BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN HÓA HỌC
Chuyên ngành Hóa phân tích
ĐỀ TÀI
XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI Cu2+ VÀ Co2+
BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC QUANG
SỬ DỤNG CÁC THUẬT TOÁN
HỒI QUY ĐA BIẾN
Hướng dẫn khoa học : Th.S Lê Ngọc Tứ
Người thực hiện
:Huỳnh Thị Mộng Tuyền
Niên khóa
: 2008 – 2012
TP. Hồ Chí Minh – tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... 4
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. 5
PHẦN THỰC NGHIỆM....................................................................................... 43
CHƯƠNG 5. HÓA CHẤT, DỤNG CỤ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ....................................................................................................... 44
5.1. Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm ............................................................................. 44
5.2. Chuẩn bị các dung dịch gốc.................................................................................... 44
5.3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................................ 45
5.4. Khảo sát các điều kiện tối ưu của quá trình tạo phức màu giữa ion Cu2+ và Co2+
với thuốc thử 5 – BSAT................................................................................................. 46
5.5. Nghiên cứu xác định đồng thời Cu2+ và Co2+ kết hợp với các thuật toán hồi quy
đa biến .......................................................................................................................... 53
CHƯƠNG 6. KẾT QUẢ ..................................................................................... 58
6.1. Các điều kiện tối ưu ................................................................................................ 58
6.2. Xác định nồng độ Cu2+ và Co2+ trong các hỗn hợp phân tích bằng phương pháp
trắc quang kết hợp với các thuật toán hồi quy đa biến tuyến tính ................................. 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................................. 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 73
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Kí hiệu viết tắt
1
AAS
PLS
10
UV – Vis
11
5 – BSAT
Tên đầy đủ
Atomic absorption spectroscopy
(Quang phổ hấp thụ nguyên tử)
Classical least squares
(Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường)
N,N-dimethylformamide
Inverse least squares
(Phương pháp bình phương tối thiểu nghịch đảo)
Limit of detection
(Giới hạn phát hiện)
Limit of quantification
(Giới hạn định lượng)
Principal component
(Cấu tử chính)
Principal component regression
(Phương pháp hồi quy cấu tử chính)
Partial least squares
(Phương pháp bình phương tối thiểu riêng phần)
Ultraviolet – visible spectrophotometry
Bảng 18: Ma trận nồng độ hai cấu tử Cu2+ và Co2+ trong 3 mẫu kiểm tra ............. 67
Bảng 19: Hàm lượng của Cu2+ tìm thấy trong 3 mẫu kiểm tra .............................. 67
Bảng 20: Hàm lượng của Co2+ tìm thấy trong 3 mẫu kiểm tra .............................. 68
Bảng 21: Hàm lượng Cu2+ tìm thấy trong 3 mẫu tự pha ........................................ 68
Bảng 22: Hàm lượng Co2+ tìm thấy trong 3 mẫu tự pha ........................................ 68
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1:
Phổ hấp thụ của dung dịch 5 – BSAT 2.10-5M ....................................... 58
Hình 2:
Phổ hấp thụ của dung dịch Cu(II) – 5-BSAT 2.10-5M ........................... 58
Hình 3:
Phổ hấp thụ của dung dịch Co(II) – 5-BSAT 2.10-5M ........................... 59
Hình 4:
Phổ hấp thụ của các chất ......................................................................... 59
Hình 5:
Sự phụ thuộc của mật độ quang theo pH ................................................ 60
Hình 6:
cho phép của hàm lượng các nguyên tố này sẽ gây ra những tác hại không nhỏ đối với
con người, động thực vật và cả môi trường sống của chúng ta. Ví dụ như đồng, coban
khi có nồng độ cao có thể tác động đến gốc sunfat trong enzim, làm vô hiệu hóa các
enzim hoặc phong tỏa màng tế bào; nhưng khi hàm lượng đồng trong cơ thể thiếu sẽ
dẫn đến mạch máu bị giãn, xương không nảy nở bình thường, thiếu máu đối với trẻ
nhỏ… Vì vậy, việc xác định các nguyên tố trên là rất cần thiết.
