Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, khoa học và kỹ thuật phát triển với tốc độ rất nhanh. Ngời ta ớc
tính rằng cứ sau 8 năm thì tri thức của nhân loại đợc tăng lên gấp đôi. Từ khi
chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời mở ra một kỉ nguyên phát triển rực rỡ của
CNTT.
Những thành tựu to lớn của CNTT đang thâm nhập sâu rộng vào hầu hết
các ngành kinh tế quốc dân, vào mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, văn hoá và
nghệ thuật, khoa học và giáo dục, vào mọi cơ quan quản lí các cấp và mọi gia
đình. Điện tử và Tin học làm biến đổi sâu sắc đến lối sống và phong cách t duy
của con ngời. Xã hội thông tin đang đặt ra các yêu cầu rất cao đối với các hoạt
động trí tuệ của toàn xã hội.
Mọi tiến bộ khoa học kỹ thuật cuối cùng cũng đi vào giáo dục và đặt ra
cho giáo dục những nhiệm vụ mới. Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự
bùng nổ của thông tin đòi hỏi nhà trờng phải tạo nên những con ngời thông
minh, sáng tạo.
ở Việt Nam, những thành công của sự nghiệp đổi mới trong hơn hai thập
niên qua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào trong
nhà trờng.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhằm đa nớc ta
theo kịp nhịp độ phát triển của thế giới trong xu hớng hội nhập với nền kinh tế
toàn cầu đòi hỏi thế hệ trẻ phải sử dụng thành thạo các ứng dụng của CNTT vào
lĩnh vực công tác của mình trong tơng lai. Nhiều quan niệm cho rằng Không
biết Tin học coi nh bị mù chữ lần thứ hai. Việc dạy Tin học cũng quan trọng nh
việc xoá mù chữ.
Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học đợc áp
dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu
hết lĩnh vực của đời sống, và là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn
hoá phổ thông của con ngời trong thời đại mới. Bởi vậy, dạy Tin học cho học
1
sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hớng cho học sinh những
Nghiên cứu tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học nhằm rèn luyện
kỹ năng thực hành cho học sinh lớp 11 THPT.
3. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
a) Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 11
b) Đối tợng nghiên cứu
Quá trình tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học 11 để rèn luyện kỹ
năng thực hành
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học theo hớng đổi mới bảo
đảm các yêu cầu về s phạm thì sẽ hình thành, rèn luyện và phát triển đợc kỹ
năng thực hành lập trình cho học sinh, từ đó nâng cao chất lợng dạy học bộ
môn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lí luận về hình thành và phát triển kỹ năng
trong giảng dạy thực hành Tin học ở trờng THPT.
- Xác định cơ sở và hệ thống các kỹ năng thực hành cơ bản cần rèn
luyện cho học sinh.
- Nghiên cứu cách tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học để rèn
luyện và phát triển kỹ năng thực hành cho học sinh.
- Thiết kế mẫu một số giáo án giảng dạy các bài thực hành Tin học 11
- Thực nghiệm s phạm
6. Phơng pháp nghiên cứu
a) Nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nớc cũng nh của Bộ giáo
dục và đào tạo về việc nâng cao chất lợng giáo dục và vấn đề đa Tin học vào
nhà trờng phổ thông
- Nghiên cứu các tài liệu, bài giảng về phơng pháp dạy học Tin học
3
- Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, tâm lí học, các tài liệu về phơng
5
Phần nội dung
Chơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình
thành và phát triển kỹ năng thực hành cho học sinh
trong dạy học Tin học ở trờng THPT
1. Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kỹ năng thực hành
1.1Khái niệm kỹ năng thực hành
Kĩ năng là một vấn đề đợc nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học quan tâm.
Xung quanh khái niệm kỹ năng đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn, theo tác giả Bùi Văn Huệ thì Kĩ năng là khả năng vận dụng
tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật, ... vào thực tiễn.
Tác giả Lu Xuân Mới trong cuốn Lý luận dạy học Đại học cho rằng Kĩ
năng là sự biểu hiện kết quả hành động trên cơ sở kiến thức đã có. Kĩ năng là tri
thức trong hành động.
