BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
------------------------------
Đoàn Bắc Việt Trân
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN TÌNH DỤC
CỦA NỮ THANH NIÊN CÔNG NHÂN
KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
Đoàn Bắc Việt Trân
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN TÌNH DỤC
CỦA NỮ THANH NIÊN CÔNG NHÂN
KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số:
60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ............................................................................ 56
2.2. Thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST .................. 61
2.2.1. Thực trạng nhận thức về an toàn tình dục của nữ TNCNST ........................ 61
2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về an toàn tình dục của nữ
TNCNST ................................................................................................................. 78
2.2.3. Thực trạng thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST ............................. 84
2.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ về an toàn tình dục của nữ
TNCNST ................................................................................................................. 89
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM MỘT VÀI BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG TÂM LÝ
NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC, XÂY DỰNG THÁI ĐỘ TÍCH CỰC ................ 95
3.1. Các biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ
tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN ................................................................ 95
3.2. Tổ chức thực nghiệm ......................................................................................... 100
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm .......................................................................... 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................... 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS
: Acquired Immune Deficiency Syndrome – hội chứng
suy
giảm miễn dịch mắc phải
ĐTN
: thanh niên công nhân
TNCNST
: thanh niên công nhân đang làm việc tại các nhà máy
khu
công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương
TP.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
UNFPA
: the United Nations Population Fund – Quỹ Dân số
Liên
Hiệp Quốc
UNICEF
: United Nations Children's Fund – Quỹ Nhi đồng Liên
Hiệp Quốc
WHO
: World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
MỞ ĐẦU
sâu, vùng xa. UNFPA cũng đưa ra tỷ lệ phụ nữ Việt Nam ở độ tuổi sinh sản mắc
các bệnh lây truyền qua đường tình dục là 25%.
1.3. Như vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân, đặc biệt là nữ
TNCN là việc cần làm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong xã hội. Một trong
những việc cần làm là nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình
dục cho nữ TNCN, hướng họ đến hành vi an toàn tình dục tránh khỏi các nguy cơ
do quan hệ tình dục không an toàn, qua đó tự bảo vệ sức khỏe sinh sản. Trước khi
tiến hành những hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức và xây
dựng thái độ tích cực cho nữ TNCN về an toàn tình dục, cần có những nghiên cứu
thực trạng về nhận thức, thái độ của họ về vấn đề này.
1.4. Trước đây, mảng đề tài liên quan đến sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục
của nhóm đối tượng nữ công nhân tại Việt Nam có được nghiên cứu bởi các tác giả
chuyên ngành y khoa hoặc xã hội học. Tuy nhiên, còn ít có những nghiên cứu tâm
lý học về mảng đề tài này.
1.5. Có nhiều KCN được thành lập và đi vào hoạt động trên khắp các tỉnh
thành Việt Nam, trong đó có KCN Sóng Thần thuộc tỉnh Bình Dương. Với quy mô
diện tích và số lượng các doanh nghiệp, nhà máy đang đóng tại đây, KCN Sóng
Thần được xem là một KCN có nhiều điểm đại diện cho các KCN khác tại Việt
Nam, kể cả về tình hình đời sống, sinh hoạt của công nhân làm việc tại đây. Vì vậy,
có thể vận dụng phần nào kết quả nghiên cứu với khách thể tại KCN Sóng Thần cho
khách thể tại các KCN khác có những điều kiện tương đồng với KCN Sóng Thần.
Từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu thực hiện nghiên cứu đề tài “Nhận
thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ thanh niên công nhân khu công nghiệp
Sóng Thần tỉnh Bình Dương”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST.
Từ đó, đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây
dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCNST nói riêng, nữ TNCN nói
Nghiên cứu nhận thức của nữ TNCNST về an toàn tình dục ở mức độ biết
và một phần mức độ hiểu về an toàn tình dục, thái độ của nữ TNCNST về một số
nội dung của an toàn tình dục và việc sử dụng biện pháp an toàn tình dục.
6.2. Giới hạn về khách thể
Khách thể nghiên cứu chính của đề tài là 230 nữ TNCN trong độ tuổi 18 –
25, đang làm việc tại các nhà máy KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương.
