BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
***********************
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2010.19.75
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG GIẢNG DẠY CÁC MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VÀ
VĂN HỌC – ĐẤT NƯỚC CHO SINH VIÊN CHÍNH QUY SƯ
PHẠM THEO TÌNH HÌNH THỰC TẾ CỦA KHOA ANH ,
TRƯỜNG ĐHSP TP. HCM
Chủ nhiệm đề tài: ThS NGUYỄN HỒ PHƯƠNG NGHI
TP. HỒ CHÍ MINH - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
***********************
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2010.19.75
1.5 Tổ chức nghiên cứu ..................................................................................... 10
1.6 Câu hỏi nghiên cứu ...................................................................................... 12
1.7 Phƣơng pháp phân tích kết quả .................................................................... 13
CHƢƠNG HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................. 14
2.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học ngoại ngữ ............................ 14
2.2 Ứng dụng CNTT trong giảng dạy Tiếng Anh trên quan điểm của các thuyết dạy
học
............................................................................................................... 15
2.2.1 Thuyết hành vi .......................................................................................... 15
2.2.2 Thuyết kiến tạo ......................................................................................... 16
2.2.3 Thuyết văn hóa-xã hội .............................................................................. 16
2.2.4 Thuyết nhận thức ...................................................................................... 17
CHƢƠNG BA: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 19
3.1 Nhóm câu hỏi về giảng viên ......................................................................... 19
3.2 Nhóm câu hỏi về thái độ của giảng viên đối với CNTT ................................ 21
3.3 Nhóm câu hỏi về cách sử dụng CNTT trong giảng dạy ................................ 24
CHƢƠNG BỐN: BÀN LUẬN ......................................................................... 28
CHƢƠNG NĂM: KẾT LUẬN VÀ PHƢƠNG HƢỚNG NGHIÊN CỨU .......... 31
5.1 Kết luận ....................................................................................................... 31
5.2 Phƣơng hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai ................................................... 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 33
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
1
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thời gian thực hiện: từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011
1. Mục tiêu:
Công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang góp phần quan trọng cho việc tạo ra những
nhân tố năng động mới cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông
tin. CNTT cũng ảnh hƣởng mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục. Xuất phát từ thực trạng
dạy và học các môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc ở khoa Anh, Đại học Sƣ phạm TP.
Hồ Chí Minh (ĐHSP TP. HCM), đề tài đặt ra mục tiêu tìm hiểu thái độ, nguyện vọng
của giảng viên đối với việc sử dụng CNTT trong giảng dạy trực tiếp trên lớp, qua đó
cho thấy ảnh hƣởng của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy các môn Kỹ năng và Văn
học-Đất nƣớc cho sinh viên chính quy khoa Anh, ĐHSP TP. HCM và nêu lên những
kiến nghị nhằm giúp cho việc giảng dạy đƣợc diễn ra thuận lợi hơn nhờ có sự hỗ trợ
của công nghệ.
2. Nội dung chính:
Với thời gian thực hiện trong 12 tháng, trên cơ sở một số lý thuyết và khái niệm liên
quan đến việc ứng dụng CNTT trong dạy và học ngoại ngữ, đề tài tập trung giải quyết
ba câu hỏi nghiên cứu sau:
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
3
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Thái độ của các giảng viên giảng dạy các môn Kỹ năng và Văn học-Đất
nƣớc ở Khoa tiếng Anh (ĐHSP TP. HCM) đối với việc ứng dụng CNTT
trong giảng dạy nhƣ thế nào?
(2) Các giảng viên giảng dạy các môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc ở Khoa
tiếng Anh (ĐHSP TP. HCM) đã ứng dụng CNTT trong giảng dạy nhƣ thế
nào?
SUMMARY
Project Title: The Application of Technology in Teaching English Skills and
Literature-Culture Subjects at the Department of English, HCMC University of
Education.
