Đề tài: Nghiên cứu hệ thống các văn bản Việt Nam về văn hóa công sở. Nêu nhận xét và
kiến nghị.
BÀI LÀM
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là cái cân bằng khi xã hội có nhiều nguy cơ biến động, hoặc có thể hiểu rằng,
mọi vật chất có thể mất đi nhưng cái còn đọng lại đó chính là văn hóa. Bất kể quốc gia
nào, tổ chức nào, giáo phái nào muốn trường tồn thì phải có văn hóa riêng, văn hóa công
sở của cơ quan, doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Theo đó thực trạng văn
hóa công sở có mức độ ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ quan, doanh nghiệp bởi đôi khi
thực trạng văn hóa công sở sẽ trở thành một tập tục, một thói quen của cơ quan. Tuy
nhiên văn hóa công sở không phải là một công sở có đầy đủ những thiết bị, vật dụng hiện
đại, lại càng không phải là một trụ sở được xây dựng hoành tráng, mà văn hóa công sở
chính là hành vi ứng xử hàng ngày của những cán bộ, công chức, viên chức trong các mối
tương tác để công việc được trôi chảy, thành công. Đánh giá thực trạng văn hóa công sở ở
Việt Nam hiện nay, ta thấy còn mang tính tình cảm nhiều, mặc dù đã có công văn của
chính phủ ban hành quy chế văn hóa công sở ở tại cơ quan hành chính nhà nước nhưng
vẫn chưa được hiện thực hóa bằng thể chế và điều luật sao cho phù hợp và linh hoạt.
Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh văn hóa công sở càng trở nên quan trọng, cần phải
được chú trọng nhiều hơn nữa ở các công sở, cơ quan hành chính nhà nước và các doanh
nghiệp.
Mặt khác, văn hóa công sở được quan niệm là hệ thống những giá trị, niềm tin, sự
mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với cơ cấu chính thức và tạo
nên những chuẩn mực hành động như những giả thiết không bị chất vấn về truyền thống
và cách thức làm việc trong tổ chức mà mọi người trong đó đều tuân thủ khi làm việc.
Chính văn hóa công sở cho phép người ta phân biệt được các tổ chức với nhau thông qua
những phương thức điều hành khác nhau. Gọi là “văn hóa” vì nó hướng tổ chức tới
những giá trị về tinh thần và ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ làm việc của các thành viên khi
gia nhập vào tổ chức, chấp nhận nó như một truyền thống. Văn hóa công sở ảnh hưởng
văn hóa công sở và các văn bản quy định về văn hóa công sở ở nước ta sẽ giúp em và các
bạn tìm hiểu được sâu sắc hơn nhiều vốn kiến thức trên lý thuyết cũng như trong thực tế
để có thể giúp ích cho chúng em trong quá trình học tập hiện nay cũng như trang bị cho
mình một hành trang vững chắc, một tư thế sẵn sàng trước khi bước vào môi trường làm
việc trong tổ chức sau này. Hơn nữa, em hy vọng sẽ góp phần vào việc thực hiện tốt hơn
Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách
hành chính nhà nước hiện nay.
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Văn hoá công sở là gì?
Văn hoá là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực bản chất của con
người, vươn tới cái chân, thiện, mỹ; là hoạt động nhằm tạo ra những giá trị, chuẩn mực
xã hội; là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách của con người. Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt ở
mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như sản xuất tinh thần của con người, trong mọi
quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối với thiên nhiên.
Công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước, có tư cách pháp
nhân, được pháp luật điều chỉnh để quản lý các công việc có tính chuyên ngành và phục
vụ lợi ích công. Công sở là một thiết chế xã hội - văn hoá chỉ có ở xã hội loài người.
Công sở tồn tại như một hiện tượng văn hoá đồng thời là một chủ thể văn hoá gắn liền
với các yếu tố tổ chức quyền lực và tâm lý, tình cảm của con người. Quan niệm về văn
hoá công sở ở mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ chính trị, mỗi quốc gia khác nhau thì đều
khác nhau.
