải nhìn thấy bao cảnh mất mát
đau thương trong chiến tranh, tác giả sáng tác thơ là để bày tỏ cảm xúc tình cảm của
mình qua từng trang viết. Ngoài ra, họ ghi lại như là một minh chứng cho lịch sử dân
tộc và nó còn là lương tâm trách nhiệm của người cầm bút.
Thứ ba, thơ ca là “người bạn đường” của mọi chiến sĩ. Họ tìm đến với thơ ca
như là một sự giải bày, một sự cứu cánh cho tâm hồn của mình thoát khỏi thực tại tàn
khốc của hiện thực đời sống chiến tranh.
Trang 21


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

sự tuẫn đạo, con người phải chịu khổ hình để cứu chuộc cho con người tội tổ tông
truyền. Hình tượng chủ yếu của nghệ thuật bi kịch Trung cổ hiện ra với nỗi đau khổ

Trang 22


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

trong hai tư thế: Nhìn xuống hoặc ngước lên. Nhìn xuống để sám hối tội lỗi và ngước
lên để cầu xin thượng đế rũ lòng thương.
Bi kịch thời Phục hưng: Gắn liền với tên tuổi của Xếchphia với những bi kịch
nổi tiếng như: Mắcbéc, Ôthenlô, Hămlét, Rômêô và Juliet, Vua Lia...Bi kịch Phục
Hưng phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa lí tưởng nhân văn, hướng về tự do, muốn giải
phóng con người với thực tại bởi vì con người đang tồn tại với những nỗi khủng khiếp
mới.
Bi kịch Cổ điển thế kỉ XVII: Phản ánh mâu thuẫn giữa nghĩa vụ công dân và
dục vọng, tình cảm cá nhân và cố gắng dung hòa những mâu thuẫn này ở những mức
độ nhất định. Giai đoạn này có những nhà viết kịch nổi tiếng như: Raxin, Cócnây...Tác
phẩm tiêu biểu: Lơxít của Cócnây.
Bi kịch thời Khai sáng: Nêu lên những mâu thuẫn giữa khát vọng tự do chân
chính của con người với những thế lực tối tăm của xã hội đã bắt đầu tư sản hóa (Âm
mưu và tình yêu của Sile...)

1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi
1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975
a. Giai đoạn 1945 - 1954
Hơn tám mươi năm dân tộc Việt Nam sống ách đô hộ của thực dân, đế quốc.
Ngần ấy thời gian dân tộc ta phải sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Ngày 02 tháng 9

âm mưu và tội ác của giặc đã gây ra vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Ngày
19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh – đại diện cho chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Một lần nữa đất nước ta triệu người
như một hăng hái ra chiến trường để chiến đấu. Trong suốt chín năm kháng chiến
chống Pháp, biết bao cảnh tang thương mất mát đã diễn ra dưới gót giày xâm lược của
kẻ thù ngoại xâm.
Ngày 07 tháng 5 năm 1954, quân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
thần thánh, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng ấy buộc thực dân Pháp phải ngồi vào
bàn đàm phán trao trả tự do cho miền Bắc bằng hiệp định Giơnevơ về Đông Dương
vào ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi. Một nửa đất nước được giải
phóng. Chính quyền kiểu mới ở các cấp từng bước được củng cố. Tổ chức Ðảng vững
mạnh hơn nhiều. Ðại hội Ðảng lần 2 (1951) xác định đúng đắn đường lối cho kháng
chiến. Năm 1953, Hồ Chủ Tịch ra sắc lệnh giảm tô và cải cách ruộng đất. Tuy có lúc
có nơi còn cực đoan, thái quá, nguyên tắc cứng nhắt, sai lầm trong thực hành tại địa
phương nhưng về cơ bản cuộc Cách mạng này đã thực sự giải phóng đất đai và người
nông dân, thủ tiêu triệt để quan hệ sản xuất lỗi thời, đem lại cho kháng chiến một động

Trang 24


Luận văn tốt nghiệp Đại học

SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

lực mạnh mẽ. Nền kinh tế tự túc đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của đời sống
nhân dân trong kháng chiến.

b. Giai đoạn 1954 – 1975
Sau ngày hiệp định Giơnevơ được kí kết - lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status