Để phân tích, xác định hàm lượng các nguyên tố nhất là khi chúng cùng có mặt
trong mẫu phân tích và hàm lượng thấp là một vấn đề khó khăn. Có nhiều phương
pháp xác định các nguyên tố như phương pháp điện hóa – xác định đồng trong muối
đồng sunfat bằng phương pháp điện phân; phương pháp quang phổ phát xạ (AES) –
tác giả Phạm Luận phân tích một số kim loại trong nước, đối với Na cho giới hạn phát
hiện là 0,05ppm, K và Li là 0,5ppm và với Pb là 0,1ppm; phương pháp quang phổ
phát xạ - cao tần cảm ứng plasma (ICP – AES) – Mustafa Turkmen và cộng sự đã
phân tích hàm lượng của các kim loại nặng trong hải sản vùng biển Marmara, Aegean
và Mediterranean thì cho kết quả hàm lượng của Fe, Zn rất cao ở tất cả các phần của
hải sản; phương pháp khối phổ - cao tần cảm ứng plasma ( ICP – MS) – nhóm các tác
giả Trần Tứ Hiếu, Lê Hồng Minh, Nguyễn Viết Thức xác định lượng vết của 6 kim
loại nặng: Cu, Zn, As, Ag, Cd và Pb trong các loài trai, ốc ở Hồ Tây – Hà Nội; phương
pháp kích hoạt nơtron (NAA) – xác định hàm lượng thủy ngân trong nước; phương
pháp huỳnh quang – Dong Yan-Jie và Ke Gai xác định lượng vết Pb trên cơ sở cho
Pb2+ tạo phức với axit gibberellic theo tỉ lệ Pb2+ : axit là 1:2; phương pháp phổ hấp thụ
nguyên tử (AAS) – xác định vi lượng Cu và Zn trong dầu và mỡ ăn… có độ chọn lọc,
độ nhạy cao, cho kết quả phân tích tốt nhưng đòi hỏi trang thiết bị giá thành lớn và kĩ
thuật phân tích cao.
Phương pháp trắc quang với trang thiết bị phổ biến, giá thành không quá cao, dễ
sử dụng, độ chọn lọc thích hợp là kĩ thuật được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí
nghiệm. Tuy nhiên, việc phân tích các nguyên tố đòi hỏi phải có những thuốc thử phù
hợp, đặc trưng, sử dụng dung môi độc hại, không những thế trong dung dịch phân tích
1.1. Giới thiệu về phương pháp trắc quang [2], [6]
Phương pháp trắc quang là tên gọi chung của các phương pháp phân tích quang
học dựa trên sự tương tác chọn lọc giữa chất cần xác định với năng lượng bức xạ thuộc
vùng tử ngoại, khả kiến hoặc hồng ngoại. Tương tác này xảy ra ở mức phân tử.
Tùy thuộc vào loại hiệu ứng tương tác giữa phân tử và năng lượng bức xạ mà ta
có những phương pháp phân tích trắc quang khác nhau: phương pháp hấp thụ quang,
phương pháp phát quang, phương pháp đo độ đục.
Phương pháp trắc quang là phương pháp phổ biến, thường được sử dụng,
tuy nó chưa là một phương pháp hoàn toàn ưu việt nhưng nó có nhiều ưu điểm: độ
chính xác, độ chọn lọc cao, thực hiện nhanh, thiết bị đơn giản và tự động hoá.
Nguyên tắc chung của phương pháp phân tích trắc quang là chuyển cấu tử X
cần định lượng thành hợp chất hấp thụ ánh sáng rồi đo sự hấp thụ ánh sáng của nó, từ
đó suy ra hàm lượng cấu tử X cần xác định.
1.2. Các mức năng lượng trong phân tử [2]
Nội năng trong phân tử bao gồm ba thành phần chính là:
- Năng lượng chuyển động của electron (electron hoá trị), kí hiệu E e .
- Năng lượng dao động của các nguyên tử trong phân tử, kí hiệu E v .
- Năng lượng chuyển động quay của toàn phân tử, kí hiệu E j .
