Nghiên cứu thực trạng tư vấn học đường ở các trường THPT trên địa bàn hồ chí minh điển cứu tại hai trường THPT thủ đức - Pdf 32

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã có bước đột phá lớn. GDP hàng
năm liên tục tăng nhanh tạo ra sự chuyến biến nhanh chóng về tất cả mọi mặt trong đời
sống của con người Việt Nam. Bên cạnh những mặt tích cực mà nền kinh tế mới đem lại
thì chúng ta cũng phải nhìn nhận thêm một số mặt hạn chế còn tồn tại và có xu hướng
ngày càng gia tăng. Đó là sự tác động của kinh tế đến đời sống tình cảm, tâm lý của con
người đặc biệt là giới trẻ mà trong đó điển hình là trẻ thanh niên – học sinh trung học phổ
thông (HS THPT).
Chúng ta đều biết rằng các em HS THPT là lứa tuổi có chuyến tiếp từ trẻ con sang
người lớn cho nên các em có sự thay đổi rất lớn về sinh lý, nhận thức và cảm xúc. Trong
cuộc sống từ sinh hoạt gia đình đến việc học ở trường và hoạt động ngoài xã hội các em
luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề khúc mắc, tình huống bất ngờ như: áp lực học tập, bố
mẹ la rầy, hay bị thầy cô bạn bè xa lánh, lúng túng về tâm sinh lý, tình yêu tuổi học trò, các
em đứng trước ngã ba đường chọn lối rẽ vào đời…mà không biết cách nhìn nhận và giải
quyết như thế nào cho hợp lý. Nhưng hầu hết ở các trường phổ thông đều chưa quan tâm,
hoặc có chăng cũng chỉ là những con số ít ỏi chưa đáp ứng đủ nhu cầu của đông đảo HS
THPT trên địa bàn TP.HCM.
Do đó, các nhà tâm lý học đều cho đây là một trong những giai đoạn khủng hoảng và
khó khăn trong cuộc đời của mỗi người. Với các bậc phụ huynh cũng cảm thấy bế tắc trong
việc giáo dục con cái ở độ tuổi này.
Theo cô Phan Thanh Minh làm việc tại Sở Thương Binh xã hội và Lao động TP. HCM
cho biết thì : Hiện tại thành phố có 9 trường THPT đã có phòng tư vấn học đường, tuy mô
hình tư vấn học đường mới được áp dụng ở một số trường với thời gian hoạt động chưa lâu
nhưng tính hiệu quả của nó thì được biểu hiện khá rõ rệt. Điển hình như: Trường Mari
Cuire, trong vài năm trở lại đây, cũng thực hiện dự án tư vấn học đường. Theo một nhân
viên tư vấn, số HS đến với văn phòng khá tương đối. Có ngày gần 20 em.1
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng: việc mở ra và nhân rộng mô hình phòng tư vấn học
đường trong các trường học, đặc biệt trong các trường THPT là rất cần thiết, góp phần giúp
1


tính tích cực, cũng như tính cần thiết của việc mở các văn phòng tư vấn học đường trong
các nhà trường.
- Đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng một mô hình tư vấn học đường đem
lại hiệu quả cao nhất.

