Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ THÚY NGÂN

VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ THÚY NGÂN

VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:

60 22 85


trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì.................................................... 43
2.2.1. Những thành tựu của đội ngũ giảng viên trong việc đào tạo

nguồn nhân lực ........................................................................................ 43
2.2.2. Những hạn chế của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực ...... 54
2.2.3. Nguyên nhân của những thực trạng trên ................................................ 59
2.3. Giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn

nhân lực các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì ............................. 63
2.3.1. Nhóm giải pháp từ lãnh đạo quản lý phát huy dân chủ của các trường ....... 6
2.3.2. Nhóm giải pháp từ đội ngũ giảng viên................................................... 71
2.3.3. Nhóm giải pháp từ học sinh, sinh viên .................................................. 79
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 87
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 92


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH

:

Công nghiệp hóa

CNXH

:


Bảng 2.2: Đội ngũ giảng viên Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm ..................... 35
Bảng 2.3: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ ............. 38
Bảng 2.4: Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ ..... 39
Bảng 2.5: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Dược Phú Thọ ................................. 41
Bảng 2.6: Đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ ........................... 42
Bảng 2.7. Cơ cấu ĐNGV theo tuổi của các trường cao đẳng ở Thành phố
Việt Trì ............................................................................................. 45
Bảng 2.8: Cơ cấu trình độ (Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ) ...................................... 47
Bảng 2.9: Chi trả tiền vượt giờ tiêu chuẩn của giảng viên .................................. 68


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Hiện nay, đầu tư
cho nguồn lực con người thông qua hoạt động giáo dục - đào tạo được xem là
một trong những hướng đầu tư có hiệu quả và quyết định tới khả năng tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Đây là cội nguồn cho những
bước đột phá, tạo nên những bước tiến trong tương lai.
Để có thể tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là khi
nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức, với nhiều thuận lợi, khó khăn và thách thức phải
vượt qua. Để đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững của toàn xã hội chúng ta cũng
cần có những chiến lược đầu tư phát triển NNL và giáo dục - đào tạo là một hướng
đi cần thiết. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định: phải phát
triển mạnh giáo dục - đào tạo, coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, lấy
việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững. Tiếp đó Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “phát huy nhân tố con người và
tăng cường nguồn lực con người để từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Đến Đại
hội X Đảng lại nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp tục

một bộ phận nhỏ giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo, một số thiếu năng lực giảng
dạy và tinh thần trách nhiệm. Bên cạnh đó là sự tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường đã làm xói mòn phẩm chất của một số giáo viên gây ảnh hưởng xấu đến
uy tín người thầy trong xã hội”. Chính điều này đã làm hạn chế việc thực hiện vai
trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ giáo viên, và điều này cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trong giáo dục hiện nay đó là: nhiều học
sinh - sinh viên lệch lạc về kiến thức, thiếu sự hiểu biết về các vấn đề chính trị xã hội, và một bộ phận không nhỏ học sinh - sinh viên suy thoái về đạo đức, lối
sống. Phần lớn học sinh - sinh viên sau khi ra trường thiếu khẳ năng tự tìm kiếm
việc làm, chưa vững vàng trước những biến đổi phức tạp của cuộc sống. Có thể
nói chất lượng đào tạo của cấp học này chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu của
cuộc sống đặt ra. Nghị quyết số 29 - NQ/TW “về đổi mới căn bẳn, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa throng điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tê” đã nhận định
những hạn chế.
2


Xuất phát từ nhu cầu về nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có chất
lượng của cả nước nói chung và của Tỉnh Phú Thọ nói riêng. Yêu cầu đặt ra đối
với đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ
ngày càng cao. Đội ngũ giảng viên cần phải làm tốt hơn nữa vai trò của mình
trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phụ vụ cho sự phát triển của
Tỉnh và cho cả nước. Để làm được như vậy đội ngũ giảng viên cần thực hiện tốt
các nhiệm vụ cụ thê: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực
hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục; gương mẫu thực hiện nghĩa
vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm
chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của người học, đối xử
công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học;
không ngừng học tập để nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị, chuyên
môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy.

“Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt nam”, TS Đỗ Minh Cương
và GS.TS Nguyễn Thị Doan - chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001). Ở
đây hai tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm thực trạng và yêu cầu của xã hội đối
với chất lượng nguồn nhân lực trong giáo dục Đại học, Cao đẳng ở nước ta. Từ đó
các tác giả đã khẳng định cần thực hiện đồng bộ những giải pháp nhằm tạo điều
kiện tốt nhất để phát triển nguồn nhân lực ở cả cơ cấu và chất lượng.
“Trí thức giáo dục Đại học Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”
của tác giả Nguyễn Văn Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, (2002). Cuốn sách tập
trung nghiên cứu nội dung xây dựng đội ngũ giáo viên ở các trường Đại học. Tác
giả đã luận giải về quá trình hình thành phát triển cũng như đặc điểm, vai trò, cơ
cấu của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu của giáo dục Đại học trong thời kỳ CNH,
HĐH. Không dừng lại ở đó, tác giả còn bước đầu đưa ra giải pháp nhằm xây
dựng đội ngũ tri thức này.
* Những công trình dưới dạng luận án:
Luận án PTS triết học của tác giả Phan Thanh Khôi (1992): “Động lực của
trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay”, Hà nội. Luận án đã đi sâu
luận giải những chính sách xã hội với tư cách là động lực không chỉ về mặt vật
chất mà cả mặt tinh thần để đội ngũ trí thức lao động sáng tạo ở nước ta có thể
phát huy hơn nữa khả năng, tính tích cực và chủ động nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày
càng cao của thực tiễn đất nước.