Văn hoá công sở là sự pha trộn của văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Xuất phát từ
đặc điểm của công sở là trụ sở công mà ở đó có tổ chức (cơ cấu, đội ngũ cán bộ, công
chức); có cơ sở vật chất (nhà cửa, phòng làm việc v.v..) cho thấy văn hoá công sở rộng
hơn, bao trùm lên cả văn hoá tổ chức. Nói cách khác, Văn hóa công sở được hiểu là
những quy tắc, chuẩn mực ứng xử giữa cán bộ công chức - người đại diện cho cơ quan
hành chính nhà nước với công dân và giữa cán bộ công chức với nhau, nhằm phát huy tối
quyết các xung đột đó. Các biểu hiện hành vi của văn hoá công sở rất đa dạng và phong
phú cần phải xem xét một cách tỉ mỷ mới có thể đánh giá hết được mức độ ảnh hưởng
của chúng tới năng suất lao động quản lý, tới hiệu quả của hoạt động tổ chức công sở nói
chung.
Thứ tư, kĩ thuật điều hành tạo nên văn hoá tổ chức công sở. Đây là vấn đề có liên quan
tới nề nếp làm việc, kỷ cương trong bộ máy quản lý Nhà nước. Nếu những kỷ cương này
được xây dựng một cách chặt chẽ thì nền văn hóa công sở sẽ được đề cao và tổ chức có
điều kiện để phát triển. Thực tế cho thấy rằng, công sở là nơi phải thường xuyên tiếp xúc
với nhân dân, các cơ quan hữu quan, bạn đồng nghiệp và các cơ quan cấp trên. Yếu tố cơ
sở vật chất chỉ một phần, nhưng quan trọng hơn cả là yếu tố con người sẽ quyết định văn
hóa công sở. Ví dụ cụ thể như sau: Quy định là làm 8 giờ/ ngày, nhưng công chức đã làm
gì trong 8 giờ ấy? Khi câu hỏi này đặt ra thì bất cứ ai cũng có thể trả lời một cách thẳng
thắn là ngồi chơi chờ tới tháng lãnh lương. Từ đó hành vi của công chức ngày càng lún
sâu hơn.
3. Vai trò của văn hóa công sở đối với tiến trình phát triển của công sở
Một là, văn hóa thể hiện giá trị truyền thống kết nối với giá trị hiệ đại và hệ giá trị đặc
trưng riêng của hoạt động công sở
Ở các quốc gia phát triển trên thế giới, các thành viên công sở đều ý thức rất rõ: họ
đang làm việc vì ai, vì cái gì và tại sao họ lại đạt hiệu quả làm việc cao như vậy. Phần
lớn họ có ý thức văn hoá dân tộc rất cao, có nhận thức cao trong sự phát triển đất nước, ý
thức về danh dự của nhà nước, về truyền thống của cơ quan công sở, nơi đang làm việc
và cống hiến; hơn nữa lương tâm và danh dự, ý thức về sự tồn tại khiến họ ý thức được
văn hoá là động lực phát triển của mọi hoạt động trong các công sở hiện nay.
Yếu tố dân tộc, hiện đại và hệ giá trị này thấm nhuần trong mỗi thành viên công sở,
được chắt lọc, kế thừa và phát triển, phát huy theo quá trình đi lên của công sở, được vật
chất hoá trong các cấu trúc thiết chế hành chính và công nghệ hành chính. Đổi mới hoạt
động công sở là một thành tựu văn hoá. Thành tựu này giúp cho việc hiện đại hoá nền
hành chính nhà nước Việt Nam, giúp cho các cơ quan, công sở nhà nước Việt Nam vươn
dân tốt hơn, trong đó có các nhân tố: quan hệ con người; sử dụng nguồn tài nguyên (vật
chất, con người); vận dụng khoa học - công nghệ tiên tiến. Xác định đúng vị trí, vai trò
của từng nhân tố có tác động tốt tới hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các công sở trong
tiến trình phát triển chung của đất nước.
Thực tế phát triển của các cơ quan, công sở ở nước ta vừa qua chứng minh rằng không
thể coi nhẹ nhân tố con người. Nói đến con người chính là nói đến văn hoá, vì toàn bộ
những giá trị văn hoá làm nên những phẩm chất, năng lực tinh thần của con người.
Những phẩm chất và năng lực thật đó của cán bộ, công chức được vật chất hóa tạo thành
nguồn lực nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển của công sở. Mỗi công chức cần phát huy
hết sở trường, sở đoản của mình trong công việc. Do vậy, việc bố trí mỗi vị trí công việc
cần đúng chuyên môn, năng lực, ngang tầm, tâm thì mới tạo ra giá trị "cái chân" trong
hoạt động công sở.