2


3.Đối tượng nghiên cứu:
-Đối tượng nhiên cứu: Thực trạng về công tác tư vấn học đường tại hai trường THPT
Mạc Đỉnh Chi và THPT Thủ Đức-TP.HCM.
-Khách thể nghiên cứu: học sinh, phụ huynh.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Khi thực hiện đề tài này chúng tôi đã chọn phương pháp nghiên cứu chủ yếu cho đề tài
của mình là dùng phương pháp nghiên cứu định tính và phân tich dữ liệu sẵn có. Với
những công việc cụ thể như sau:
- Phỏng vấn sâu: 15 cuộc trong đó có 11 cuộc dành cho đối tượng là học sinh, 2 giáo
viên, 2 phụ huynh.
- Phương pháp lấy mẫu: thuận tiện.
- Phân tích dữ liệu sẵn có: chủ yếu là thu thập dữ liệu trên: sách, báo, internet.
5. Phạm vi nghiên cứu:
-Địa bàn: trường THPT Mạc Đĩnh Chi (Quận 6 –TPHCM) và trường THPT Thủ Đức
(Quận Thủ Đức – TP.HCM).
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Tư vấn học đường là vấn đề không còn xa lạ với các nước phát triển nhưng ở Việt Nam,
đây còn là một vấn đề nóng bỏng đang nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu và tìm
hiểu từ nhiều phía.
-Trong cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường”, tác giả Nguyễn Thị Oanh (Xuất bản
10/2007) đã cùng các bạn trẻ giải đáp những vấn đề khó khăn trong đời sống gia đình, tình
bạn, tình yêu, học tập và định hướng nghề nghiệp…để giúp các em tự khám phá và làm

“Tham vấn học đường – nhìn từ góc độ giới” của hai tác giả Trần Thị Minh Đức và Đỗ
Hoàng, Tạp chí Tâm lý học, số 11 (11/2006), đây là một bài viết có giá trị xung quanh vấn
đề tham vấn học đường nhìn từ góc độ giới, trong đó tác giả đã chỉ ra những nét khác biệt
cơ bản trong tâm lý của học sinh nam và nữ.
“Tìm hiểu thực trạng và các giải pháp định hướng về nhu cầu tư vấn học đường ở học
sinh THPT trong nội thành TP HCM hiện nay” của tác giả Võ Thị Tích, đã đưa ra thực
trạng chung của nhu cầu tư vấn học đường của học sinh THPT và đề xuất một số giải pháp
định hướng cơ bản.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Thực trạng nhu cầu tư cầu tư vấn học đường
của học sinh THPT tại quận Thủ Đức TP. HCM” của sinh viên Nguyễn Văn Khoan, sinh
viên Khoa Giáo Dục Học, Khóa 2004 – 2008.
4


Các công trình bài viết kể trên là rất có giá trị. Song, các công trình này chỉ mới nêu vấn
đề một cách khái quát, chưa áp dụng một cách rộng rãi trên các phường, quận của TP.
HCM.
Hàng loạt các bài viết nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh nhưng
những dự án giáo dục giới tính ra đời vẫn mờ nhạt. Rất nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn
đề tâm lý giới tính, tâm lý học đường nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề xây
dựng mô hình tư vấn học đường trong trường học. Việc nhận thức về vấn đề tư vấn học
đường cho đến nay vẫn còn nhiều hạn chế. Thế nên qua đề tài này, chúng tôi mong muốn
sẽ đi sâu hơn và bổ sung thêm những khía cạnh mới cho vấn đền tư vấn học đường tại
TPHCM cũng như ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa:
7.1. Ý nghĩa thực tiễn:
- Giúp học sinh nói lên được nhu cầu cấp thiết và quyền lợi của mình về việc đượctư
vấn tâm lý học đường, để giải tỏa những khó khăn, áp lực và “ những điều khó nói”.
- Giúp học sinh, phụ huynh, nhà trường và xã hội hiểu rõ tầm quan trọng của việc xây
dựng, mở rộng và phát triển mô hình tư vấn học đường trong các trường học trên cả nước.