Code number: CS.2010.19.75
Coordinator: Nguyen Ho Phuong Chi (MA)
Tel: +84 905 190 889
E-mail: [email protected]
Implementing Institution: English Department, HCMC University of Education
Cooperating Author and Institution(s): Nguyen Thanh Binh (MA) and the English
Department, HCMC University of Education
Duration: from October 2010 to October 2011
1. Objectives:
It is self-evident that technology should be brought into operation within the field of
language teaching, as the presence of technology is spreading at a dizzy pace in
almost all areas of our life, contributing to the development of a knowledge-based
economy. In the context of teaching and learning English skills and Literature-Culture
subjects at English Department (HCMC University of Education), the rerearch project
aims at identifying teachers’ attitudes and methods in applying technology in language
teaching. It is hoped that the research will also reveal the great influence and multiple
benefits of applying technology in teaching and learning English linguistic skills and
Literature-Culture subjects
2. Main contents:
With the project time of about 12 months, on the basis of some theories and
hypotheses related to the application of information technology to language teaching
and learning, the project deals with three research questions:
(1) What are the teachers’ attitudes towards applying technology to teaching
English skills and Culture-Literature subjects?
2011, Bangkok.
10 lesson plans with technology incorporated
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
6
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, trƣớc hết, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất
cả các giảng viên và sinh viên Khoa Tiếng Anh, trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, những ngƣời đã nhiệt tình tham gia vào các cuộc khảo sát, phỏng vấn
và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tạo nên động lực mạnh mẽ thúc
đẩy chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu đề tài sâu sắc hơn.
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Ngọc Vũ đã cho chúng
tôi những lời khuyên thật quý báu trong quá trình thu thập số liệu và hoàn chỉnh đề tài.
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa tiếng Anh và Phòng
Khoa học-Công nghệ của trƣờng ĐHSP TP. HCM đã tạo điều kiện thuận lợi để hoàn
thành đề tài cấp cơ sở này.
TP. HCM, ngày 28 tháng 11 năm 2011
ThS. Nguyễn Hồ Phƣơng Chi
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
7
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này là đề xuất cho nhà trƣờng áp dụng những cải tiến
CNTT mang tính ứng dụng cao vào thực tế giảng dạy tiếng Anh cho Tổ thực hành
tiếng và Tổ văn học – Đất nƣớc học tại Khoa Anh.
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
8
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
•
Ứng dụng công nghệ thông tin vào biên soạn giáo trình điện tử
•
Ứng dụng công nghệ thông tin vào trình bày bài giảng
1.3 Cấu trúc của báo cáo đề tài
Đề tài đƣợc chia làm phần năm chƣơng. Chƣơng Một giới thiệu tính cấp thiết, mục
tiêu, cấu trúc bài báo cáo, đối tƣợng nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, câu hỏi nghiên
cứu, và phƣơng pháp phân tích kết quả của đề tài. Chƣơng Hai là Cơ sở lý luận, giới
thiệu một số khái niệm đƣợc sử dụng xuyên suốt trong đề tài và một số nền tảng lý
luận về việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy Tiếng Anh. Chƣơng Ba là Kết quả
nghiên cứu. Chƣơng Bốn là Bàn luận, tập trung bàn luận về kết quả nghiên cứu vừa
đƣợc trình bày ở chƣơng Ba. Cuối cùng, chƣơng Năm đƣa ra kết luận cho toàn bộ đề
tài nghiên cứu và đƣa ra phƣơng hƣớng nghiên cứu tiếp theo cho tƣơng lai.
1.4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là 25 giảng viên Khoa tiếng Anh (ĐHSP TP. HCM)
vấn đề cụ thể hơn, linh động hơn, và mang tính cá nhân hơn. Ngoài ra, đa số các câu
hỏi trong bảng khảo sát đều là câu hỏi đóng, trong khi với phỏng vấn, câu hỏi mở
đƣợc tác giả sử dụng nhiều hơn. Cả 2 nhóm câu hỏi đóng và mở đều nhằm mục đích
tăng thêm độ tin cậy cho câu trả lời. Đối với câu hỏi mở, ngƣời nghiên cứu muốn xoáy
sâu vào ý kiến cá nhân nhằm giúp các đối tƣợng nghiên cứu có cơ hội bày tỏ những
suy nghĩ mà họ không thể hiện đƣợc trong câu hỏi đóng. Phƣơng pháp phỏng vấn bán
cấu trúc, đƣợc Burns (1999, tr. 120) cho là linh hoạt hơn trong việc thu thập dữ liệu
theo phƣơng pháp định tính đƣợc sử dụng nhằm tăng tính giá trị của nghiên cứu. Về
câu hỏi khảo sát, xem Phụ lục A và Phụ lục B; về câu hỏi phỏng vấn, xem Phụ lục C
và Phụ lục D. Ngoài hai phƣơng pháp trên, tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp quan
sát lớp học để xem phản ứng của các sinh viên và đánh giá hiệu quả của tiết dạy trong
giờ học có ứng dụng CNTT. Đặc biệt, tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong
giảng dạy môn Đọc đã đƣợc thực hiện bằng việc so sánh kết quả làm bài của sinh viên
trong các kỳ kiểm tra sử dụng công cụ phân tích t-test. Bài nghiên cứu đã đƣợc trình
bày tại hội thảo quốc tế về giảng dạy Tiếng Anh tại Campuchia, tháng 2 năm 2011 và
nhận đƣợc nhiều đóng góp để bổ sung cho việc hoàn thiện đề tài cấp trƣờng này.