Một công sở chỉ làm tròn nhiệm vụ và chức năng khi: tạo ra mối quan hệ tốt giữa cán
bộ, công chức trong công việc; các chuẩn mực xử sự; các nghi thức tiếp xúc hành chính;
các phương pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan; cách lãnh đạo, quản lý và ý thức
chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của cán bộ, công chức.
Văn hoá còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, kỷ
cương và dân chủ. Nó đòi hỏi các thành viên trong công sở phải quan tâm đến hiệu quả
công việc chung của công sở, giúp cho mỗi cán bộ, công chức tự nhìn lại, đánh giá mình,
chống lại những biểu hiện thiếu văn hoá như: tham ô, móc ngoặc, quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, cơ hội... Bên cạnh đó, yếu tố văn hoá còn giúp cho mỗi thành viên trong công
sở phải tôn trọng kỷ luật, danh dự của công sở, quan hệ thân ái, đoàn kết, hợp tác vì sự
nghiệp chung của công sở.
Bốn là, vai trò của văn hóa thể hiện là nền tảng mang tính nhân ái (giá trị cái thiện) của
công sở
Văn hóa là chiếc nôi nuôi dưỡng giá trị "cái thiện" trong hoạt động công sở với hệ
thống giá trị của cái tốt, của lương tâm, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của mỗi cán bộ, công
chức trong thực thi công vụ. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ, lành mạnh thì không có sự
phát triển công sở bền vững. Vận dụng các yếu tố văn hoá trong việc thúc đẩy mọi hoạt
trường, đúng thời điểm vì lợi ích chung của tổ chức và lợi ích của bản thân cán bộ, công
chức.
Vai trò của văn hoá trong hoạt động công sở còn thể hiện trong quan niệm về sự bình
đẳng và thực hiện bình đẳng. Theo ý nghĩa văn hoá, bình đẳng là mọi thành viên trong
công sở đều có cơ hội như nhau (trong học tập, đào tạo, việc làm...) để phát triển. Phát
triển công sở không có nghĩa là đào thêm hố sâu sự bất bình đẳng và thiếu công bằng
trong việc thực hiện các lợi ích giữa các thành viên trong công sở, càng không thể làm
giàu bằng mọi giá, nhất là trong cơ quan y tế và trường học.
Năm là, vai trò của văn hóa là nền tảng mang tính nhân văn (cái mỹ) của công sở
Văn hóa đem lại sức sống mãnh liệt cho công sở, nhu cầu hướng tới "cái đẹp", sự cảm
nhận và thưởng thức cái đẹp giúp cho việc giải phóng con người, giải phóng sức lao
động, thủ tiêu mọi sự kìm hãm. M.Gorki gọi mỹ học là đạo đức học của tương lai.
Bielinxki (Nga, thế kỷ XIX) nói: "Cảm xúc về cái đẹp là một điều kiện làm nên phẩm giá
con người. Phải có nó con người mới có được trí tuệ, phải có nó con người mới cất mình
lên tới những tư tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất các hiện tượng trong tính
thống nhất của chúng..., phải có nó người ta mới có thể không quỵ ngã dưới sức đè nặng
trĩu của cuộc đời và làm nên những chiến công..., thiếu nó, thiếu đi cái cảm xúc ấy thì
không có thiên tài, không có tài năng, không có trí thông minh mà chỉ còn lại cái thứ đầu
óc tỉnh táo một cách ti tiện cần thiết cho sinh hoạt thường ngày trong nhà, cho những tính
toán nhỏ nhen ích kỷ".
Như vậy có thể khẳng định rằng "cái mỹ" là kết quả cuối cùng của "cái chân" và "cái
thiện". Không thể có "cái mỹ" nếu như thiếu "cái chân", "cái thiện". Cái đẹp biểu hiện
trong văn hóa công sở là vẻ đẹp hành vi, ngôn ngữ ứng xử, diện mạo, trang phục... của
công chức trong thi hành công vụ. Đồng thời cũng thể hiện ở việc bố trí trụ sở làm việc
khoa học, văn minh, khang trang, sạch đẹp, thuận tiện, đủ ánh sáng, trang trí, cây cảnh
v.v.. bố trí phòng làm việc minh bạch, lịch sự, trang trọng của nơi công quyền.
Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của sự phát triển và tiến
bộ xã hội.
4. Xây dựng văn hóa công sở là gì?
Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng lề lối, nề nếp làm việc khoa học, có trật tự kỷ
cương, tuân theo những nội quy, quy định chung nhưng không mất đi tính dân chủ. Văn
hóa công sở được hình thành trong quá trình hoạt động của công sở góp phần tạo dựng
niềm tin, sự đoàn kết nhất trí của cả tập thể trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng
hoạt động của cơ quan đơn vị. Cách hành xử văn hóa chốn công sở thực tế mang lại rất
nhiều lợi ích. Văn hóa ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nơi công sở nói riêng chính
là thước đo sự văn minh của mỗi cán bộ công chức hay nói khác đi nó phản ánh sự nhận
thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở. Con người
tác động đến việc hình thành văn hóa công sở đồng thời văn hóa với những giá trị bền
vững được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc từ quá khứ đến hiện tại, tương lai; từ môi
trường bên trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác động trở lại góp phần hoàn thiện nhân
cách, phẩm chất, đạo đức cho cán bộ công chức. Xây dựng văn hóa công sở chính là xây
dựng một môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả. Từ đó tạo
bầu không khí cởi mở giúp cán bộ công chức hứng khởi làm việc đưa chất lượng và hiệu
quả công việc lên cao.
4.1 Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng văn hóa ứng xử
Văn hóa ứng xử chính là các mối quan hệ ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các
đồng nghiệp với nhau, giữa con người với công việc, được xây dựng trên những giá trị
chung của tổ chức. Mỗi tổ chức có một cách văn hóa ứng xử riêng, mang đặc điểm riêng,
phù hợp với văn hóa ứng xử của cộng đồng. Sự phát triển của tổ chức phải gắn liền với
việc xây dựng, củng cố các mối quan hệ trong nội bộ tổ chức, chỉ khi đó tổ chức mới phát
triển bền vững. Trong cách ứng xử, xưng hô nơi công sở cũng phải có văn hóa.
Về văn hóa xưng hô: lẽ thường, trong cùng cơ quan thì theo tôn ti trật tự, dựa vào tuổi
lớn, tuổi nhỏ mà gọi cô, chú, bác, anh, chị, xưng em, xưng cháu cho phải lễ (kể cả người
vắng mặt). Thế nhưng, không ít người ở một số cơ quan hình như “thiếu vốn từ xưng hô”,
nên quen gọi thằng này, con kia... thậm chí gán ghép tên người khác với một từ “đặc
trưng” nghe chối cả lỗ tai như A “đen”, B “lùn”, C “sún”... Khi ai đó nhắc nhở hay phê
bình thì tặc lưỡi cười trừ bảo đó là cách gọi “thân mật”. Điều tréo ngoe là khi tổ chức
bình xét bầu chọn danh hiệu cơ quan văn hóa hàng năm thì không thấy ai mổ xẻ gì đến
mốt thời trang mới, họ không ngừng săn đuổi thông tin để có được những bộ trang phục,
mặc dù phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Không ít những cán bộ, công chức trẻ năng
động đã tranh thủ thời gian ngoài giờ hành chính, làm thêm những công việc phụ, tăng
thu nhập để đầu tư cho những bộ cánh mới nhất. Nhưng điều đáng buồn là đôi khi, mốt
thời trang mà họ cho là sành điệu, hiện đại, đầy tính năng động đó lại không phù hợp với
môi trường nơi họ đang công tác. Không quá khi nói rằng, xu hướng thời trang của giới
trẻ hôm nay, trong đó có những cán bộ, công chức trẻ đang dần xa rời với những giá trị
của vẻ đẹp đậm bản chất văn hóa truyền thống bao đời của dân tộc.
Xuất phát từ những bất cập nói trên, nhiều cơ quan đã ra quy định khi đến công sở làm
việc ăn mặc phải gọn gàng, phù hợp, đi đứng nhẹ nhàng, đặc biệt tránh đi giầy dép tạo ra
tiếng ồn quá lớn làm ảnh hưởng đến môi trường làm việc chung. Hơn nữa, nhiều cơ quan
đơn vị cũng đã chủ động trang bị đồng phục cho cán bộ, công chức. Đồng phục công sở
được xem như là lớp văn hóa “tầng bề mặt” của cơ quan, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu
sắc, thể hiện tinh thần hòa đồng, đoàn kết, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn... Và
quan trọng nhất, đồng phục công sở. chính là biểu tượng của tính chuyên nghiệp và vẻ
đẹp hiện đại của thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Quy định đến công sở
làm việc ăn mặc phải gọn gàng, phù hợp, đi đứng nhẹ nhàng, đặc biệt tránh đi giầy dép
tạo ra tiếng ồn quá lớn làm ảnh hưởng đến môi trường làm việc chung.
