PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT LÀ KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN HỆ
PHỔ BIẾN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
Phép biện chứng ra đời từ thời cô đại. Trong lịch sử triết học có ba hình
thức cơ bản của phép biện chứng: Phép biện chứng chất phác thợ ngây), phép
biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. Diễn hình cho phép biện chứng
chất phác là phép biện chứng cổ đại ~ĩy Lạp. Thời kỳ này khoa học chưa phát
triển nên khi phác họa vé bức tranh chung của thế giới, các nhà triết học chi dựa
trên những quan sát có tính chất trực quan cảm tính. Chàng hạn, Hê-ra-clít coi
sự vận động và phát triển của thế giới giống dòng chảy của một con sông. Vi
vậy phép biện chứng đuy vật chất phác (o ý nghĩa vô thần, chống lại các quan
niệm tôn giáo thế giới, song còn thiếu căn cứ khoa học. Phép biện chứng chất
phác đã bị phép siêu hình sau này phủ định. Tiêu biểu cho phép biện chứng duy
tâm là phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen, một đại biếu xuất sắc
của nén triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX. Chông lại phương pháp siêu hình,
Hên ghen là người đấu tiên có công xây dựng tương đối hoàn chinh phép biện
chứng vi một hệ thống các khái niệm, phạm trù vă những truy luật cơ bản Song,
do thế giới quan là duy tâm cho rằng "ý niệm tuyệt đối'' là cái có trước thế giơi,
giới tự nhiên và xã hội chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài của ''ý niệm tuyệt đối''
nên Hê-ghen mắc sai lầm có tính nguyên tắc là cho rằng biện chứng của ý niệm
sản sinh ra biện chứng của sự vật. Do đó, phép biện chứng của Hê - ghen là
phép biện chứng duy tâm khách quan, phép biện chứng của ý niệm, thần bí,
thiếu triệt để, thiếu khoa học. Mác và ĂNG GHEN sáng lập ra chủ nghĩa duy vật
biện chứng vào giữa thế kỷ XIX và được Lê-nin phát triển hơn nữa vào đầu thế
kỷ XX đã đem lại cho phép biện chứng một hình thức mới về chất. Đó là phép
biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế
giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Nhờ đó nó đã khắc phục
được những hạn chế trước đây của phép biện chứng chất phác và biện chứng
duy tâm và thực sự thừ thành khoa học. '
Phép biện chứng duy vật bao hàm một nội dung hết sức phong phú, bởi vì đối
Vì thế, chúng ta có thể khái quát chúng thành nhiều mối liên hè: cái chung và cái
riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu v,v..
Sự phân loại các liên hệ này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì, mô' loại liên hệ chỉ
là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói
chung. Song, sự phân loại các mối liên hệ là rất cần thiết, vì rằng vị trí của từng
mối liên hệ trong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật và hiện
tượng không hoàn toàn như nhau. ~ Những hình thức riêng biệt, cụ thể của từng
mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép
biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của
thế giới. Vì thế ĂNG ~ ghen viết: "Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ
phổ biến''(l).
3. Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến rất có ý nghĩa đối với chúng ta
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nếu các sự vật và hiện tượng
trong thế giới đều tổn tại trong mối liên hệ phổ biến và nhiễu về, thì muốn nhận
thức và tác động vào chúng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện khắc phục
quan điểm phiến diện, một chiều.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật phải đặt nó trong mối
quan hệ với sự vật và hiện tượng khác, phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố,
kể cả các mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng. Tuy nhiên, quan điểm toàn
diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng, tràn lan, mà phải thấy được vị trí
của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố trong tổng thể của chúng. Có như
thể chúng ta mới thật sự nấm được bản chất của sự vật. Vỉ vậy, quan điểm toàn
diện bản thân nó đã bao hàm quan điểm lịch sử, cụ thể.
Trước đây, trong giai đoạn cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, Đảng ta
đã'phân~ tích một cách toàn diện bản chất xã hội ta, một xã hội mà tính chất là
thuộc địa nửa phong kiến. Từ đó, Đảng chỉ ra hai mâu thuẫn cơ bản mà cách
mạng phải giải quyết, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chủ nghĩa đế quốc, mâu
thuẫn giữa nhân dân trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.
sự vật mới, hiện tượng mới ra đời, nhưng cũng có những biến đổi dẫn đến sự tan
rã, tiêu vong của các vật thể vật chất, hoặc cái lạc hậu thay thế cái tiến bộ VV
Khái niệm vặn động khái quát mọi sự biến đổi, biến hóa nói chung, dù nó có
tính chất, khu~vnh hướng và kết quả thế nào.
Khái niệm phát triển: Khái niệm phát triển không bao quát mọi sự vận động nói
chung. Nó chỉ khái quát xu hướng chung của vận động, xu hướng vận động đi
lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. Sự vận động đi lên có thể diễn ra theo các
chiều hướng: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức ' tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện. Tùy theo các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất và sự phát
triển thể hiện khác nhau.
Trong giới vô cơ, sự phát triển biểu hiện dưới hình thức biến đổi của các yếu tố
và hệ thống vật chất, sự tác động lẫn nhau giữa chúng trong những điêu kiện
nhất định làm xuất hiện các hợp chất phức tạp. Thí dụ sự tác động lẫn nhau giữa
các nguyên tử, phân từ dẫn đốn việc hình thành các hợp chất hóa học. Trong
sinh vật, sự phát triển của chúng thể hiện ở khả năng thích nghi trước sự biến
đối phức tạp của môi trường, ở sự hoàn thiện không ngừng quá trình trao đổi '
chất, ở sự tái sinh ra chinh mình đă dẫn đến sự xuất hiện ngày càng phong phú
các giống loài mới. Trong đời sống xã hội , sự phát triển 'thể 'hiện ở sự thay thế
nhau ngày càng cao hơn của các phương thức sản xuất. Trong tư duy, thể hiện ở
chỗ nhưng giới hạn nhận thức của các' thé hệ trước luôn luôn bị các thế hệ sau
vượt qua. Như vậy, .sự phát triển và đồi mới là hiện tự diện rll không ngừng
trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy và nguồn gốc của nó lâm sự đấu
tranh giữa các nát đối lập trong băn thâu sự vật và hiện tượng. Song không tên
hiểu sự phát triển này bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, tháng tắp. Xét từ
trường hợp cá biệt, thì có những vận động đi lên, tuấn hoàn, thậm chí đi xuống,
nhưng xét cả quá trình, trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh
hướng thống tri. Khái quát tình hình trên đâ~v, phép biện chứng duy vật khẳng
định rằng phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động củ,, sự vật và hiện