Ngoài ra, còn năng lượng chuyển động tịnh tiến của phân tử mà người ta
thường không xét tới vì năng lượng này liên tục. Do đó, ta có thể biểu diễn nội năng E
của phân tử dưới dạng biểu thức gần đúng như sau:
E = E e +E v +E j (trong đó E e >> E v >> E j )
Các năng lượng này đều được lượng tử hóa và các mức năng lượng trong phân
tử hợp thành phổ năng lượng phân tử. Mỗi phân tử có nhiều mức của electron (gọi là
có nhiều mức e), có nhiều mức dao động của nguyên tử (gọi là mức v) và nhiều mức
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
n
A = ε 1 .l.C 1 + ε 2 .l.C 2 +... + ε n .l.C n
Định luật cộng tính là cơ sở toán học để áp dụng phân tích tìm nồng độ của các
cấu tử trong hệ đa cấu tử. Tuy nhiên, để có độ đúng thỏa mãn cho các phép xác định
nồng độ, định luật này thường được áp dụng cho hệ chứa hai hoặc ba cấu tử hấp thụ
ánh sáng không tương tác hóa học với nhau.
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
CHƯƠNG 2.
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỒNG, COBAN VÀ 5 – BSAT
2.1. Vai trò của đồng, coban đối với sự phát triển của sinh vật [21], [22], [23]
Các nguyên tố vi lượng, tuy có không nhiều trong cơ thể nhưng lại đóng một
vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống, chẳng hạn như hỗ trợ các phản ứng hóa học
trong cơ thể; giúp cơ thể sử dụng chất đạm, mỡ và đường; giúp làm vững chắc xương
và điều khiển thần kinh, cơ; điều hòa hoạt động của cơ thể, tương tác với các chất khác
như các vitamin; một số nguyên tố vi lượng như sắt, mangan, kẽm có tác dụng chống
stress rất hiệu quả. Hầu hết trong số chúng được đưa vào cơ thể đều đặn cùng với thức
ăn. Hàng ngày, người trưởng thành đưa vào cơ thể từ vài trăm µg (niken, bo,….) đến
vài mg (sắt, iôt, coban,….). Khi thiếu hụt nguyên tố vi lượng có thể dẫn đến các biểu
hiện bệnh lý, hay các sự bất ổn cho cơ thể chúng ta. Việc bổ sung định kỳ có kiểm soát
các nguyên tố vi lượng là rất có ích cho sức khỏe và giúp ngăn ngừa một số bệnh tật.
Đối với thực vật, có khoảng 74 nguyên tố trong đó có 14 nguyên tố đa lượng
(chiếm 99,95%) và 60 nguyên tố vi lượng, siêu vi lượng (0,05%) nhưng vẫn có vai trò
mặt sinh vật học ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển sản lượng
của cây. Nó tham gia vào thành phần của hệ enzym oxydase, tác dụng lớn đến quá
trình tổng hợp protein, tham gia vào giai đoạn đầu của quá trình đồng hóa nitrat, ảnh
hưởng đến quá trình chuyển hóa gluxit, photphat, vitamin; ngoài ra, nó còn có tác
dụng chống hạn, chống rét và tăng khả năng giữ nước của mô.
Coban có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể như kích thích tạo máu ở tủy
xương, kích thích tổng hợp protein cơ, tham gia chuyển hoá gluxit, tăng hiệu quả vận
chuyển glucozơ từ máu vào các tế bào của cơ thể, tăng sự đồng hóa sắt của cơ thể và
chuyển hoá các chất vô cơ. Coban có tác dụng hoạt hoá một số enzim và ức chế một số
enzim khác. Coban tham gia vào quá trình tạo vitamin cobalamin - B 12
(C 36 H 88 O 24 N 14 PCo). Coban kết hợp với mangan có tác dụng rất tốt đối với các triệu
chứng đau nửa đầu. Cơ thể thiếu coban sẽ dẫn đến việc thiếu vitamin B 12 xuất hiện
biểu hiện đầu tiên là cảm giác mệt mỏi, thiếu tập trung, chán ăn suy nhược cơ thể và
có thể dẫn đến việc thiếu máu ác tính. Tuy nhiên, với hàm lượng lớn coban sẽ gây tác
động xấu đến cơ thể người và động vật. Triệu trứng nhiễm độc coban ở người là nôn
mửa, tiêu chảy… Cũng như ở động vật, trong thực vật, coban là thành phần trung tâm
của vitamin cobalamin (vitamin B 12 ). Hoạt tính xúc tác của carbonxylase được gia
tăng khi có mặt Mg hoặc Mn, Co. Sự có mặt của coban rất cần thiết trong quá trình lên
men, trao đổi chất và có ý nghĩa đối với cố định nitơ phân tử bằng con đường sinh học.
