skkn giáo dục đồng đều nhằm hỗ trợ và phát huy năng lực cá nhân của học sinh lớp 10 ttrường THPT xuân lộc - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT XUÂN LỘC.
-----------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ HỖ TRỢ HỌC SINH YẾU VÀ
HỌC SINH CÁ BIỆT NHẰM GIÁO DỤC ĐỒNG DỀU HỌC SINH
LỚP 10 TRƯỜNG THPT XUÂN LỘC

Người thực hiện: TRẦN ĐÌNH VINH
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục X
Phương pháp dạy học bộ môn 
Phương pháp giáo dục 
Lĩnh vực khác 

Có đính kèm
 Mô hình

 Phần mềm



Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2012 -2013


SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VÊ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trần Đình Vinh
2. Ngày tháng năm sinh. 02 – 10 - 1962

Năm học: 2012 - 2013
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Giáo dục đồng đều nhằm hỗ trợ và phát huy năng
lực cá nhân của học sinh lớp 10 Ttrường THPT Xuân Lộc.
Họ tên tác giả: Trần Đình Vinh
Đơn vị: Trường THPT Xuân Lộc.
Lĩnh vực : Quản lí giáo dục
X
Phương pháp dạy học bộ môn 
Phương pháp giáo dục 
Lĩnh vực khác

1. Tính mới:
- Có giải pháp hoàn toàn mới: 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có: X
2. Hiệu quả.
- Hoàn toàn mới và đã triển khai ứng dụng trong toàn ngành và hiệu quả cao: 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai sử dụng
trong toàn ngành có hiệu quả: 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai ứng dụng tại đơn vị có hiệu quả cao: 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai sử dụng
tại đơn vị có hiệu quả: X
3. Khả năng ứng dụng.
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách:
Tốt 
khá: 
Đạt:
Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn để thực hiện
và để đi vào cuộc sống: Tốt X
khá: 
Đạt: 

- Đa số học sinh ngoan, hiền, hiếu học vì phần đông là con em vùng nông thôn khó
khăn. Gia đình có định hướng và học sinh có động cơ và thái độ học tập đúng đắn.
- Đội ngũ nhà giáo tâm huyết và có năng lực luôn thống nhật với BGH trong
phương pháp giáo dục học sinh.
2. Khó khăn.
- Học sinh sinh sống ở vùng địa bàn rộng, có những nơi quá xa, khó khăn cho việc
tiếp xúc và tìm hiểu gia đình học sinh.
- Nhiều gia đình chưa chú trọng giáo dục kỉ năng sống, lối sống... cho học sinh, chỉ
chú trong cho con học văn hóa nhằm một mục đích con đậu đại học.
- Chương trình học của học sinh còn nặng nề về học văn hóa, thếu thời gian biến
chế chính thức cho các hoạt động giáo dục khác.
- Môi trường xung quanh có nhiều điều kiện để sinh hoạt giải trí, dễ làm cho học
sinh sa đà.
II.
NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
1. Cập nhật số liệu, nghiên cứu thực trạng.
1.1 Cập nhật số liệu đầu năm.
Sau khi phân lớp cho học sinh và phân công GVCN lớp 10 xong, nhà trường
lập mẫu thống kê yêu cầu GVCN lấy thông tin đầy đủ chính xác của từng học


sinh lớp 10: Địa bàn cư trú đến tận xóm,ấp; Gia cảnh rất cụ thể ( Bố,me, các anh
chị em trong nhà, nghề nghiệp, các vấn đề cá biệt khác của gia đình...); năng lục,
sở thích, những mặt tự nhận thấy còn khiếm khuyết, thiệt thòi của bản thân so với
các bạn...
1.2. Câp nhật số liệu sau khi học văn hóa được 1 tháng.
Thường thường sau thời gian 1 tháng học tập học sinh bắt đầu biểu lộ những xu
hướng tích cực và tiêu cực trong các hoạt động của học sinh, GVCN sẽ thống kê
theo mẫu các biểu hiện đó để tập hợp nghiên cứu chung cho toàn khối, chú ý đến
các hành vi tiêu cực như: ứng xử với thầy cô, bạn bè; ham chơi; lười biếng chán