Việt Nam và nước ngoài.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tư vấn là phát biểu ý kiến về những vấn đề được đòi hỏi đến
nhưng không có quyền quyết định (hoạt động tư vấn, cơ quan tư vấn…)”
Theo định nghĩa của các chuyên gia tư vấn thì tư vấn là lắng nghe, phát biểu ý kiến về
những vấn đề hỏi đến nhưng không có quyền quyết định, dựa vào những hoạt động tâm lý
để vạch ra những giải pháp giúp khách hàng tự quyết định.
Còn trong cuốn Dictionary of Psychology của tác giả Adrew M.Colman xuất bản năm
2001 có định nghĩa về “Tư vấn” như sau: “Tư vấn là việc áp dụng các lý thuyết tâm lý và
các kỹ năng giao tiếp để giải quyết các vấn đề, các nỗi lo lắng hay các nguyện vọng cá
nhân của khách hàng. Một hình thức tư vấn đều bao gồm việc cho lời khuyên, bản chất cơ
bản nhất là tạo ra sự dễ chịu mà không cần đưa ra các hướng dẫn mang tính áp đặt. Các
nhà tư vấn làm việc vói các cá nhân, các cặp vợ chồng và các gia đình trong các môi
trường khác nhau: văn phòng tư vấn, phòng khám bệnh đa khoa, các tổ chức giáo dục, các
tổ chức thương mại và nhà riêng.”2
Như vậy từ một số định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu ở một góc độ nào đó thì tư vấn
là việc làm mà trong đó nhà tư vấn tìm hiểu các vấn đề khúc mắc,những khó khăn mà
khách hàng đang gặp phải để từ đó nhận định, đánh giá, phân tích và đưa ra những lời
khuyên bổ ích nhất giúp thân chủ giải quyết tốt khó khăn của mình.
Trong khi đó, tư vấn học đường là “tư vấn cho hóc sinh và nơi tư vấn là một nơi nào đó
ở ngay trong trường các em học chứ không thể ở ngoài trường học” – Theo N.S.U.T Lê
Minh Nga, “Nhu cầu tư vấn học đường ở các trường PTTH ở TP. HCM hiện nay”, Kỷ yếu
hội thảo khoa học, TP.HCM 09/2003. Nội dung của tư vấn học đường là tất cả những băn
khoăn, thắc mắc của bản thân mỗi học sinh xảy ra trong đời sống tình cảm của các
em.Ngoài ra, khó khăn trong học tập và một số lịch vực khác cũng là nội dung của tư vấn
2

Dictionary of Psychology, Adrew M.Colman, năm 2001

7



8


Bên cạnh đó là sự tự đánh giá về những phẩm chất đạo đức của bản thân. Các em tự
hành động theo hai cách: Có em tự nhận những nhiệm vụ khó khăn và cố gắng hòan thành
nó để tự thể hiện tinh thần trách nhiệm và năng lực của mình mặc dù các em còn rất ít kinh
nghiệm sống. Có em thường đánh giá mình bằng cách ngầm so sánh với những người xung
quanh nhất là người mà họ ngưỡng mộ.
Đôi khi thanh niên tự quan sát, tự phán xét về bản thân. Điều này thể hiện rõ trong việc
ghi nhật ký của các em. Nội dung nhật ký cho thấy các em khá khắt khe với bản thân, có
khi là tự xỉ vả, hối hận về hành vi sai trái nào đó của mình.
Song song với sự phát triển của sự tự ý thức, tự đáng giá thì tính tự trọng ở tuổi này
cũng bắt đầu phát triển mạnh.
1.2.4 Đời sống tình cảm của lứa tuổi THPT:
Lứa tuổi THPT là lứa tuổi có nhiều biến đổi mới trong quá trình phát triển và xã hội hóa
các cảm xúc.
Quan hệ với cha mẹ và bạn bè:
Tình bạn là thứ tình cảm quyến luyến nhất và là giai đoạn tất yếu của quá trình hiểu
biết, cảm thông lẫn nhau. Quan hệ với bạn bè cùng tuổi chiếm vị trí tuyệt đối trong khi
quan hệ với những bạn bè lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn chỉ chiếm một vị trí nhỏ bé. Điều
này chứng tỏ thanh niên khao khát có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống. Còn trong
quan hệ với cha mẹ thì quan hệ phụ thuộc dựa dẫm dần bị thay thế bằng quan hệ bình đẳng
tự lập.
1.3. Các học thuyết liên quan đến Tư vấn học đường được áp dụng trong đề tài
Đại diện cho “Thuyết hành vi” là H. Homans, thuyết này cho rằng: động cơ riêng biệt
của tính cá nhân rất khác nhau nhưng không có vai trò đáng kể đối với sự diễn biến liên tục
của hành vi con người. Như vậy động cơ mang tính chủ quan trong khi đó hành vi diễn ra
đều đặn và thay đổi theo tình huống. Tức là theo một quy luật nào đó “con người chịu sự
tác động bởi yếu tố môi trường, nếu môi trường thay đổi thì thái độ ứng xử của con người