Coban chứa trong thành phần của nhiều alumosilicat.
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
Như vậy, việc hiểu rõ vai trò của các nguyên tố vi lượng sẽ giúp chúng ta điều
chỉnh và cân đối hàm lượng của chúng sao cho phù hợp với cơ thể của động và thực
vật.
Các hợp chất Cu(I) dễ bị oxy hóa (ngay cả bởi oxy không khí) chuyển thành
dẫn xuất bền của Cu(II):
2Cu 2 Cl 2 + O 2 + 4HCl 4CuCl 2 + 2H 2 O
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
Vậy, hợp chất Cu(I) không bền, chỉ tồn tại trong dung dịch nước dưới điều kiện
nhất định, ví dụ CuCl tan ít trong nước lạnh nhưng phân huỷ trong nước nóng. Tuy
nhiên, ở trong nước, Cu(I) được làm bền khi tạo thành kết tủa ít tan như CuI, CuCN
hoặc ion phức tương đối bền như [Cu(NH 3 ) 2 ]+, [CuX 2 ]- (trong đó X = Cl-, Br-, I-, CN). Một nguyên nhân quan trọng của sự làm bền đó là khả năng nhận π của những anion
I- và CN-. Khi có mặt những anion này ở trong dung dịch, những cân bằng trên sẽ
chuyển dịch sang phía tạo thành Cu(I).
Các halogen Cu 2 X 2 không tan trong nước và axit nhưng lại tan khá nhiều (đặc
biệt khi đun nóng) trong dung dịch đậm đặc của các axit hiđrohalogenua và dung dịch
NH 3 nhờ tạo thành phức chất:
Cu 2 Cl 2 + 2HCl 2H[CuCl 2 ]
Cu 2 Cl 2 + 4NH 3 2[Cu(NH 3 ) 2 ]Cl
2.2.3. Hợp chất của Cu(II)
Trạng thái oxy hóa +2 là rất đặc trưng đối với đồng. Các hợp chất Cu(II) nói
chung đều bền hơn các dẫn xuất cùng kiểu của Cu(I). Hợp chất Cu(OH) 2 dễ tạo thành
khi ion Cu2+ tác dụng với OH- vừa đủ, nếu dư OH-, tạo thành CuO
2-
(Cuprit). Khi
nung nóng, Cu(OH) 2 chuyển thành CuO:
Cu(II) có ái lực đối mạnh với sunfua. Khi gặp các chất khử, muối Cu(II) có thể chuyển
thành muối Cu(I) hoặc thành Cu kim loại. Do tính chất oxi hoá mà Cu có thể được
tách bằng phương pháp điện hoá qua quá trình điện phân làm giàu.
Do cấu hình electron như trên nên Cu(II) có nhiều khả năng tạo phức với các
phối tử vô cơ và hữu cơ với số phối trí bằng 4. Các phức chất của Cu2+ với các phối tử
khác nhau thường có màu đặc trưng (xanh, vàng, nâu). Các phức chất tương đối bền
của Cu2+ : phức với CN- (lgβ 4 = 25), SCN- (lgβ 4 = 6,5), EDTA (lgβ = 18,8). Các phức
với Cl-, Br-, F-, CH 3 COO-… ít bền.
Ngoài ra Cu2+ còn tạo hợp chất nội phức có màu với nhiều thuốc thử hữu cơ
như
1-(2-pyridylazo)-2-naphtol,
(C 6 H 5 CH(OH)C(NOH)C 6 H 5 ),
blue,
etylendiamintetraacetic
8-hiđroxylquynolin,
α-benzoin
oxim
natriđietyldithiocacbamat, đithizon, methylthymol
(EDTA),
zincon,
biacetyl
hợp với halogen (X) hoặc dung dịch HX tạo ra các đihalogenua:
Co + Br 2 CoBr 2
Coban tạo phức chất với NH 3 trong dung dịch NH 3 . Phức chất tạo thành có
màu vàng nhạt [Co(NH 3 ) 6 ]2+
Co2+ + 6NH 3 [Co(NH 3 ) 6 ]2+
Sau đó phức chất bị oxi hoá trong không khí tạo thành phức chất màu nâu đỏ.