Khách thể nghiên cứu bổ trợ là 30 khách thể nghiên cứu bổ trợ là cán bộ
ĐTN, HPN, HTN, cán bộ công đoàn, cán bộ các dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản,
cán bộ y tế sản, phụ khoa đang công tác tại các cơ quan, đơn vị trong hoặc gần KCN
Sóng Thần tỉnh Bình Dương.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý
luận cho đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng ba (03) bảng hỏi:
- Bảng hỏi thứ nhất, dành cho nữ TNCNST, nhằm mục đích :
+
Thu thập một số thông tin cá nhân của nữ TNCNST để phục vụ cho
việc nghiên cứu nhận thức, thái độ theo các tiêu chí so sánh khác nhau.
+
Khảo sát nhận thức về an toàn tình dục của nữ TNCNST.
+
Khảo sát thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST.
Thực trạng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục
mà nữ TNCNST thường chọn lựa sử dụng.
Sau khi thu hồi bảng hỏi, xử lý kết quả, sẽ tiến hành phân tích các yếu tố
liên quan về thực trạng ở loại phiếu thứ hai, thứ ba với thực trạng nhận thức, thái độ
ở loại phiếu thứ nhất.
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này. Phương pháp này
được thực hiện qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: điều tra bằng các câu hỏi mở.
- Giai đoạn 2: xây dựng bảng hỏi chính thức và tiến hành điều tra đồng
loạt đối với các khách thể nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Được áp dụng cho khách thể nghiên cứu chính và khách thể bổ trợ nhằm
thu thập thông tin về nội dung nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ
TNCNST, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ
TNCNST.
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm
Áp dụng cho khách thể nghiên cứu là nữ TNCN, mục đích nhằm so sánh,
đối chiếu kết quả về nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCN trước và
sau khi tiến hành tác động bằng các biện pháp tâm lý.
Cách tiến hành: chọn ngẫu nhiên 30 nữ TNCN trong độ tuổi 18 – 25 đang
làm việc tại các nhà máy KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương, dùng bảng hỏi để đo
nhận thức, thái độ của họ về an toàn tình dục. Sau đó, tổ chức tác động bằng các
biện pháp tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực cho nữ
TNCN về an toàn tình dục. Kết thúc các hoạt động trên, tiến hành đo lại nhận thức,
thái độ về an toàn tình dục của 30 nữ TNCN này.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phần mềm SPSS for Window 11.5 để xử lý các số liệu thu được.
Alexander M. Czopp, Margo J. Monteith, Rick S. Zimmerman, Donald R. Ly thực
hiện tại Mỹ năm 2004 [48].
- “Chiến dịch truyền thông đại chúng có thể ảnh hưởng đến yếu tố tâm lý
quyết định tình dục an toàn hơn? Một lượng giá về ba chiến dịch tại Hà Lan” thực
hiện năm 2009 bởi các tác giả M. C. Yzer, F. W. Siero, B. P. Buunk [62].
Nhìn chung trong các nghiên cứu, các tác giả đi tìm mối liên quan giữa các
yếu tố tâm lý như nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi, sự gắn bó trong mối quan
hệ,…trong việc hình thành và củng cố hành vi tình dục an toàn.
Một số lượng đáng kể các công trình nghiên cứu hướng đến phụ nữ và
thanh thiếu niên do những đặc trưng thể chất và tâm lý của những đối tượng này cần
được quan tâm đặc biệt. Có thể kể đến các công trình như:
- “Phụ nữ trẻ và tình dục an toàn hơn”, do J. Holland, C. Ramazanoglu, S.
Scott, S. Sharpe, R. Thomson nghiên cứu tại Anh năm 1992 [51].
- “Hành vi tình dục không an toàn của giới trẻ Nam Phi”, nghiên cứu năm
2002 bởi nhóm tác giả Liberty Eaton, Alan J Flisher, Leif E Aaro [49].
- “Tình dục an toàn: bối cảnh mối quan hệ và hành sử dụng bao cao su ở vị
thành niên nam tại Favelas, Recife, Brazil”, thực hiện năm 2004 bởi Fatima Juarez,
và Teresa Castro Martín [52].
- “Tình dục an toàn và sự lựa chọn sức khỏe sinh sản từ chương trình Phụ
nữ tích cực: tiếng nói và sự lựa chọn ở Zimbabwe”, thực hiện năm 2009 bởi các tác
giả Rayah Feldman, Caroline Maposhere [50].
- “Mối quan hệ giữa kiến thức tình dục, thái độ về tình dục và hành vi tình
dục an toàn ở vị thành niên”, thực hiện tại Đài Loan năm 2009 bởi Jiunn-Horng Lou
và Sheng-Hwang Chen [54].