Theo từ điển Việt Nam thì Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận đợc vào thực tế
Tựu chung lại thì Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành
động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến
thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở cấp độ
tiêu chuẩn xác định
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông Thực hành là làm để áp dụng lý
thuyết vào thực tế
Từ hai khái niệm Kĩ năng và Thực hành có thể hiểu: Kĩ năng thực
hành trong dạy học (đối với học sinh) là khả năng học sinh thực hiện có kết quả
các thao tác hành động trong việc áp dụng tri thức đã học vào thực tế.
Dựa vào định nghĩa trên ta thấy kỹ năng thực hành có đặc điểm là:
- Có kiến thức vững chắc về lí thuyết
- Khả năng thực hiện các thao tác hành động theo một quy định
- Khả năng vận dụng khám phá biến đổi các quy trình, các vấn đề lí
thuyết đã biết vào thực tiễn
7
cùng của việc dạy học, vừa là yếu tố kích thích và là động cơ thúc đẩy việc nắm
kiến thức và hình thành kỹ năng.
Trong dạy học, giáo viên phải đồng thời thực hiện tốt cả 3 nhiệm vụ nói
trên trong đó nhiệm vụ hình thành và phát triển kỹ năng rất cần thiết. Đây là
nhiệm vụ khó khăn vì năng lực ở đây là sự tổng hợp, việc xây dựng đòi hỏi cả
một quá trình.
Tin học là một môn học liên quan đến máy tính, tuy nhiên không đồng
nhất việc học kỹ năng ở đây với kỹ năng học nghề sử dụng máy tính. Học kỹ
năng ở đây trớc hết là để biết và hiểu các vấn đề trong chuẩn kiến thức đợc tốt
hơn sau đó mới có thể vận dụng đợc kỹ năng để làm đợc một số công việc nhng
cũng chỉ với những công việc đơn giản phục vụ học tập. Bên cạnh trang bị cho
học sinh một lợng lớn kiến thức lí thuyết chúng ta còn phải rèn luyện cho các
em kỹ năng thực hành tơng ứng. Vì kỹ năng thực hành là công cụ để học sinh tự
lực nghiên cứu Tin học và áp dụng các thành tựu của Tin học và đời sống thực
tiễn...
1.3Kĩ xảo
Mọi hành động của con ngời là hành động có ý thức. Cho nên mục đích
và các hành động đợc ý thức ngay từ đầu. Nhng không phải mọi lúc và mọi
khâu của hành động, ý thức bao giờ cũng có mặt. Cho nên trong một chuỗi hành
động, có những khâu, những thành phần không có hoặc có ít sự tham gia của ý
thức. Thành phần tự động hoá đó là kỹ xảo.
Vậy, kỹ xảo là hành động đã đợc củng cố và tự động hoá.
Kỹ xảo có các đặc điểm nh sau:
- Kỹ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có
ý thức phức tạp. ý thức luôn thờng trực, lúc có vấn đề ý thức xuất hiện ngay.
Nhờ đó, ý thức đợc tập trung vào mặt phức tạp và sáng tạo của hành động, phạm
vi bao quát rộng hơn.
- Động tác thừa bị loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng chính
xác, nhanh và tiết kiệm. Do đó làm cho hành động tốn ít năng lợng, tăng tốc độ
Tiến thêm một bớc nữa bộ môn Tin học phải cung cấp cho học sinh những hiểu
9
biết cơ bản về ứng dụng của Tin học vào trong các quá trình công nghệ, trong
thông tin liên lạc, trong các quá trình sản xuất, quản lí kinh tế, xã hội...
Trên cơ sở cung cấp những tri thức cơ bản, có hệ thống bộ môn Tin học
còn phải rèn luyện cho học sinh những năng lực trí tuệ chung nh kỹ năng t duy
trừu tợng, kỹ năng thực hành cần thiết. Về t duy cần hình thành và phát triển
các thao tác chủ yếu: t duy logic, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa,
trừu tợng hóa. Về thực hành cần chú trọng đến kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ
năng vận dụng Tin học vào thực tiễn. Cũng cần chú ý cho học sinh thói quen
gắn liền các thao tác t duy với các kỹ năng thực hành nh là một thể thống nhất
trong hoạt động nhận thức.