[Co(NH 3 ) 6 ]2+ + O 2 + 2H 2 O 4[Co(NH 3 ) 6 ]3+ +4OHCo(II) cũng tạo phức chất với CN-, nhưng phức chất có độ bền kém hơn. Ngoài
ra, coban còn tạo phức chất với nhiều thuốc thử hữu cơ như dimetylglyoxim,
diphenylglyoxi, 1-nitrozo-2-naphol....Các phức chất này được sử dụng để phân tích
coban cho độ nhạy cao.
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
2.3.2. Hợp chất của coban (II)
Coban (II) oxit- CoO và coban (II) hidroxit- Co(OH) 2 đều có tính lưỡng tính
yếu, không tan trong nước, dễ tan trong axit tạo muối tương ứng, tan trong dung dịch
kiềm mạnh, đặc nóng tạo nên dung dịch màu xanh lam chứa ion [Co(OH) 4 ]2-.
Co(OH) 2 là kết tủa không nhầy, không tan trong nước nhưng tan được trong dung dịch
kiềm mạnh, đặc nóng, có kiến trúc lớp. Co(OH) 2 màu hồng, trong không khí chuyển
chậm thành Co(OH) 3 màu nâu.
4Co(OH) 2 + O 2 + 2H 2 O 4Co(OH) 3
Co(OH) 2 tan trong dung dịch NH 3 tạo thành phức chất :
Co(OH) 2 + 6NH 3 →
[Co(NH 3 ) 6 ] (OH) 2
Các muối coban như: clorua, nitrat, sunfat đều dễ tan trong nước. Muối hidrat
Co(III) có tính oxi hoá. Khi đun nóng, Co 2 O 3 có thể bị H 2 , Co, Al, Co...khử
đến Co 3 O 4 , CoO, hay Co.
125 C
→ 2Co 3 O 4 + H 2 O
3Co 2 O 3 + H 2
0
Co 2 O 3 là chất oxi hoá mạnh, không tan trong nước, tác dụng với axit clohiđric
giải phóng khí clo và tác dụng với axit sufuric giải phóng khí oxi.
Co 2 O 3 + 6HCl → 2CoCl 2 + Cl 2 + 3H 2 O
Co(OH) 3 là kết tủa màu nâu, bền trong không khí, không tan trong nước. Khi
đun nóng nhẹ, biến thành Co 3 O 4 và CoO.
150 C
250 C
940 C
→ Co 3 O 4
→ CoO
→ CoOOH
Co(OH) 3
0
0
0
Co(III) tạo được rất nhiều phức chất và hầu hết chúng có cấu hình bát diện.
Phức chất Co(III) bền hơn phức chất Co(II).
2.4. Thuốc thử 5-bromosalicylaldehyde thiosemicarbazone (5 – BSAT)
H
-
5-bromosalicylaldehyde
-
Etanol
-
1,4 – dioxan
-
Bình cầu 100ml
-
Cốc thủy tinh 100ml
-
Sinh hàn
-
Bộ lọc chân không
2.4.1.2. Tiến hành
Cho 4,02g 5–bromosalicylaldehyde vào bình cầu 100ml, thêm etanol và vai
N
H
Br
H 2O
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
Khối lượng sản phẩm thực tế: 1,476g
Khối lượng sản phẩm lý thuyết: 2,73g
Hiệu suất của phản ứng: 54,07 %
2.4.2. Tính chất của thuốc thử
5 –BSAT là chất rắn màu vàng nhạt, tan ít trong nước và etanol, dễ hòa tan
trong dioxan và DMF tạo dung dịch có màu vàng chanh, và nó không hòa tan trong
các chất hữu cơ thông thường và nhanh chóng phân hủy trong dung dịch axit.