4.3 Xây dựng văn hóa công sở là tiết kiệm nơi công sở
Vấn đề thực hành tiết kiệm đang được các cơ quan, đơn vị quan tâm, đưa vào làm một
trong những nội dung cơ bản của công tác thi đua. Tiết kiệm cũng là một nét đẹp của văn
hóa công sở. Để thực hành tiết kiệm theo tấm gương của Bác Hồ và chủ trương của
Đảng, Nhà nước,cần phải:
Tự rà soát lại trong cơ quan những việc gì còn chưa tiết kiệm, lãng phí, để thay đổi, cải
tiến sao cho tiết kiệm, hiệu quả.
Tiết kiệm sức lao động: Tổ chức sắp xếp công việc cho khéo để có những việc trước kia
phải dùng nhiều người nay chỉ ít người hơn nhưng vẫn đảm bảo thời gian, chất lượng,
Tổng quan lại ta thấy rõ một điều rằng: khi một cơ quan, tổ chức có văn hóa ứng xử, tác
phong, lề lối làm việc, trang phục công sở phù hợp thì điều tất yếu là không chỉ nâng cao
được chất lượng và hiệu quả công việc mà còn nâng cao uy tín của cơ quan, tổ chức đó
lên tầm cao hơn.
5. Hệ thống các văn bản Việt Nam về văn hóa công sở và hiện trạng văn hóa
công sở ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển của xã hội, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 về phê duyệt về
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và Quyết định
số 94/2006/QĐ-TTg năm 2006 về phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2006-2010, trong đó đánh giá về thực đội trạng đội ngũ cán bộ công chức, viên
chức trong các cơ quan hành chính hiện như: gây phiền hà, sách nhiễu, hách dịch, vô
trách nhiệm, có lời nói, cử chỉ thô bạo với nhân dân; sử dụng lãng phí thời gian làm việc,
sản công, đồng thời đưa ra các lộ trình và giải pháp để giải quyết thực trạng trên. Đây
cũng là lần đầu tiên chính phủ đưa ra vấn đề văn hóa công sở và giao cho Văn phòng
Chính phủ chủ trì soạn thảo Quy chế, đồng thời coi đây là một trong những nội dung
quan trọng của công tác cải cách hành chính nhằm hướng tới một nền hành chính hiện
đại. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày
02/08/2007 về Ban hành Quy chế Văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước. Với mục
đích đảm bảo tính nghiêm trang và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ công chức viên chức trong
hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức viên chức có
phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Xác định được tầm
quan trọng và ý nghĩa của Quy chế, các cơ quan hành chính nhà nước đã chủ động xây
dựng Quy chế riêng cho cơ quan, đơn vị mình bước đầu đã thu được những kết quả khả
quan, Trang phục làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước
từng bước được chuẩn hóa về hình thức, thẩm mỹ và phù hợp điều kiện kinh tế-văn hóa,
xã hội của nước ta, tình trạng cán bộ công chức viên chức đi muộn, về sớm, làm việc
cương; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ công chức trong hoạt động
công vụ là một đòi hỏi vừa khách quan vừa cấp bách. Ngày 02/8/2007 Thủ tướng chính
phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg. Quy
chế gồm: 03 chương, 16 điều quy định chi tiết các nội dung, phạm vi, đối tượng điều
chỉnh và các nguyên tắc thực hiện; quy định việc thực hiện văn hoá công sở phải tuân thủ
theo các nguyên tắc: Phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và điều kiện kinh
tế – xã hội; phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ công chức chuyên nghiệp,
hiện đại; phù hợp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành
chính, chủ trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước. Theo Quy chế này, các nhân
viên cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương trong khi làm việc, tiếp xúc với
dân, giao tiếp, ứng xử phải hết sức nghiêm túc, lịch sự, biết tôn trọng người dân; quy định
cụ thể về trang phục; việc đeo thẻ khi thực hiện nhiệm vụ; việc bố trí phòng làm việc,
treo biển hiệu cơ quan... Ngoài ra, Quy chế còn quy định các hành vi cấm đối với cán bộ
công chức như: cấm hút thuốc lá, không được nói tục, không sử dụng đồ uống có cồn tại
công sở (trừ trường hợp được sự đồng ý của thủ trưởng cơ quan)....