 Thứ ba là, hành động hợp lý về giá trị: có nghĩa là một cá nhân nào đó trước khi
hành động một việc gì đó thì sẽ xem điều đó có giá trị hay không và sẽ hành
động nếu thấy có giá trị và ngược lại thì sẽ không hành động.
 Và cuối cùng là hành động hợp mục đích: con người đề ra mục đích và sẽ nghĩ
xem nên chọn phương thức hành động nào để đạt được mục đích đề ra.
Riêng đối với nhà xã hội học H. Mead thì ông cho rằng: hành động của con người xuất
phát từ mối liên hệ cá nhân. Nghĩa là cá nhân con người muốn trưởng thành trong xã hội là
10


phải thông qua sự tương tác với các cá nhân khác (chế ngự phần con, phát triển hoàn thiện
phần người) “con người trở thành cá nhân tự phát triển như thế nào thông qua sự tương
tác với các cá nhân khác”.Vì vậy vấn đề giáo dục con người đặc biệt đối tượng trẻ thanh
niên rất là quan trọng.
Từ việc áp dụng hai thuyết nói trên cho chúng ta có một cách nhìn toàn diện về tâm lý
của con người đặc biệt là tâm lý của trẻ thanh niên từ 15 – 18 tuổi đây được xem là lứa
tuổi chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn nên tâm lý của các em rất là phức tạp và hành
động chủ yếu theo cảm tính của bản dễ bị kích động đặc biệt các em rất dễ bị xúc động khi
nhận được sự quan tâm từ người khác và ngược lại các em rất dễ bị tổn thương khi có ai
đó động chạm tới “cái tôi” của mình.
Diễn biến tâm lý được đan xen và chịu tác động của hàng loạt các yếu tố khác nhau từ
những yếu tố nằm bên trong bản thân mỗi cá nhân như: động cơ, đặc điểm sinh lý… đến
những yếu tố bên ngoài như: môi trường sống, thái độ của bàn bè , áp lực học tập, thái độ
của bố mẹ…Việc áp dụng nội dung học thuyết tiếp cận sẽ góp phần tìm ra nguyên nhân
chính, sâu xa dẫn đến những thay đổi trong tâm lý của các em và phương thức hành động
của học sinh THPT để từ đó đề ra biện pháp tư vấn giúp đở các em trong việc điều chỉnh
hành vi của mình và ổn định tâm lý khi các em gặp những khó khăn khúc mắc không giải
quyết nổi và cũng không biết tỏ cùng ai?
Tâm lý học của trẻ đầu thanh niên cũng cần đặt trong từng hoàn cảnh khác nhau của
mỗi cá nhân khác nhau, có như thế ta mới có thể hiểu cặn kẽ nhất về tâm lý, khúc mắc của

Trong đề tài này, chúng tôi muốn đề cập đến một trong nhưng nhu cầu thiết yếu của con
người mà đặc biệt là độ tuổi thanh thiếu niên – học sinh THPT đó là nhu cầu tư vấn tâm
lý.Đây là nhu cầu xã hội được nảy sinh khi con người cảm thấy cần được tư vấn, giúp đỡ
nếu tâm lý xảy ra những vấn đề khúc mắc mà bản thân người đó không thể tự giải quyết
được. Nhu cầu tư vấn tâm lý rất cần thiết cho cuộc sống nhất là trong xã hội ngày nay khi
mà con người luôn phải đứng trước những khó khăn trong cuộc sống dẫn đến sự rối nhiễu
tâm lý như mâu thuẫn trong cuộc sống, áp lực học tập, gia đình không hạnh phúc, vỡ mộng
về tình yêu, bạn bè thầy cô xa lánh…. Con người luôn có nhu cầu được giải tỏa, được cảm
thông, thấu hiểu và chia sẻ để từ đó lấy lại sự thăng bằng về tình cảm, ổn định tâm lý và tái
tạo lại sức lao động và học tập. Nhu cầu tư vấn học đường ngày càng đa dạng và phong
phú với nhiều hình thức, nội dung khác nhau.