Qua việc dạy Tin học mà hình thành cho học sinh những quan niệm,
những phơng thức t duy và hoạt động đúng đắn, phù hợp với những quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biên chứng.
Bộ môn Tin học phải đảm bảo chất lợng phổ cập đồng thời phải có nhiệm
vụ phát hiện và bồi dỡng học sinh giỏi Tin học.
2.2 Đặc điểm năng lực nhận thức và năng lực thực hành của học sinh
THPT
Lứa tuổi THPT là thời kì các em đạt đợc sự trởng thành về mặt thể lực, hệ
thần kinh có những thay đổi quan trọng trong cấu trúc bên trong não bộ, chức
năng của não phát triển tạo điều kiện cho sự phức tạp hóa hoạt động học tập,
phân tích tổng hợp của học sinh. Các hoạt động của học sinh có tính độc lập,
sáng tạo, ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý hơn lứa tuổi thiếu niên.
Nội dung và tính chất hoạt động học tập của thanh niên học sinh khác rất
nhiều so với thiếu niên. Sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập sâu hơn mà
hoạt động học tập có tính năng động và độc lập ở mức cao hơn, yêu cầu có sự
phát triển t duy lý luận, các em có vốn kinh nghiệm sống rất phong phú, thái độ
ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển, hứng thú học tập gắn
liền với khuynh hớng nghề nghiệp.
Thứ nhất, do phòng máy nói chung là quá tải nên việc tổ chức và thực
hiện các buổi thực hành còn gặp nhiều khó khăn. Mỗi tiết thực hành đợc tiến
11
hành trong vòng 45 phút, nếu tổ chức không tốt sẽ có rất nhiều học sinh không
làm việc trong giờ thực hành.
Thứ hai, giáo viên cha quan tâm đến việc học sinh đạt đợc những kỹ năng
gì qua các giờ thực hành.
Thứ ba, mục đích lớn nhất của học sinh hiện nay là vào đại học, nên việc
đầu t vào nghiên cứu môn Tin học hầu nh ít đợc quan tâm. Mặt khác, không
phải mọi gia đình đều có máy vi tính riêng cho con em. Nhiều học sinh có máy
hoặc tiếp xúc với máy chỉ sử cụng nhiều vào mục đích chơi các trò chơi.
3. Các kỹ năng thực hành cần rèn luyện
Từ đặc điểm, vị trí môn Tin học trong nhà trờng THPT, từ thực tế của
môn Tin học trong trờng THPT nớc ta hiện nay, để đạt đợc nhiệm vụ dạy học
tin học trong nhà trờng THPT, ngời giáo viên cần lu ý quan tâm rèn luyện cho
các em kỹ năng học tập Tin học bao gồm các nhóm kỹ năng sau:
- Kĩ năng nhận thức
- Kĩ năng thực hành
- Kĩ năng tổ chức hoạt động nhận thức
- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá
Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập đến việc rèn luyện cho
học sinh các kỹ năng thực hành, đây là kỹ năng cơ bản giúp các em trong học
tập môn Tin học cũng nh phục vụ cuộc sống sau này.
Kết quả của việc tiếp thu những tri thức Tin học phải đợc thể hiện trong
các chơng trình lập trình giải các bài toán bằng máy tính, trong các khả năng
ứng dụng Tin học của học sinh vào trong thực tiễn. Bởi vậy, trong dạy học ngời
thầy giáo cần quan tâm rèn luyện cho học sinh những kỹ năng thực hành trong
Tin học bao gồm các nhóm kỹ năng sau:
- Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình
- Kỹ năng vận dụng tri thức Tin học vào giải các bài toán thực tiễn
Chẳng hạn, cần xem thời khoá biểu của một ngày nào đó trong tuần, ta
lập chơng trình để khi gõ vào các số từ 2 đến 7 trên màn hình sẽ xuất hiện thời
khoá biểu của ngày tơng ứng.