1.5.2 Tổ chức nghiên cứu
Trƣớc tiên, tác giả quan sát các lớp học ở 2 bộ môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc
trong học kỳ một của năm học 2010-1011 để có một số đánh giá về mức độ ứng dụng
CNTT trong giảng dạy và thái độ học tập của sinh viên trong các giờ học này nhằm
thiết kế câu hỏi phỏng vấn và bảng câu hỏi cho phù hợp. Tiếp đó, tác giả phỏng vấn
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
10
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(2) Các giảng viên giảng dạy các môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc ở Khoa
tiếng Anh (ĐHSP TP. HCM) đã ứng dụng CNTT trong giảng dạy nhƣ thế
nào?
(3) Đâu là những cách thức hiệu quả để ứng dụng CNTT trong giảng dạy các
môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc?
Câu (1) đƣợc đặt ra vì một số nhà nghiên cứu nhƣ Zhao, Tan và Mishra (2001) đƣa ra
bằng chứng rằng thái độ của giảng viên có ảnh hƣởng trực tiếp đối với việc ứng dụng
công nghệ hiệu quả trong lớp học. Nói cách khác, thành công trong bài giảng có tích
hợp công nghệ phụ thuộc vào thái độ và sự sẵn sàng sử dụng CNTT của giảng viên.
Câu hỏi (1) muốn tìm hiểu xem giả thuyết này có đúng hay không, và nếu đúng thì
đúng đến mức độ nào.
Câu (2) đƣợc đặt ra trên nền tảng câu (1). Nếu các giảng viên có thái độ tích cực đối
với việc ứng dụng CNTT vào các tiết giảng của mình, liệu họ đã thật sự thiết kế bài
giảng và sử dụng CNTT có hiệu quả để nâng cao chất lƣợng giảng dạy chƣa. Với câu
hỏi nghiên cứu (2), đề tài rất muốn tìm ra đâu là những kỹ thuật và chiến lƣợc mà các
giảng viên đã dùng trong các tiết học về Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc, 2 tổ bộ môn
có số lƣợng tiết học cao trong toàn bộ chƣơng trình giảng dạy của Khoa Anh.
Câu (3) mang tính tổng kết và khái quát hoá. Thông qua câu hỏi khảo sát, tác giả có
thể tìm ra những khác biệt cơ bản trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của các
giảng viên. Thông qua những buổi phỏng vấn trực tiếp với giảng viên, tác giả tổng
hợp lại các ý kiến nhằm khái quát các đề xuất hiệu quả cho việc ứng dụng CNTT
trong giảng dạy ở 2 tổ bộ môn là Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc.
1.7 Phƣơng pháp phân tích kết quả
Phƣơng pháp phân tích kết quả đƣợc sử dụng trong đề tài này là phƣơng pháp phân
tích định lƣợng và phƣơng pháp phân tích định tính bởi theo Burns (1999, tr. 24) thì
hai phƣơng pháp này bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Trong khi phƣơng pháp phân tích
có giáo dục. Dạy học có sự hỗ trợ của công nghệ (Technology Enhanced Learning) là
dùng công nghệ làm đòn bẩy để thúc đẩy việc dạy học với khóa học đƣợc thiết kế hợp
lý để cung cấp cho ngƣời học nhiều lựa chọn về thời gian, không gian, tốc độ, và chú
trọng đến các phong cách học khác nhau. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng
CNTT có khả năng thúc đẩy việc học tập của sinh viên nếu giáo viên sẵn sàng cho
việc sử dụng và thích ứng với sự phát triển của công nghệ. Đó là những nghiên cứu
của Holliday (1994), Warschauer (2003), Ahmad, Corbett, Rogers và Sussez (1987).
Việc dạy và học ngoại ngữ, trong đó có môn Tiếng Anh cũng chịu ảnh hƣởng sâu sắc
bởi những phát minh và ứng dụng mới liên quan đến CNTT.