12


Chương 2: Tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
2.1. Nhu cầu tư vấn học đường của học sinh THPT
Ở Việt Nam, chưa thấy công bố những thống kê đầy đủ về tình hình tự tử, trầm cảm ở
mọi lứa tuổi nói chung và tự tử ở tuổi dậy thì nói riêng. Nhưng hiện tượng trầm cảm, khủng
hoảng và dẫn đến những hành vi thiếu suy nghĩ của HS được báo chí nêu lên là rất đáng lo
ngại. Việc khắc phục hậu quả sau những hành vi nông nổi của các em không phải là yếu tố
quyết định mà yếu tố quyết định chính là tìm ra những nguyên nhân và cách phòng tránh
những hành vi này xảy ra ở các em.
Theo bác sĩ Phạm Anh Tuấn, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương cho
biết: 90% trẻ vị thành niên tự tử vì cảm thấy không được gia đình thấu hiểu.4 “Theo một số
nghiên cứu gần đây, ở các nước phát triển, cứ 10 học sinh thì có một trẻ bị rối nhiễu tâm lý.
Tại Việt Nam, đây là một vấn đề rất đáng quan tâm trong học đường.”5
Theo chuyên gia tư vấn thuộc Trung tâm Tư vấn học đường tại TP.HCM - Chuyên
viên Nguyễn Hồng Sơn - thì: "Đối với trẻ vị thành niên, có thể bị mất thăng bằng bởi chính
những điều tưởng như vặt vãnh ấy nếu không được những người xung quanh quan tâm,

nhà trường có liên quan đến trạng thái tinh thần, tâm lý của học. Và HS thường là nạn nhân
của sự bất ổn đó.6
2.2. Vai trò của tư vấn học đường (TVHĐ), nhân viên xã hội (NVXH) và tư vấn
viên (TVV):
2.2.1 Vai trò của TVHĐ:
Tư vấn học đường: là hoạt động tương tác giữa nhà tư vấn và thân chủ (có cả gia đình
thân chủ) nhằm hỗ trợ, gúp đỡ thân chủ giải quyết những khó khăn trong nhận thức, cảm
xúc và hành vi. Qua đó, phát triển nhân cách, định hướng nghề nghiệp, cách sống lành
mạnh và những vấn đề khác thuộc các rối lọan cảm xúc và nhân cách.7
"Phòng TV là chỗ dựa của học sinh", là ý kiến của nhiều trường. Đến nay có trên 5.000
HS tìm đến phòng tư vấn và trên 6.000 lượt HS được TVTL.( Theo Phunhuan.net). Khi các
em tìm đến phòng TVHĐ và được thầy cô tư vấn thì chính các em trở thành những người
chủ động trò chuyện chia sẻ chuyện của mình với giáo viên. Như vậy các em không còn
tránh né thầy cô như có thể xảy ra, chắc cũng không còn sự sợ hãi khi được gọi đến. "HS tự
nguyện tìm đến TVV".
Tại buổi hội thảo"Tư vấn tâm lý - giáo dục - thực tiễn và định hướng phát triển" tổ chức
tại TPHCM , TS Mai Ngọc Luông đã nhấn mạnh: "Chính trong những biến đổi của cuộc
sống đang thay đổi với tốc độ quá nhanh, HS cần được tư vấn về cách nhìn, thái độ tích cực
đối với cuộc sống để nhạy bén, sắc sảo và năng nổ trong tư duy cũng như trong chính
những hoạt động học tập rèn luyện kiến thức và kỹ năng. Nếu không, các em sẽ mất
phương hướng, không đủ sức vươn lên để chọn lựa một ngành nghề phù hợp với yêu cầu

6

Vietnamnet.com.vn

7

Ngô Minh Huy, Hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh, sinh viên”, 18-12-2007.