5 – BSAT tạo được phức chất với nhiều ion kim loại nặng như Cu2+, Co2+, Fe2+
…với tỷ lệ phức là 1:1 hoặc 1:2 tùy thuộc vào kim loại. Tỷ lệ tạo phức giữa Co2+ và 5BSAT là 1:2 [33], tỷ lệ tạo phức giữa Cu2+ và 5-BSAT là 1:1 [31].
2.4.3. Ứng dụng
Thuốc thử 5-BSAT tạo được phức chất với nhiều ion kim loại nặng như Co2+,
Cu2+, Fe2+,… tan ít trong nước và là một thuốc thử được sử dụng nhiều trong phân tích
trắc quang.
Vào năm 2002, nhóm các nhà nghiên cứu G.Ramanjaneyulu, P.Raveendra
Reddy, V.Krishna Reddy and T.Sreenivasulu Reddy, khoa hóa trường đại học Sri
Krishnadevaraya, Ấn độ đã sử dụng phản ứng tạo phức của Fe2+ với 5-BSAT kết hợp
phương pháp quang phổ và phổ đạo hàm để xác định lượng vết Fe2+ trong lá nho, máu
người và viên nén vitamin tổng hợp. Trong dung môi DMF, thuốc thử 5 – BSAT đã
hoạt tính với tụ cầu khuẩn vàng và vi khuẩn E.coli theo phương pháp đĩa khuếch tán.
Trong số các phức được tạo thành, phức Cu(II) – 5-BSAT và Ni(II) – 5-BSAT được
đánh gá cao trong việc chống lại tụ cầu khuẩn vàng ở nồng độ 100𝜇g/disc (đối với
phức Cu(II) – 5-BSAT) và vi khuẩn E.coli ở nồng độ 150 𝜇g/disc đối với cả hai phức.
[34]
Khóa luận tốt nghiệp 2008 – 2012
CHƯƠNG 3.
GVHD: ThS. Lê Ngọc Tứ
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
ĐỒNG VÀ COBAN
Để xác định Cu(II), Zn(II), Co(II), có không ít những phương pháp phân tích:
Các phương pháp hoá học như phương pháp phân tích thể tích, phương pháp
oxi hoá - khử, phương pháp chuẩn độ complexon.
Các phương pháp phân tích công cụ như các phương pháp phân tích điện hóa
(phương pháp cực phổ, phương pháp Von – ampe hoà tan, phương pháp Von – ampe
hoà tan hấp phụ) và các phương pháp quang (phương pháp quang phổ phát xạ nguyên
tử AES, phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS, phương pháp ICP – AES, phương
pháp trắc quang).
Các phương pháp xác định các nguyên tố vi lượng như điện hoá, phương pháp
quang phổ phổ phát xạ AES, ICP, AES, phương pháp huỳnh quang...có độ chọn lọc,
độ nhạy cao, cho kết quả phân tích tốt nhưng đòi hỏi trang thiết bị giá thành lớn và kỹ
thuật phân tích cao. Bên cạnh đó, phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS và trắc
quang dễ tiến hành hơn với những trang thiết bị thông thường và cho kết quả có độ
chính xác khá cao, đó là các phương pháp phổ biến để xác định lượng vết.
1
2
Sự hình thành phức Cu(II) trong một số thuốc thử hữu cơ
Thuốc thử
Dithizone
Natri đietyl đithio
cacbamat
Khoảng
Môi trường/dung
λmax
môi
(nm)
CCl 4
550
4,52
0,4 – 2,0
0,79
0,1 - 10
0,2 – 1,6
ε(l/mol.cm)
tuyến tính
µg/ml
3
Cuproine
4
Cuprizone
5
Bathocuperione
6
Neocuproine
7
Zincon
Triton X-100
555
5,21
0,08 –4,00
9
10
11
n – hexanol
Isoamyl alcol/
n – hexanol
4-(2-pyridylazo)resorcinol (PAR)
1-(2-pyridylazo )2- naphtol (PAN)
1-(2-pyridylazo )2- naphtol (PAN)
Một số nghiên cứu khác cũng xác định Cu(II) bằng các loại thuốc thử hữu cơ
như dithizon natridiethyl dithiocacbamat, Alizarin đỏ S, dithizon, axit rubeanic,
natridiethyldithiocacbomat, 2,2’-biquynoline, cupferon... Với thuốc thử Natridiethyl