Trƣớc hết, CNTT đang dần thay đổi cách dạy và học ngoại ngữ truyền thống với các
thiết bị nhƣ máy tính, máy chiếu, phần mềm học tập ngày càng trở nên phổ biến tại
các cơ sở đào tạo. Đối với nhiều giáo viên, CNTT có khả năng làm bài học trở nên
sinh động, hấp dẫn hơn. Nhiều môn học khó, khô cứng trở nên dễ dàng và thoải mái
nhờ có máy tính và e-learning (học trực tuyến). Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng
CNTT giúp cải thiện kết quả học tập khi đƣợc ứng dụng phù hợp với các tiêu chuẩn
chƣơng trình học (Cradller, McNabb, Freeman, 2002). Chenoweth (2001, tr. 48) nhận
xét CNTT có ảnh hƣởng mạnh khi đƣợc kết hợp vào chƣơng trình nhằm đạt đƣợc các
mục tiêu giáo dục rõ ràng có thể đo đƣợc. Warschauer và Healey (1998, tr. 57) cho
rằng việc sử dụng đa phƣơng tiện, Internet và các hoạt động làm nhóm trong khi học
ngoại ngữ chính là lợi ích thực tế cho sinh viên. Trên quan điểm giáo dục, nhiều
chuyên gia khẳng định CNTT nâng cao hay ít nhất cũng hỗ trợ cách học truyền thống,
giúp sinh viên có nhiều lựa chọn hơn và đáp ứng đƣợc nhiều cách học khác nhau cùng
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
14
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
15
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
2.2. Ứng dụng CNTT trong giảng dạy Tiếng Anh trên quan điểm của các thuyết
dạy học
Việc giảng dạy và học tập môn Tiếng Anh chịu ảnh hƣởng bởi các thuyết về học tập
(learning theories) và các phƣơng pháp giảng dạy (teaching methodologies hay
teaching approaches). Các hƣớng ứng dụng CNTT trong dạy học Tiếng Anh đƣợc xác
định dựa trên 4 thuyết học tập và giảng dạy chính: thuyết hành vi, thuyết tri nhận-xây
dựng, thuyết văn hóa-xã hội và thuyết nhận thức.
2.2.1 Thuyết hành vi (Behaviorism)
Đây là một trong những thuyết chính về dạy học. Thuyết hành vi cho rằng việc giảng
dạy ngôn ngữ phải đi song song với quá trình hình thành thói quen (Lightbown và
Spada, 2003). Dựa trên cơ sở là chủ nghĩa hành vi, quan điểm này xem ngƣời học nhƣ
là “một cái máy sản xuất ra ngôn ngữ”. Theo đó, khi nghe hoặc đọc những hình thức
hoặc mẫu câu từ một ngƣời hoặc nguồn nào đó bên ngoài, ngƣời học lập tức tự động
bắt chƣớc những hình thức và mẫu câu này.
Theo thuyết hành vi, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy ngôn ngữ phải bảo đảm
cung cấp cho ngƣời học tài liệu học tập mà qua đó họ có thể lĩnh hội kiến thức. Theo
Hubbard (1987), việc kết hợp CNTT trong bài giảng theo hƣớng hành vi vẫn phải đảm
bảo có những yếu tố sau:
1. Trình bày từ vựng và ngôn ngữ thích hợp với trình độ ngƣời học.
2. Giữ đƣợc sự tập trung của ngƣời học vào bài tập.
3. Không chấp nhận những lỗi sai là câu trả lời đúng.
4. Yêu cầu ngƣời học nhập câu trả lời đúng trƣớc khi tiếp tục.
5. Cung cấp cho ngƣời học phản hồi tích cực cho những câu trả lời chính xác.
Hoven (1999) khẳng định rằng phƣơng pháp dạy học theo hƣớng văn hóa-xã hội là mô
hình phù hợp nhất cho việc ứng dụng CNTT hỗ trợ. Nguyên nhân là do lối dạy này
chú trọng đến khả năng tạo sự hiểu ý có đàm phán và trao đổi giữa ngƣời học với
nhau, giữa ngƣời học và giáo viên, giữa ngƣời học và công nghệ. Theo thuyết văn
hóa-xã hội, việc học còn diễn ra thông qua các phƣơng tiện nhƣ ngôn ngữ, ký hiệu,
hình ảnh, chữ viết và các thiết bị công nghệ. Thuyết này cũng chú trọng đến cộng
đồng thực hành ngôn ngữ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tƣơng tác giữa ngƣời học
trong quá trình lĩnh hội ngôn ngữ và quá trình sáng tạo là vô cùng quan trọng. Chính
những chiến lƣợc học có sự tƣơng tác với ngôn ngữ và sự giao tiếp giúp ngƣỡi học
cảm nhận và sống đƣợc trong môi trƣờng văn hóa của ngôn ngữ đó. Khi vận dụng
thuyết văn hóa-xã hội để thiết kế bài giảng, giáo viên cần lƣu ý có các hoạt động tạo
điều kiện đánh giá, xem xét các lựa chọn của mình và khả năng tổ chức hoạt động
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
17
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
học. Giáo viên cũng cần cung cấp cho ngƣời học những lời nhận xét, đánh giá về năng
lực và hƣớng dẫn ngƣời học cách tiếp cận và sử dụng những công nghệ mới.
2.2.4 Thuyết nhận thức (Cognitivism)
Chủ nghĩa nhận thức xem ngƣời học là một thực thể có suy nghĩ và là ngƣời xử lý
thông tin năng động. Theo đó, việc học là một quá trình mà ngƣời học chủ động phân
tích các tình huống khi việc vận dụng các luật lệ thích hợp. Mặc dù đƣợc cung cấp
thông tin và tƣ liệu cho việc học, ngƣời học phải tự chịu trách nhiệm với việc học và
tìm hiểu những thông tin đã đƣợc cung cấp. Lang (2004) miêu tả thuyết nhận thức
trong học tập nhƣ một chuỗi liên kết trong đó mỗi bài tập là một điểm liên kết trên
chuỗi liên kết. Nhiệm vụ của ngƣời học là gắn kết những điểm đó lại với nhau. Việc
quen” (unfamiliar) hoặc “mới làm quen” (newcomer) đƣợc xem nhƣ không có kinh
nghiệm làm việc với công nghệ hoặc rất nỗ lực sử dụng nhƣng vẫn cần có sự trợ giúp
thƣờng xuyên. “Ngƣời mới bắt đầu” (beginner) là các giảng viên có thể thực hiện các
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
19
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
chức năng cơ bản của những ứng dụng công nghệ nhƣ Microsoft Word tuy có phần
hạn chế. Trong khi đó “nhóm trung bình” (average) chỉ những giảng viên có khả năng
sử dụng thông thạo một số ứng dụng công nghệ chung. Nhóm giảng viên đƣợc đánh
giá ở mức “nâng cao” (advanced) hoặc “chuyên gia” (expert) có khả năng sử dụng
thông thạo nhiều ứng dụng công nghệ rộng rãi hoặc cực kỳ thông thạo rất nhiều ứng
dụng công nghệ.
Bảng 2 cho thấy việc giảng viên đánh giá mức độ thông thạo của họ trong sử dụng
công nghệ. Đáng lƣu ý là có hơn một nữa số giảng viên (13 ngƣời) tự nhận mình ở
mức độ “trung bình”, chiếm tỉ lệ cao nhất trong bảng là 52%. 12 giảng viên khác tự
nhận ở mức “mới làm quen” (3 ngƣời, 12%), “mới bắt đầu” (5 ngƣời, 20%) và “nâng
cao” (16%, 4 ngƣời). Không giảng viên mô tả khả năng của mình là “không quen”
hoặc ở mức “chuyên gia”, 2 lựa chọn nằm về 2 cực khác nhau của câu hỏi. Nhƣ vậy,
có thể thấy tất cả các giảng viên ở Khoa Anh, tuy khác nhau về tuổi tác và kinh
nghiệm giảng dạy, ai cũng đã có cơ hội tiếp xúc và làm việc với CNTT. Kết quả ở
Hình 2 cũng chứng tỏ rằng khả năng sử dụng công nghệ của các giảng viên phần lớn ở
mức “trung bình”. Giảng viên nào cũng ít nhất đã có cơ hội làm quen, sử dụng CNTT.
Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến thái độ, cách thức ứng dụng công nghệ trong giảng
dạy vì không phải giảng viên nào cũng sẵn sàng tiếp thu và đón nhận những thay đổi
về phƣơng pháp và cách thức giảng dạy do công nghệ mang lại.