Sau 02 năm triển khai thực hiện Quy chế, các công sở từ trung ương đến địa phương
đã được quan tâm đầu tư điều kiện và phương tiện làm việc tốt hơn cho cán bộ công
chức, đầu tư nâng cấp phòng tiếp dân, nơi giải quyết thủ tục hành chính tạo thuận lợi hơn
cho người dân đến giao dịch công việc; phong cách và thái độ làm việc của cán bộ công
chức ở nhiều cơ quan đã có những chuyển biến tích cực, hầu hết cán bộ công chức đeo
thẻ khi làm việc, các công sở đều bố trí người và nơi trông giữ xe cho người dân khi đến
giao dịch và liên hệ giải quyết công việc… Vì thế, có thể thấy Quy chế văn hóa công sở
là một quy chế hợp với lòng dân, thể hiện bản chất ưu việt của nhà nước thật sự của dân,
do dân, vì dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ở nhiều cơ quan vẫn còn
nhiều hạn chế trong thực hiện Quy chế văn hóa công sở:
Thứ nhất: Môi trường làm việc và bài trí trong công sở hiện nay vẫn chưa thể hiện
được một nền hành chính dân chủ, hiện đại và gần dân. Ở không ít công sở còn diễn ra
cảnh tượng nơi làm việc nhếch nhác, lộn xộn, thiếu biển chỉ dẫn lối đi, sơ đồ hướng dẫn
các bộ phận giải quyết công việc của cơ quan, không bố trí người giữ xe; ngay từ cổng
vào của các công sở vẫn là tấm biển khô cứng, thiếu thiện cảm đập vào mắt công
hưởng không nhỏ đến hình ảnh các “công bộc” của dân.
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) nhận định: Giao tiếp, ứng xử văn hóa nơi công sở
thể hiện đến chất lượng, hiệu quả khi xử lý và giải quyết công việc, xây dựng lề lối làm
việc khoa học của đội ngũ cán bộ công chức góp phần vào quá trình cải cách nền hành
chính nước nhà. Và một bài học văn hóa công sở nữa mà chúng ta cần phải học tập ở nền
hành chính của nước Nhật. Khi người dân đến các cơ quan nhà nước, nhân viên phải
đứng lên chào niềm nở, tươi cười, sau đó mời người dân ngồi. Chỉ sau khi người dân ngồi
thì nhân viên nhà nước mới được ngồi. Ngoài ra, luôn có các nhân viên chỉ dẫn, để hướng
dẫn người dân đến bàn làm việc nào, phòng nào, thủ tục hành chính ra sao, chứ không để
người dân tự tìm đến nơi cần giải quyết như ở chúng ta hiện nay.
Theo Tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn - Trưởng bộ môn Tâm lý Trường Đại học sư phạm
Hồ Chí Minh: Lỗi ở đây không phải là môi trường làm việc - công sở, cái chính là những
người nơi đây - họ chưa nhận thức được công việc của họ là phục vụ người dân, những
người đang nộp thuế để trả lương cho họ. Mặt khác, công chức nước ta vẫn thiếu các kỹ
năng thiết lập giao tiếp phi ngôn ngữ; họ chưa biết nói chuyện bằng ánh mắt, khuôn mặt,
cử chỉ thay vì làm cho ánh mắt của mình dễ chịu, thân thiện, họ lại thường mang khuôn
mặt lạnh lùng. Còn người dân khi đến các công sở thường e dè, ngượng nghịu, chưa chủ
động tìm hiểu quy trình, luật lệ, chính tâm lý thụ động này cũng tác động đến thái độ của
công chức.
Thực trạng trên cho thấy, nhận thức về văn hóa công sở của các ngành, các cấp, các địa
phương chưa đầy đủ, không thấy được mối liên hệ qua lại giữa trình độ văn hóa công sở
với hiệu quả, năng suất của công việc tại công sở. Chúng ta còn thiếu các chuẩn mực về
văn hóa công sở và các chế tài xử lý vi phạm, thiếu đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa công
sở.