13
Ví dụ 1:
Program tkb;
Uses Crt;
Var Thu: Byte;
Begin
Clrscr;
Write ('Ban can xem thu may?'); Readln(thu);
Case Thu of
2: Write('Thu 2: Toan, Van, Anh');
3: Write('Thu3: Toan, TViet, Ki thuat');
4: Write('Thu 4: Sinh, Su, Dia');
5: Write('Thu 5: The, Hoa, Anh');
6: Write('Thu 6: Toan, Van, The');
7: Write('Thu 7: Ly, GDCD, Sinhhoat');
Else Write('Khong tim thay!');
End;
Readln;
End.
Thông qua chơng trình này, ta dạy cho học sinh cách dùng lệnh xoá màn
hình Clrscr, cấu trúc hoạt động của câu lệnh Caseof.
b) Phơng diện thuật giải
ở phơng diện thuật giải, ta yêu cầu học sinh viết thuật giải bằng sơ đồ
khối hoặc bằng ngôn ngữ phỏng trình. Tức là xây dựng dãy các tác động để cho
máy tính có thể thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đạt đợc
một kết quả xác định gọi là điều kiện ra xuất phát từ một tình huống gọi là điều
kiện vào. Nếu có thể thì cho học sinh biết đợc thuật giải giải quyết cùng một
thật thì ta bỏ chúng đi mà thay thế vào đó là các biến nhận giá trị thực tế, còn
khi khai báo biến ta cần lu ý đến miền giá trị để xác định kiểu dữ liệu cho
chúng. Chẳng hạn, đối với biến dùng để chứa tuổi của một ngời nên khai báo
thuộc kiểu miền con từ 1..100 hoặc kiểu Byte mà không nên khai báo là kiểu
15
nguyên (Integer) bởi khai báo nh vậy máy sẽ dành nhiều ô nhớ để chứa biến
nhớ đó, rất tốn bộ nhớ và làm cho chơng trình xử lí chậm hơn.
d) Dạy học trên phơng diện quá trình
Khi học lập trình, nhiều học sinh chỉ chú ý tới kết quả bài toán mà không
nắm đợc quá trình thực hiện chơng trình. Nếu học sinh nắm đợc quá trình thực
hiện chơng trình thì họ sẽ tránh đợc những sai lầm ngộ nhận và sẽ nắm đợc từng
bớc của quá trình, kết quả làm việc của các cấu trúc lặp, lệnh làm việc với ch-
ơng trình conđiều đó sẽ giúp họ kiểm soát đợc các khả năng có thể xảy ra với
dữ liệu khi làm việc. Rèn luyện cho học sinh kỹ năng hiểu đợc câu lệnh điều
kiện, vai trò của biến điều khiển, chu trình lặp, sự kết thúc chu trình, hoạt động
của chơng trình con khi có lời gọi đến nó. Nắm đợc quá trình thực hiện chơng
trình là góp phần xây dựng chơng trình, thể hiện tính đúng đắn của chơng trình
giúp ta cải tiến chơng trình làm cho một số phép toán mà chơng trình phải thực
hiện nhỏ dần đi, đồng thời giúp ta dễ dàng phát hiện chỗ sai của thuật giải hoặc
dữ liệu khi kiểm thử chơng trình. Đối với phơng diện này ở trên lớp giáo viên
mô phỏng quá trình làm việc của các câu lệnh, ví dụ lệnh gán, lệnh rẽ nhánh,
lệnh lặpKhi dạy học những lệnh này cần có những bài tập yêu cầu học sinh
lập bảng mô phỏng thể hiện các bớc của chơng trình với các dữ liệu cụ thể.