1.1.1.2. Một số công trình nghiên cứu trong nước
Tại nước ta, trong vòng hơn một thập niên vừa qua, cùng với sự hội nhập
thế giới, trong xu hướng tích cực của công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, các
nghiên cứu về tình dục, sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai ngoài ý muốn,… được
Cũng giống như Việt Nam, các nước đang phát triển cũng trải qua quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa với sự hình thành nhiều khu công nghiệp thu hút rất
đông công nhân vốn là người từ nông thôn. Một số đông trong đó là nữ công nhân
trẻ, trong độ tuổi sinh sản và là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt về nhiều mặt,
trong đó có vấn đề hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản. Dưới đây là một số
nghiên cứu về hành vi tình dục của nữ công nhân ở vài nước đang phát triển.
- “Thái độ, hành vi tình dục và việc sử dụng biện pháp tránh thai ở nữ vị
thành niên lớn ở Bangkok: nghiên cứu so sánh với sinh viên và công nhân”, do
Amara Soonthorndhada thực hiện năm 1996 [57].
- “Hành vi tình dục và việc sử dụng biện pháp tránh thai của nữ công nhân
di cư trẻ, độc thân tại năm thành phố ở Trung Quốc”, nghiên cứu năm 2001 bởi
nhóm tác giả Zhenzhen Zheng, Yun Zhou, Lixin Zheng, Yuan Yang, Dongxia Zhao,
Chaohua Lou, Shuangling Zhao [63].
- “Hành vi tình dục và hậu quả của HIV/AIDS ở công nhân di cư trẻ ở
Nepal”, nghiên cứu năm 2004 bởi M. Puri, J. Cleland [55].
Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra những nguy cơ từ hành vi tình dục
không được bảo vệ của nữ công nhân – có thai ngoài ý muốn, nhiễm HIV nhưng
không nghiên cứu trực tiếp về an toàn tình dục.
1.1.2.2. Một số nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu được thực hiện dựa trên cách tiếp cận
của xã hội học hoặc công tác xã hội, và phần lớn nội dung đề cập đến thực trạng sức
khỏe sinh sản hoặc đời sống tình dục của nữ công nhân, còn hiếm những nghiên cứu
đề cập đến an toàn tình dục của nữ công nhân nói chung, nữ TNCN nói riêng.
Những nghiên cứu có thể kể đến là:
- “Thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho lao động nữ trong các khu
công nghiệp và vai trò của Công đoàn”, do Ban nữ công Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam thực hiện, tiến hành lấy mẫu tại bảy tỉnh, thành trên cả nước vào tháng 78/2011.
-
tư duy con người đối với hiện thực khách quan vừa là kết quả của sự phản ánh ấy.
Là một quá trình, vậy nhận thức có mở đầu, diễn tiến và kết thúc. Khi kết thúc, sản
phẩm thu được cũng được gọi là nhận thức, là cái mà tư duy thu hoạch được. Khi đã
có nhận thức, con người lại dùng chính nhận thức ấy để tiếp tục tiến hành những
quá trình nhận thức mới. Nhận thức sơ khai đầu tiên là sự nhận biết, rồi đến sự hiểu
biết. Như vậy, sự nhận biết là bước đầu tiên của hoạt động phản ánh nhằm thu được
những kết quả nhận thức ban đầu từ thế giới khách quan, như là những “nguyên
liệu” để tiến hành sự phản ánh cao hơn nhằm thu được sự hiểu biết sâu rộng về sự
vật hiện tượng của thế giới.
Định nghĩa về nhận thức của từ điển tiếng Việt rất gần với khái niệm về
nhận thức của nhiều nhà tâm lý học. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Nhận
thức là một hoạt động chủ thể hướng vào đối tượng nhằm mục đích biết và hiểu đối
tượng cũng như biết và hiểu chính mình (tự nhận thức)”.
Còn theo Từ điển tâm lý năm 2001 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên,
nhận thức, tiếng Pháp: Connaissance, là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện
hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan. Quá trình ấy
đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:
- Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát,
thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống.
- Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống,
với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng –
sai.
Cũng theo tài liệu này, nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến
chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết
toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, đi dần hết bước này đến bước khác.