6. Biện pháp giải quyết và xây dựng văn hóa công sở
Để giải quyết điều đó, theo tôi cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:
Một là, Tuyên truyền nâng cao nhận thức về văn hóa công sở cho cán bộ lãnh đạo, đội
ngũ cán bộ công chức và nhân dân.
là một phần của nhiệm vụ cải cách hành chính và mỗi cán bộ công chức cũng cần nhận
thức được công việc của mình là phục vụ nhân dân, những người đang nộp thuế trả lương
cho mình. Các ngành, các cấp phải nghiêm túc kiểm điểm những hạn chế, thiếu sót nơi
công sở của cơ quan, đơn vị, kể cả cách bài trí công sở, trong giao tiếp, ứng xử của cán
bộ, công chức, cần phải thấy được những hạn chế, thiếu sót đó sẽ cản trở tiến trình đổi
mới hội nhập kinh tế đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong khi xã hội ngày càng tiến bộ, con người ngày càng văn minh thì văn hóa công sở
đòi hỏi ngày càng phải được tôn trọng thực thi làm cho năng suất, hiệu quả công tác được
cải thiện, ứng sử lỗi thời, lạc hậu thì hiệu quả của cải cách hành chính chắc chắn sẽ được
nâng cao.
Bốn là, xây dựng bầu không khí làm việc
Xây dựng và gìn giữ bầu không khí làm việc nơi công sở là một trong những điều quan
trọng hiện nay. Không thể có một công sở văn hóa nếu trong nội bộ luôn tồn tại những
căng thẳng, soi xét lẫn nhau; cấp dưới nghi ngờ cấp trên, cấp trên đề phòng cấp dưới…
Không thể là văn hóa, nếu cán bộ, công chức khi làm việc chỉ để đến tháng nhận lương,
ngoài ra không quan tâm đến những vấn đề khác. Con người không phải là con rô-bốt
biết nói, mà con người là một thực thể xã hội với các mối quan hệ và cảm xúc rất đa
dạng, phức tạp. Vì vậy, công sở không phải là “công xưởng” mà là môi trường xã hội thu
nhỏ, ở đó mỗi cán bộ, công chức với sự tích cực của mình, họ sẽ tạo nên bầu không khí
làm việc của công sở. Nếu không khí làm việc cởi mở, tin tưởng lẫn nhau sẽ khơi nguồn
được sự sáng tạo của các thành viên và ngược lại, nếu bầu không khí nặng nề, căng thẳng
sẽ là rào cản đối với hoạt động của công sở.
Năm là, xây dựng tác phong chuyên nghiệp
Chuyên nghiệp, hiểu theo nghĩa chung nhất là mỗi người chuyên tâm vào công việc của
mình, toàn tâm, toàn ý để hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất; chuyên
nghiệp là có sự hiểu biết rộng và giỏi một lĩnh vực cụ thể. Trong hành chính công vụ,
chuyên nghiệp còn là biết cách phối hợp,điều tiết công việc phù hợp với tiến độ và môi
trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốt nhất; tác phong làm việc năng động, khoa học
kết hợp với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào công việc. Tác
phong chuyên nghiệp đòi hỏi nhà quản lý và các nhân viên phải thực hiện tốt những nội
dân, phục vụ nhân dân, ngoài ra giao tiếp hiệu quả giúp công sở hạn chế được những rủi
ro như hiểu lầm, khiếu kiện… Đối với cá nhân, giao tiếp tốt còn mở rộng các mối quan
hệ xã hội và nắm bắt nhanh chóng các cơ hội đến với bản thân.
Chuyên nghiệp trong công việc còn biểu hiện ở tính kỷ luật, tích cực tham gia hoạt
động do đoàn thể trong công sở. Chuyên nghiệp cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh lành
mạnh trong cơ hội thăng tiến. Một cán bộ, công chức chuyên nghiệp còn phải biết làm
việc hết sức và chơi hết mình; thư giãn đúng lúc, đúng cách là biện pháp tốt nhất để phục
hồi lại năng lượng đã mất.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, cùng với nhận thức của người dân
không ngừng được nâng lên, những biểu hiện thiếu văn hóa trong các cơ quan nhà nước
sẽ là những rào cản cho sự phát triển chung của xã hội. Do đó nhận thức đúng đắn và tích
cực xây dựng văn hóa công sở sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền hành
chính công vụ hiện đại, hiệu quả và thân thiện với nhân dân.