Chẳng hạn, khi dạy học với lệnh gán ta yêu cầu học sinh làm bài tập sau:
Lập bảng mô phỏng việc thực hiện đoạn chơng trình giao hoán 2 giá trị a = 6, b
= 14 nh sau
Tg: = a; a: = b; b: = Tg;
Học sinh lập đợc bảng mô phỏng quá trình diễn ra bên trong bộ nhớ của
máy tính nh sau:
Bớc 1 Bớc 2 Bớc 3 Bớc 4
toán, chẳng hạn để tính chu vi, diện tích hình tròn khi cho biết bán kính, một
học sinh viết chơng trình nh sau:
Program Hinh_tron;
Uses Crt;
17
Var r, dt, cv: Real;
Begin
Clrscr;
Write (Nhap ban kinh:); Readln(r);
Cv:= 2*Pi*r;
Dt:= Pi*r*r;
Readln;
End;
Chơng trình trên cha chú ý đến phơng diện kết quả. Không có một ngời
lập trình nào có thể khẳng định rằng chơng trình của mình ngay từ đầu đã
không có sai sót.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả sai, từ khâu vào chơng trình, xây
dựng thuật giải
Thông thờng có 5 phơng pháp để phát hiện sai sót:
- Phát hiện sai sót khi hợp dịch chơng trình
- Phát hiện sai sót khi thực hiện trên máy
- Máy không chạy hoặc chạy không thông suốt
- Phát hiện sai nhờ chơng trình thử
- Kết quả sai rõ ràng
ở đây ta chỉ đề cập đến vấn đề kiểm thử chơng trình mà không đặt ra vấn
đề chứng minh tính đúng đắn của chơng trình.
Cần rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sau đây:
+ Biết xây dựng một tập dữ liệu phủ kín các trờng hợp cần kiểm
chứng một chức năng nào đó của chơng trình.
+ Biết lập luận để lựa chọn 1 trong 2 tập hoặc đơn vị dữ liệu vào
Việc sử dụng MTĐT nh một công cụ là một xu hớng ngày càng phát
triển, dạy học lập trình theo tinh thần dạy học MTĐT để giải toán. Tuy nhiên,
học sinh không phải chỉ biết lập trình mà còn phải biết làm việc với một số ch-
ơng trình nh một đối tợng. Đó là có thể gọi ra, lu trữ, sửa đổi, xóa bỏ,Và học
sinh cũng phải làm việc đợc với một số lệnh thông dụng của HĐH nh COPY,
19
PASTE,Thông qua việc sử dụng môi trờng của Turbo Pascal, cần cho học sinh
sử dụng Menu, một hình thức làm việc phổ biến với MTĐT.
Khi soạn thảo chơng trình ta đã cho học sinh sử dụng máy tính nh sử
dụng máy soạn thảo văn bản. Từ đó học sinh biết đợc cách sử dụng các phím cơ
bản, cách sao chép, di chuyển khốiCần tập dợt cho học sinh thiết lập những
màn hình văn bản có thông báo tạo nên sự đối thoại giữa ngời và máy trong sử
dụng MTĐT.
Ta có thể cho học sinh lập chơng trình cho máy tính làm việc nh một
thầy giáo. Chẳng hạn, máy dạy cho học sinh cấp 1 luyện cộng, trừ trong phạm
vi 100. Khi đó xuất hiện trên màn hình phép cộng mà 2 số hạng là 2 số nguyên
ngẫu nhiên trong phạm vi cho phép. Học sinh phải cho máy biết 2 tổng đó, nếu
vào kết quả đúng thì máy có lời khen, cho điểm, nếu vào sai cho nhận xét, nhắc
nhở.
Tơng tự nh vậy, máy tính có thể đóng vai trò ngời học, nh vậy tạo cơ hội
cho học sinh học lập trình thông qua dạy cho máy bằng những công thức mà họ
lập cho máy thực hiện. Nhờ đó, trớc hết học tập đợc cách lập trình, hơn nữa họ
phát triển đợc kinh nghiệm giải quyết vấn đề thông qua việc lập trình. Ta cũng
có thể ra bài tập cho học sinh lập trình để máy quản lý thời khóa biểu, quản lý
điểm, sổ đầu bài, danh sách lớpmà các dữ liệu có thể cập nhật, sửa đổi, bổ
sung, thêm, bớt hay ghi vào tệp
Chú ý: ở phơng diện MTĐT, ta có thể cho học sinh lập chơng trình cho
máy thực hiện những chơng trình trò chơi để khuyến khích học sinh học lập
trình trên máy.
g) Phơng diện giải quyết vấn đề
Rõ ràng cách viết sau vừa gọn nhẹ, lại vừa tối u hơn trong khi chạy chơng
trình.