Tác giả Phạm Minh Hạc, kế thừa các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) đặt nhận
thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là
tình cảm và hành động. Trong khi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và
Tuy cảm giác là quá trình nhận thức cấp thấp nhất, đơn giản nhưng nó lại có
ý nghĩa quan trọng với con người. Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và
môi trường xung quanh, từ đó mà con người có khả năng định hướng và thích nghi
với môi trường. Nhờ cảm giác, con người thu thập dữ liệu về thế giới khách quan ở
dạng đơn giản nhất, trực quan nhất, cụ thể nhất. Dựa trên những dữ liệu này, chức
năng của não sẽ có cơ sở để tiến hành các quá trình nhận thức ở cấp cao hơn.
Tri giác
Là bước nhận thức tiếp theo sau cảm giác. Cũng như cảm giác, quá trình tri
giác bắt đầu khi có tác động trực tiếp của sự vật hiện tượng đến các giác quan của
con người. Kết thúc quá trình tri giác, sản phẩm thu được là tổng hợp các thuộc tính
bên ngoài của sự vật. Không như cảm giác cho kết quả là các thuộc tính riêng lẻ, rời
rạc, tri giác cho kết quả là hình ảnh bên ngoài trọn vẹn, hoàn chỉnh của sự vật. Nói
như vậy, không có nghĩa phản ánh của tri giác là phép cộng dồn những kết quả phản
ánh của cảm giác. Mà ở tri giác có sự tham gia của tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức
năng tâm lý khác để có thể phản ánh một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất những
thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng.
Tri giác chưa cho phép con người phản ánh được tính chất bên trong của sự
vật hiện tượng. Nhưng nhờ tri giác, con người có những định hướng nhanh chóng
và chính xác hơn trong thế giới, giúp con người phản ánh có lựa chọn và mang tính
ý nghĩa. Hình ảnh – sản phẩm của tri giác tham gia vào hoạt động tư duy trực quan
– hình ảnh và là một bộ phận trong các thao tác của hành động trực quan. Một phần
giống với cảm giác, tri giác cung cấp cho con người nguyên liệu để tiến hành các
bước nhận thức ở mức độ cao hơn, nhưng khác với nguyên liệu do cảm giác đem
đến, còn ở dạng rời rạc, nguyên liệu do tri giác đem đến đã ở dạng hoàn chỉnh.
Như vậy, quá trình nhận thức cảm tính sử dụng các giác quan sinh học của
cơ thể để phản ánh về sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác
quan. Nội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ
thể, bên ngoài của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ đơn giản chứ
sự vật có chung những dấu hiệu bản chất nhất định. Quá trình tư duy ở một trình độ
nào đó, ở một mức độ nào đó giúp con người nhận thức được một số lượng và một
mức độ những nội dung nào đó của khái niệm.
- Phán đoán: thường là một nhận định, một sự khẳng định về một cái gì
đó, nó có thể là một khái niệm hoặc có thể là một sự liên hệ nhất định của các khái
niệm với nhau. Phán đoán có thể đơn giản, cũng có thể phức tạp, có thể đúng, cũng
có thể chưa đúng. Kinh nghiệm cá nhân có đóng góp vào việc thực hiện phán đoán.
- Suy lý: là một phán đoán rút ra từ một phán đoán khác. Có hai loại suy
lý chủ yếu: quy nạp và diễn dịch. Quy nạp là loại suy lý mà từ những phán đoán
riêng biệt cụ thể rút ra được một phán đoán chung. Còn diễn dịch là lại suy lý mà từ
một phán đoán chung rút ra một phán đoán riêng. Qui nạp và diễn dịch gắn bó chặt
chẽ với nhau, có tác dụng mở rộng phạm vi nhận thức của con người một cách vô
hạn, vượt ra ngoài kinh nghiệm của bản thân.
Những sản phẩm của tư duy – khái niệm, phán đoán, suy lý – lại tiếp tục có
thể trở thành những tài liệu để có thể tiếp tục tư duy nữa, rút ra những phán đoán,
suy lý, khái niệm mới hơn, đầy đủ, hoàn chỉnh, đúng đắn hơn. Cứ như thế, tư duy
giúp cho ta hiểu biết ngày càng sâu sắc sự vật, hiện tượng, hiểu biết vô hạn về sự
vật, hiện tượng. Đây chính là điều mà nhận thức cảm tính không đạt đến được. Tuy
nhiên, không phải tư duy luôn luôn phản ánh đúng về sự vật, hiện tượng. Nhiều
trường hợp có thể tư duy sai và do đó kết quả nhận thức cũng bị sai [32].
Tưởng tượng
Tưởng tượng cũng được xếp vào quá trình nhận thức lý tính cùng với tư
duy. Tưởng tượng là quá trình phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm cá
nhân, kinh nghiệm xã hội bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những
hình ảnh, những biểu tượng đã có.