Mặc dù một số trường đã có phòng tư vấn học đường nhưng phương pháp và cách thức
hoạt động của các phòng tư vấn vẫn mắc phải sai sót, không làm tròn làm đúng với vai trò
của mình và đôi khi đi ngược lại sự mong đợi của học, phụ huynh và những người lập ra
phòng tư vấn.

10

Theo báo Tuổi Trẻ, 26/02/2006.

16


Sau đây là mô hình truyền thống của các trường THPT đã và đang áp dụng.
Học sinh có vấn đề  chia sẻ với ban cán sự lớp



 Gặp cô giáo chủ nhiệm

Đưa lên gặp Ban Giám hiệu  Gặp phụ huynh  Nhắc nhở, trách mắng học

sinh  Học sinh chán nản

 Vấn nạn học đường ( không muốn tâm sự, trầm

cảm, tự tử…

Đưa về gia đình
Mô hình 1:


ngang bướng khiến giáo viên phải dung biện pháp là đưa các em này lên gặp Ban Giám
Hiệu (BGH). Sau đó BGH lại mời phụ huynh của các em lên thay vì để tìm ra nguyên nhân
và cách điều chỉnh hành vi của các em, thì BGH lại liệt kê tất cả các tội mà các em đã mắc
phải trong nhà trường và quy trách nhiệm cho phụ huynh.
- Có nhiều phụ huynh khi biết được con cái học hành sa sút, bị sự khiển trách của nhà
trường thì tỏ ra tức giận trách phạt và lại đỗ mọi lỗi là do các em gây ra. Chính vì vậy mà
HS tỏ ra chán nản, mất niềm tin, trầm cảm,…
 Mặc dù còn nhiều hạn chế như vậy, nhưng mô hình này vẫn được duy trì ở nhiều
trường hiện nay. Bởi vì:
- Vấn đề TVHĐ chưa được quan tâm đúng mức, nhiều trường vẫn chưa đủ điều kiện
kinh phí và nguồn nhân lực để đáp ứng cho nhu cầu được tư vấn của HS. Chính vì vậy mà
các trường áp dụng mô hình trên vì nó đơn giản và ít tốn chi phí.
- Có nhiều trường quan tâm đến việc TVHĐ cho học sinh và tin tưởng, tận dụng đội
ngũ giáo viên sẵn có trong trường để làm công tác tư vấn cho HS. Mặc dù đội ngũ giáo
viên trong các trường chỉ có trình độ chuyên môn sư phạm chứ chưa có điều kiện để tham
gia vào các lớp tập huấn về tâm lý học đường.
2.4. Nguyên nhân của sự tồn tại hiện tượng này
Mặc dù Bộ GD-ĐT đã có quyết định đưa vị trí chuyên viên tư vấn học đường vào biên
chế chính thức. Nhưng hiện nay ở các trường vẫn có "khoảng trống" tư vấn học đường.
Nạn tự tử của học sinh THPT tại TP.HCM là kết quả của"khoảng trống" trong nhà trường:
tư vấn học đường. Người ta chỉ quan tâm đến việc”dạy chữ”, luyện học sinh giỏi để lập
thành tích này nọ, không ai quan tâm đến việc “dạy làm người”.
Lý do là hoạt động tư vấn học đường chưa được quy định trong điều lệ trường phổ
thông. Nhiều trường chưa có nguồn kinh phí để tổ chức.