Ở cả 2 tổ bộ môn Kỹ năng và Văn học-Đất nƣớc, khi các phƣơng pháp giảng dạy
đƣợc kết hợp linh hoạt nhiều đƣờng hƣớng nhƣ hành vi, kiến tạo, văn hóa-xã hội và
nhận thức thì việc ứng dụng CNTT cũng giúp ích cho giảng viên ở rất nhiều mặt.
Theo các giảng viên tham gia giảng dạy tổ Kỹ năng (chủ yếu là các môn Nghe, Nói,
Đọc, Viết) thì CNTT sử dụng nhiều vào việc thiết kế giáo án điện tử sử dụng
Powerpoint để cung cấp kiến thức về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm có kết hợp với âm
thanh và hình ảnh làm cho bài học sống động hơn so với lối đọc chép và tra từ điển
truyền thống. Ở môn Nghe, các file âm thanh cho chất lƣợng tốt hơn, giúp giảng viên
tiết kiệm thời gian chuẩn bị và sinh viên làm bài đạt kết quả tốt. Đối với môn Nói,
CNTT chỉ đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ hỗ trợ thêm khi cần thiết bàn về một chủ đề
mới lạ vì môn Nói đa số các sinh viên chú trọng vào giao tiếp với nhau dƣới sự chỉ
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
21
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG – MS: CS.2010.19.75
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
dẫn của giảng viên. Môn Đọc ứng dụng CNTT trong giai đoạn trƣớc khi vào đọc
chính (Warm-up hay Pre-Reading) dƣới hình thức các bài tập nhỏ có ứng dụng công
nghệ hoặc xem các video clip để sinh viên làm quen dần với các khái niệm mới xuất
hiện trong các bài đọc và câu hỏi theo sau. Trong môn Viết, ngoài các bài tập thực
hành giảng viên soạn sẵn hoặc thu thập từ các nguồn tài nguyên trên Internet cho sinh
viên làm trên lớp, máy chiếu giúp tiết kiệm thời gian trình chiếu, sửa bài và các
chƣơng trình kiểm tra lỗi ngữ pháp và chính tả cũng hỗ trợ giảng viên trong việc chấm
điểm, đặc biệt là công cụ Track Changes của Microsoft Word. Các giảng viên tổ Văn
học-Đất nƣớc (gồm Văn học Anh-Mỹ, Giao tiếp xuyên văn hóa, Văn minh Mỹ) chủ
yếu ứng dụng CNTT làm cho bài học đỡ khô cứng, dễ nhớ hơn đối với sinh viên vì
đây là các môn khá trừu tƣợng và khó học. Trong khi ở các môn Văn học, giảng viên
Tuy nhiên, bên cạnh các lời khen ngợi là những mối lo ngại khi ứng dụng CNTT trong
giảng dạy, xét về bối cảnh hiện tại của Khoa Tiếng Anh và trƣờng Đại học Sƣ phạm.
Có 4 giảng viên (16%) bày tỏ sự hoài nghi về cái gọi là “công cụ công nghệ hoàn hảo”
mặc dù họ không phủ nhận các lợi ích của nó. Một trong số đó phát biểu “CNTT là
cần thiết trong một vài trƣờng hợp, nhƣng nó không phải là chìa khóa vạn năng”.
Trong buổi phỏng vấn, một giảng viên cụng bày tỏ rằng phần đông các giảng viên, đặc
biệt là những giảng viên lớn tuổi rất ngại khi sử dụng CNTT trong giảng dạy do họ lo
lắng về khả năng của mình. Điều này cũng dễ hiểu bởi Warschauer cũng từng nghiên
cứu và cho rằng đó là một trong các nhân tố ngăn cản sự nhiệt huyết của giảng viên
(2003, tr. 241-243). Vài nguyên nhân khác làm giảng viên hạn chế sử dụng CNTT
trong giảng dạy có thể liệt kê: chƣơng trình học quá căng thẳng, sự có sẵn các ứng
dụng công nghệ và các rủi ro mang tính kỹ thuật.
Hình 3 mô tả cách đánh giá của giảng viên về điều kiện tài nguyên CNTT tại Khoa
Anh
Hình 3: Điều kiện tài nguyên CNTT tại Khoa Anh
Có thể thấy rất rõ từ hình 3 rằng các giảng viên có đánh giá khác nhau về các thiết bị
công nghệ của Khoa. 7 giảng viên đánh giá ở mức độ “tệ” (poor) và 3 ngƣời thậm chí
------------------------------------------------------------------------------------------------------CNĐT: ThS Nguyễn Hồ Phương Chi
23