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Nhận xét
Thật ra, nội dung thực hiện văn hóa công sở quy định về trang phục, giao tiếp, ứng xử
của cán bộ, công chức, viên chức thực thi nhiệm vụ tại các cơ quan hành chính nhà nước
không phải hoàn toàn mới lạ gì. Tựu trung vẫn là quan hệ giữa người với người trong
sinh hoạt thường ngày. Có chăng quy chế này "bắt buộc" nặng nề hơn đối với đối tượng
là “công bộc của dân". Thực tế, lâu nay không ít cán bộ, công chức chưa thực hiện đúng
nghĩa của hai từ "phục vụ" mà còn mang nặng phong cách "ban phát" khi tiếp xúc với
dân; vẫn hiếm những nụ cười làm hài lòng người dân khi xong việc bước ra khỏi công sở;
còn đấy những chuyện gây bực mình, khó chịu cho người dân. Tuy đời sống cán bộ, công
chức không còn quá khó khăn như những năm bao cấp, nhưng có thể khiêm tốn nói rằng
hiện nay môi trường làm việc tốt hơn, mỗi người có điều kiện chăm sóc tốt hơn về hình
thức - mặt mày ai cũng thấy rõ, quần áo tươm tất hơn nhiều, thậm chí ăn mặc mốt hơn,
đẹp hơn nhiều. Thế nhưng phần trang phục chưa kéo theo sự đột phá về nội dung giao
các nhân viên không được lịch sự với dân lắm. Họ thường lịch sự với người nước ngoài,
nhưng với Việt kiều, với người Việt Nam làm việc, học tập ở nước ngoài, khi có việc cần
đến Đại sứ quán, thì không phải lúc nào cũng nhận được thái độ niềm nở, lịch sự của
nhân viên sứ quán.
Thiết tưởng, Quy chế Văn hóa công sở nên bổ sung thêm 2 điểm này, để người Việt
Nam ta dù ở đâu, từ mũi Cà Mau đến địa đầu Lũng Cú, từ miền ngược đến miền xuôi, từ
nông thôn đến thành thị, dù là con cháu ông to, quen biết, hay chỉ là người dân thường, từ
trong nước đến ngoài nước, cũng luôn luôn cảm nhận được sự ấm áp tình người của một
Nhà nước “công bộc của dân”.
Ngoài ra, lãnh đạo các sở ban nghành, các cấp phải quan tâm, chỉ đạo cán bộ, công chức
phải tự điều chỉnh mình. Các cấp, các nghành nên tổ chức các lớp “nâng cao kỹ năng giao
tiếp của cán bộ công chức” cho cán bộ công chức. Ngoài ra, các công sở cần có hòm thư
góp để tiếp nhận ý kiến nhận xét, đánh giá của nhân dân và cán bộ công chức nào bị
nhiều lần góp ý phê bình của người dân thì cần công khai nghiêm khắc xử lý, và trên hết
nâng cao cho cán bộ công chức hiểu việc họ đang làm là phục vụ nhân dân.
Với kiến thức của một sinh viên em chỉ phần nào đề cập được một số khía cạnh của vấn
đề văn hóa công sở. Em mong có sự góp ý của thầy cô để giúp em hiểu rõ hơn về vấn đề
này. Em cũng rất mong nhận được ý kiến đánh giá và nhận xét để có thể thực hiện tốt hơn
trong các bài tiểu luận sắp tới.
Em xin chân thành cảm ơn!
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quyết định 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007: ban hành Quy chế văn hóa
2.
3.
4.
5.
6.
3.3 Xây dựng văn hóa công sở là tiết kiệm nơi công sở
4.4 Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng tác phong, lề lối làm việc
4.5 Xây dựng văn hóa công sở là bảo vệ “thương hiệu” của đơn vị
5. Hệ thống các văn bản Việt Nam về văn hóa công sở và hiện trạng văn hóa công sở
ở Việt Nam
6. Biện pháp giải quyết và xây dựng văn hóa công sở
C. Tài liệu tham khảo
D. Phần kết luận
1. Nhận xét
2. Kiến nghị