18


Nhiều trường trung học ở TPHCM đã quan tâm đến công tác tư vấn tâm lý học đường.
Thế nhưng các em học sinh vẫn ngần ngại trong việc chia sẻ với chuyên viên tư vấn về


Qua đó thấy rằng cùng một lúc nhưng HS phải chịu áp lực từ khá nhiều phía vì vậy các
em cần có nơi để giải bày, chia sẽ những vấn đề mà các em đang gặp phải. Chính vì thế
6/6 HS được phỏng vấn đều trả lời là các em mong muốn có một phòng TVHĐ trong
trường của mình.
Học sinh trong trường không biết chia sẻ cùng ai những khó khăn mình đang gặp phải.
Một HS tâm sự: “Bạn bè thì mình nói với nó cũng như không, vì nó cũng như mình. Tụi
em gặp áp lực mà nói với ba, mẹ thì ba, mẹ còn chửi thêm.”
Học sinh THPT Thủ Đức đang bước vào kỳ thi cuối kỳ đầy căng thẳng cùng với việc
phải đối mặt với hàng loạt những tác động từ đời sống tinh cảm, khiến nhiều lúc các em
cảm thấy mất thăng bằng, không biết giải quyết sao cho hợp lý mọi việc. HS rất muốn
được trò chuyện, tâm sự với những người biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các em,
khi các em cảm thấy nhận được sự cảm thông từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè. Có đến
4/6 HS có nhu cầu được tư vấn bởi nhà tâm lý (NTL) hoặc nhân viên xã hội (NVXH).
- Kết quả: HS chịu áp lực từ nhà trường, gia đình, bạn bè,…Nhưng không biết chia sẻ
cùng ai. Tuy có bạn bè là dễ tâm sự nhất nhưng bạn bè không có cách giải quyết hợp lý
nhất, chỉ là chia sẻ vượt qua những khó khăn tạm thời. Chính vì vậy các HS rất ngại khi
tiếp xúc trò chuyện và bộc bạch với mọi người vì sợ thầy, cô; sợ ba, mẹ, và không muốn
làm phiền bạn các em tự giải quyết vấn đề của mình theo cảm tính, suy nghĩ của bản thân.
2.5.2 Tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi:
Trường THPT Mạc Đĩnh Chi (Q.6) mở phòng tư vấn học đường vào cuối học kỳ 1, năm
học 2005-2006. Ngoài việc hướng nghiệp, phòng tư vấn kiêm luôn việc tư vấn tâm lý cho
HS, phụ huynh và cả giáo viên (GV). Nhiều cựu HS vẫn tìm đến đây khi gặp “vấn đề”.
Qua 2 năm hoạt động, phòng tư vấn học đường của Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Q.6 TPHCM, đã đón gần 200 học sinh đến tư vấn. Con số này chưa nhiều so với hơn 3.000 học
sinh của trường nhưng những kết quả đạt được ở đây rất đáng khích lệ11.
Đã 2 năm nay, cứ đến thứ ba, thứ năm mỗi tuần là cô Lao Thị Thu Cúc và anh Nguyễn
Văn Hòa, hai chuyên viên tư vấn của Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, lại có mặt ở phòng làm
việc của mình. Phòng chỉ rộng chừng 10 m2 nhưng nhiều lúc cả hai chuyên viên tư vấn

11

bạch tâm sự của mình. Khi được hỏi về thái độ làm việc của nhân viên tư vấn một HS nữ
của trường cho biết: “Cô cũng biết nhiều thứ nên em cứ thỏai mái, có gì cũng bộc bạch
hết”. Còn em khác cho rằng:
“Dạ, cô cũng gần gũi, niềm nở lắm. Có chuyện em khó nói với ba mẹ, bạn bè nhưng
nói với cô thì thấy dễ chịu hơn, thoải mái hơn”. Cô Thu Cúc tư vấn rất ân cần với HS (ảnh)
Tất cả HS được phỏng vấn đều cho rằng TVHĐ là một yếu tố cần thiết trong nhà trường.
21