Tưởng tượng có phần giống tư duy là phản ánh sự vật, hiện tượng một cách
gián tiếp, khái quát, cho ra những cái mới. Nhưng nếu tư duy giúp con người nhận
thức được bản chất, mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng thì tưởng
định các dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ một luận điểm.
Cũng có thể dựa trên tính trọn vẹn và đầy đủ của bản chất sự vật, hiện
tượng để phân chia thành các mức độ nhận thức:
1. Nhận thức đúng, đầy đủ về sự vật, hiện tượng.
2. Nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về sự vật, hiện tượng.
3. Nhận thức được một phần về sự vật, hiện tượng nhưng chưa phản ánh
đúng bản chất của sự vật, hiện tượng.
4. Nhận thức sai về sự vật, hiện tượng.
Trên đây là nội dung trình bày khái niệm chung về nhận thức. Đề tài này
không đi sâu nghiên cứu về bản chất của quá trình nhận thức, mà chấp nhận, sử
dụng những kết quả nghiên cứu về nhận thức trên cơ sở có sự lĩnh hội, chọn lọc để
phục vụ cho mục tiêu cụ thể của đề tài là tìm hiểu mức độ nhận thức của một nhóm
chủ thể nhận thức cụ thể về một vấn đề cụ thể.
Đối tượng và nội dung của nhận thức trong phạm vi của đề tài gồm các nội
dung: nhận thức về sức khỏe sinh sản của bản thân, nhận thức về an toàn tình dục
và biện pháp an toàn tình dục, nhận thức về lợi ích của an toàn tình dục đối với sức
khỏe sinh sản nói riêng và sức khỏe nói chung.
1.2.1.2. Thái độ
Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 2004, thái độ được định
nghĩa:
1. Là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử
chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào đó.
2. Là cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước
một vấn đề, một tình hình.
Theo Từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 2001, thái độ, tiếng
Pháp: Attitude, được giải thích như sau. Trước một đối tượng hoặc một ý tưởng,
con người bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn tiếp nhận dễ dàng hay khó
khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn có những cơ cấu tâm lý tạo ra định
ánh những thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức,
mà còn cần phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình. Mối
quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản
ánh. Tùy thuộc vào đối tượng có ý nghĩa như thế nào đối với nhu cầu của ta (thỏa
mãn hay không thỏa mãn) mà ta có thái độ tương ứng (tích cực hay tiêu cực) với đối
tượng ấy” [31].
Một số tác giả nêu rõ thái độ thuộc lĩnh vực phản ánh cảm xúc, khác căn
bản với phản ánh nhận thức, các tác giả này dùng thuật ngữ “thái độ cảm xúc” khi
nêu định nghĩa về tình cảm. Chẳng hạn, tác giả A. V. Daparôgiet đã viết: “Khi nhận
thức hiện thực xung quanh, con người không tỏ ra lạnh nhạt, bàng quan. Con người
có một thái độ nội tại nhất định đối với sự vật, hiện tượng và hành động; do ảnh
hưởng của sự vật, hiện tượng, hành động đó mà có tình cảm nào đó, xúc động nào
đó.(…) Tình cảm hay xúc cảm là thái độ mà con người trực tiếp thể nghiệm đối với
hiện thực xung quanh và đối với bản thân” [9].
Tài liệu Tâm lý học, tập 1 [17], các tác giả đã viết: “Tình cảm là những thái
độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực,
phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của họ,…”.
Và, “không phải tất cả những cái tác động vào các giác quan ta đều được ta tỏ thái
độ - nghĩa là đều gây nên những cảm xúc, tình cảm, mà chỉ có những sự vật, hiện
tượng nào có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn một nhu cầu, một
động cơ của con người thì mới gây nên cảm xúc mà thôi”.
Qua một số những định nghĩa, những nội dung đề cập về thái độ nêu trên,
có thể nhận thấy, dù được diễn giải theo nhiều phương cách khác nhau, nhưng vẫn
có những điểm chung về khái niệm thái độ mà các định nghĩa đều có đề cập đến. Đó
là, thứ nhất, thái độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm, cảm nghĩ,
cách nhìn,…) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng,…) của cơ thể; thứ
hai, thái độ nảy sinh khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện
tượng, một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể; thứ
Trích đoạn Thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST Thực trạng thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST Phân tích kết quả thực nghiệm