2. Lên kế hoạch hỗ trợ, giáo dục cho từng nhóm đối tựợng.
2.1. Hỗ trợ học sinh Nhóm 1:
- Từ danh sách học sinh hổng kiến thức văn hóa, thành lập lớp phụ đạo với các
loại hình: học tập trung theo lớp, có giáo viên giảng, theo thời gian cố định. Học
theo nhóm, có giáo viên hướng dẫn theo nhu cầu của từng loại kiến thức mà các em
cần hỗ trợ, học bằng cách hỏi khi cần, để làm được việc này, trường phân công
đồng thời giới thiệu cho học sinh để học sinh tự tiếp cận, các môn văn hóa cần bổ
sung kiến thức chủ yếu là các môn tự nhiến và môn ngoại ngữ.
- Thông báo học sinh học yếu cần học hỗ trợ cho GVCN và gia đình.
- Trường lên kế hoạch phân công giảng dạy và hỗ trợ.
- GVCN cùng cha mẹ học sinh đôn đốc, nhắc nhở học sinh thực hiện nghiêm
tục.
- Hàng tháng BGH nắm bắt tình hình học sinh học cần hỗ trợ để có hướng điều
chỉnh về thời lượng, nội dung dạy, cách thức hỗ trợ, nề nếp học...
- BGH tìm nguồn để trả tiền giảng dạy cho thầy cô ( Chủ yếu là từ nguồn của
Hội cha mẹ học sinh của nhà trường ) Không bắt các học sinh này đóng thêm tiền
học.
* Danh sách học sinh yếu đầu năm cần phụ đạo của trường là: 64 học sinh của
tất cả các môn. Tổ chức dạy phụ đạo cho các học sinh theo hình thức lớp, mỗi học
sinh có thể phải học nhiều môn, có học sinh chỉ học một môn. Số lớp thực hiện
trong năm là 7 lớp. Số tiền phụ đạo nhà trường trả cho giáo viên là gần 10 triệu
đồng, nguồn tiền từ Hội cha mẹ học sinh, nằm trong kế hoạch chi của hội từ đầu
năm.
2.2. Hỗ trợ giáo dục học sinh Nhóm 2:
- GVCN tiếp cận gia đình của học sinh, tim hiểu nguyên nhân dẫn đến những
khiếm khuyết như đã nêu trên. Thông báo cho gia đình về tình hình học sinh và
lên kế hoạch cùng nhau hỗ trợ học sinh.
- Đoàn trường nắm danh sách học sinh Nhó 2 của nhà trường, thường xuyên nắm
bắt các hành vi vi phạm của học sinh, thông qua nhiều kênh, kịp thời báo cho
BGH, GVCN và Cha mẹ học sinh về những hành vi này để có biện pháp kịp thời.

đầu.
Đối với nhóm học sinh này, yêu cầu cha mẹ kiểm soát thời gian học tập và sinh
hoạt ở trường, lien hệ chặt chẽ với GVCN, kiểm soát tiền của con em.
Về phía nhà trường, tổ chức các buổi thuyết trình của học sinh về các chủ đề cần
giáo dục trong đó có chủ đề: Tác hại của việc ghiền chơi trò chơi điện tử để tuyền
tuyền trong học sinh, từ đó có tác động tích cực đến học sinh nghiện chơi trò chơi
điện tử.
Trong năm học 2012-2013 đầu năm có 3 học sinh có biểu hiện nghiền chơi trò
chơi điện tử, giữa học kì I thì chấm dứt, các học sinh đã đi vào guồng học tập và
rèn luyện tại trường. cuối năm 3 học sinh lên lớp bình thường
2.5. Hỗ trợ nhóm học sinh nghèo:
- Giáo viên chủ nhiệm, BGH nắm danh sách học sinh nghèo. GVCN tiếp cận tìm
hiểu cụ thể từ gia đình, vào nhiều thời điểm khác nhau. thường xuyên động viên
học sinh, báo tình hình gia cảnh học sinh với BGH, tham mưu hỗ trợ học sinh.
- BGH tích cực tìm nguồn kinh phí hỗ trợ.
- BGH chỉ đạo GVCN, Hội khuyến học, Hội chử thập đỏ, Đoàn thanh niên xem
xét cụ thể từng học sinh do GVCN đề nghị để tham mưu BGH hỗ trợ.


- Trong năm đã tham mưu các cấp các ngành hỗ trợ nhiều học sinh nghèo theo
chỉ tiêu phân bổ cho trường. Riêng nhà trường đã tim nguồn hỗ trợ từ Hội cựu học
sinh nhà trường được tổng cộng 33.000.000 đ để giúp đỡ học sinh nghèo, mỗi suất
cho mỗi đợt là 500.000 đ. Ngoài ra nhà trường cũng đã vận động xây 1 nhà tình
thương cho học sinh trị giá 30.000.000 đ hiện nay ngôi nhà đã được bàn giao và
đưa vào sử dụng.
Trong năm họa 2012-2013 trương không có học sinh nào vì hoàn cảnh gia đình
khó khan mà phải bỏ học giữa chừng.
2.6. Hỗ trợ học sinh thiệt thòi tinh cảm do khuyết sự chăm sóc của cha mẹ,
buồn nản trong cuộc sống.
Trong số những học sinh vào lớp 10, có những học sinh trong gia đình bố mẹ li

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Mỗi một vấn đề trong giáo dục cần được nghiên cứu kĩ, từ đó có biện pháp tác
động, mỗi hệ thống đều có những riêng biệt nên cần nghiên cứu riêng biệt một cách
nghiêm túc để có những tác động có hiệu quả.
Đề tài có thể được bổ sung và áp dụng hàng năm tại các nhà trường THPT.
VI. KẾT LUẬN
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp, tác dụng chủ yếu là để điều chỉnh và
dân dần hoàn thiện công tác quản lí ở các nhà trường phổ thông.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status