- Kết quả:
Bà Phùng Thị Nguyệt Thu,
Hiệu phó Trường THPT Mạc
Đĩnh Chi (TPHCM), nói nhờ có
hoạt động tư vấn mà các em biết
đối nhân xử thế, có trách nhiệm
đối với gia đình, bản thân, nhà
trường tốt hơn so với trước đây
rất nhiều. (Huy Lân – báo Người
Lao Động). Nhờ trong trường có
phòng TVHĐ mà khoảng cách
giữa giáo viên và HS ngày càng

Tư vấn viên trước hết là người bạn lớn của học sinh :

được thu hẹp. Ngoài ra phòng (ha. Hà Thanh)
TVHĐ giúp nhà trường có thêm kênh thông tin về những giáo viên của trường từ những
phản ánh của các HS. Qua đó nhà trường có cách khắc phục, chỉnh đốn đội ngũ giáo viên
để có thể có thể giáo dục HS bằng chính nhân cách và ý thức của giáo viên, muốn HS thực
hiện tốt điều gì thì chính giáo viên phải là tấm gương thực hiện những điều đó.
Trường Mạc Đĩnh Chi tuy số lượng HS tìm đến phòng TVHĐ ít. Song các em đều được



Chương 3: Kết luận và khuyến nghị
Giúp đỡ HS vượt qua những khó khăn không phải là việc riêng của phòng tư vấn học
đường mà cần phải có sự phối hợp giúp đỡ từ nhiều phía. Đặc biệt là từ hai môi trường gia
đình và trường học.
3.1. Từ phía gia đình
Các bậc cha mẹ đừng vội hốt hoảng khi thấy con cái có những biểu hiện bất thường.
Hãy lắng nghe ý kiến của chúng, đừng vội phản đối, tôn trọng ý kiến của các em. Không có
gì khó chịu hơn đối với các em là bị áp đặt một lối sống do người lớn đặt ra. Ngược lại, sự
quan tâm quá mức của cha mẹ cũng làm cho các em cảm thấy gò bó vì quá trình hình thành
nhân cách đang trong giai đoạn biến động và chính các em cũng chưa hiểu nổi mình.
Gần gũi, lắng nghe, không chủ quan khi phát hiện thấy những suy nghĩ bất thường ở
con cái. Đặt mình vào lứa tuổi của con để hiểu, chia sẻ và cảm thông với những áp lực và
suy nghĩ của con.
3.2.Từ phía nhà trường
Trường học là nơi có điều kiện để điều chỉnh các suy nghĩ sai lầm của trẻ vị thành niên
tốt nhất. Môi trường văn hoá học đường cần đổi mới chương trình, cách dạy, cách học theo
hướng coi trọng thực học, kích thích hứng thú, sáng tạo của học sinh. Bên cạnh đó, không
chỉ chú trọng đến việc "dạy chữ" mà phải "tạo" nên những con người cân đối về thể chất
và tinh thần; cân bằng về trí tuệ, tình cảm và ý chí; có kỹ năng tự đánh giá, tự giáo dục tu
dưỡng, tự điều chỉnh hành vi thích ứng với hoàn cảnh và tự giải quyết những vấn đề của cá
nhân một cách tích cực.
Tìm đến các nhà tư vấn để tham khảo và tìm cách tháo gỡ những vấn đề tâm lý mà trẻ
gặp phải. Phải biết tôn trọng con trẻ, phải coi chúng là một cá thể độc lập; giúp trẻ tự tin, tự
lập, có lối sống trung thực, lành mạnh thông qua bầu không khí tâm lý tích cực trong gia
đình: Thương yêu, tin cậy, quan tâm lẫn nhau, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người thân để vượt
qua những thời điểm khó khăn, nhất là khi trẻ có dấu hiệu bất thường.
Người TVV không chỉ có thể là nhà tâm lý hay nhân viên xã hội, mà cũng có thể là
những thầy cô trong các trường đã được học tập và huấn luyện, có chuyên môn và hiểu

bày tỏ, tâm sự những khó khăn; đưa ra cách giải quyết hợp lý.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status