Trong việc sử dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình cũng cần phải
rèn luyện cho các em kỹ năng sử dụng hằng và biến một cách linh hoạt.
Một biến khi đợc tham gia vào một biểu thức thì cần đợc gán giá trị ban
đầu. Cụ thể, biến để chứa tổng gán bằng 0, biến để chứa tích cần đợc gán kết
quả ban đầu bằng 1; biến để chứa xâu cần đợc làm rỗng trớc khi dùng đến. Điều
21
này bắt buộc phải làm khi một biến dùng ở nhiều nơi với ý nghĩa kết quả riêng
biệt và không liên quan đến kết quả ở những nơi khác.
Đặc điểm của lệnh gán là khi gán một giá trị vào một biến thì giá trị cũ
sẽ bị mất đi và biến nhận giá trị mới, ngời thầy giáo cần hớng dẫn rèn luyện cho
học sinh việc dùng biến trung gian để lu giữ những giá trị mà cần phải sử dụng
tiếp ở sau này. Tránh trờng hợp các em sẽ lúng túng trong các bài toán cần giữ
lại những số liệu để so sánh về sau.
Trong toán học, đẳng thức (a+b)+c=a+(b+c) là hoàn toàn đúng. Nhng
trong Tin học thì điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Bởi vậy cần lu ý đến
thứ tự u tiên thực hiện các phép toán trong biểu thức để khai báo kiểu cho hợp
lý.
Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức vào hoạt động lập trình cho học
sinh, ngời thầy giáo cần dạy cho học sinh kỹ thuật trình bày chơng trình nh sau:
Viết chơng trình theo các khối
- Những khối có chức năng tơng đơng đợc viết trên cùng một cột
- Những khối bao trong nó đợc viết lùi vào một cột
- Từ END; kết thúc của khối nào thì viết cùng cột với từ BEGIN của
khối đó
- Các lệnh của một khối viết lùi vào so với cột định vị của cặp từ khóa
BEGINEND
Hình ảnh minh họa:
a) b) c)
Diem: Real;
End;
23
Để tính đợc điểm trung bình của học sinh toàn lớp cần biết điểm cụ thể
của từng ngời. Bởi vậy ta phải nhập điểm của từng học sinh, sau đó cộng tất cả
các điểm của từng học sinh trong lớp và chia cho số học sinh trong lớp để lấy
điểm trung bình của toàn lớp. Vận dụng kiến thức về Tin học, học sinh cần biết
vận dụng vào giải bài toán này nh sau:
Program Diem_trung_binh;
Uses Crt;
Const Max=50;
Type Hocsinh = Record
Hodem: String[20];
Ten: String[7];
Diem: Real;
End;
Var i,n: Integer;
Lop: array[1..max] of hocsinh;
Dtb: real;
Begin
Clrscr;
Write('Nhap so hoc sinh trong lop:');
Repeat
Readln(n);
Until (n>0) and (n<= max);
Dtb:=0;
For i:=1 to n do
Begin
Write('Nhap thong tin cho hoc sinh thu:',i);
Write('Ho dem:'); Readln(Lop[i].hodem);
tránh tình trạng học sinh chỉ dừng lại ở phơng hớng xây dựng giải thuật mà
không trực tiếp sử dụng các ngôn ngữ lập trình để mã hóa và thực hành kiểm
thử lại chơng trình trên máy. Tình trạng này sẽ có tác hại không nhỏ đối với học
sinh trong học tập hiện tại cũng nh trong cuộc sống sau này. Khi giải quyết vấn
25