4


Luận án Tiến sĩ triết học của Phạm Văn Thanh (2001): “Xây dựng đội ngũ
trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay”, luận
án chủ yếu bàn về đội ngũ giáo viên Mác-Lênin và vai trò của họ trong các
trường Đại học ở nước ta hiện nay.
Luận án Tiến sĩ triết học của Phan Văn Sơn (2000): “Cơ cấu và chất lượng
trí thức giáo dục đại học ở nước ta hiện nay”

đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy vẫn chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu chuyên khảo, hệ thống, trực tiếp bàn về nâng cao vai trò của đội ngũ
giảng viên tại các trường Cao đẳng trên địa bàn cụ thể trong đó có Thành phố
Việt Trì thuộc Tỉnh Phú Thọ. Do đó, trên cơ sở kế thừa những thành quả của các
công trình nghiên cứu khoa học đi trước và đứng ở góc độ chuyên ngành
CNXHKH, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo
nguôn nhân lực các trường Cao đẳng thành phố Việt Trì hiện nay” để làm luận
văn thạc sĩ không trùng lặp với các luận văn, luận án... đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Trên cơ sở làm rõ vai trò thực trạng của đội ngũ giảng viên
trong việc đào tạo nguồn nhân lực các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì
hiện nay, luận văn đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ
giảng viên trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tại các trường Cao đẳng thuộc
Thành phố Việt Trì.
* Nhiệm vụ: Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Luận văn tập trung làm rõ những khái niệm, phân tích vai trò của đội ngũ
giảng viên với tư cách là chủ thể quan trọng của quá trình đào tạo nguồn nhân lực
tại các trường Cao đẳng.
- Đánh giá thực trạng vai trò của đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng
thuộc Thành phố Việt Trì hiện nay.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ
giảng viên tại các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Vai trò đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng thành phố
Việt Trì trong quá trình giáo duc đào tạo nguồn nhân lực.

6





- Về thực tiễn:
Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn để các
trường tham khảo nhằm phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên các trường Đại
học, Cao đẳng
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu
thành 2 chương, 5 tiết:
Chương 1: Đào tạo nguồn nhân lực và vai trò của đội ngũ giảng viên các
trường cao đẳng Thành phố Việt Trì trong đào tạo nguồn nhân lực.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ giảng viên
trong đào tạo nguồn nhân lực trong các trường cao đẳng Thành phố Việt Trì.

8


Chương 1
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ
CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ
VIỆT TRÌ TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực
1.1.1. Nguồn nhân lực
* Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người được coi là một nhân
tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Thuật ngữ NNL được hiểu khá rộng. Cùng với thuật ngữ này còn có một
số thuật ngữ khác cũng được sử dụng rất phổ biến như “nguồn lực con người”,
“nhân tố con người”, “tài nguyên con người”. Những thuật ngữ trên xuất phát từ
thuật ngữ tiếng Anh: Human Resources và đã được dịch ra với những từ ngữ

Các tác giả của chương trình Khoa học - công nghệ cấp Nhà nước, mã số
KX - 07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” do GS. TS KH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng: “NNL (NLCN)
được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần,
sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [29, tr. 328].
GS. TS Hoàng Chí Bảo quan niệm: “NLCN là sự kết hợp thể lực và trí lực,
cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới
phát triển của con người” [3, tr. 14]. Từ quan niệm trên ta thấy, NLCN không chỉ
đơn thuần là sức mạnh thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng
đồng mà nó còn là sức mạnh của một quốc gia được đem ra sử dụng vào quá
trình phát triển xã hội.
Cũng về vấn đề này, PGS. TS Đoàn Văn Khái cho rằng khái niệm “NNL”
ngoài nghĩa rộng được hiểu như “NLCN” theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có
khi còn được hiểu là lực lượng lao động. Tác giả quan niệm: “NLCN là khái
niệm chỉ dân số, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc
điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [34, tr. 62].
PGS. TS Phạm Công Nhất cho rằng: “Nhân tố con người là tổng thể các
yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ
quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được

10


hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai
đoạn lịch sử nhất định” [54, tr. 25].
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội thì: “NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc
gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một
vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội” [8, tr. 13].
Như vậy, từ những quan niệm trên cho thấy có rất nhiều cách tiếp cận về

định nhất.
Ngày nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng
đầu của các quốc gia trên thế giới và một trong những cơ sở quan trọng nhất để
thực hiện chiến lược phát triển đó là NNL. Bởi lịch sử phát triển của xã hội loài
người đã chứng minh, trong mọi giai đoạn con người luôn là yếu tố đóng vai trò
quyết định nhất. Nhận thức rõ tầm quan trọng của NNL trong công cuộc đổi mới
và phát triển đất nước đi lên CNXH, Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh
đến vai trò của NNL, coi NNL là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát
triển nhanh và bền vững.
Theo đó, vai trò của NNL được thể hiện vừa với tư cách là chủ thể vừa với
tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội.
Với tư cách là chủ thể. Trong quan hệ với các nguồn lực tự nhiên và các
nguồn lực khác thì NNL là chủ thể trực tiếp nhất. Các nguồn lực khác tự nó không
thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như là quá trình CNH,
HĐH mà chúng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế xã hội và thực sự trở
thành nguồn lực cho CNH, HĐH khi nó được kết hợp với sức lực và trí tuệ của con
người, thông qua sự tác động, khai thác hợp lý của con người. Hơn nữa, con người
không chỉ quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và
các nguồn lực khác hiện có mà còn góp phần tạo ra các nguồn lực mới.
Trong tất cả các nguồn lực, chỉ duy nhất có NLCN biết tư duy, có trí tuệ và
có ý thức sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo
thành nguồn sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia hay của mỗi cộng đồng. Con người tạo ra nguồn vốn và
nguồn vốn này chỉ trở thành động lực quan trọng, cần thiết khi con người sử dụng
đúng mục đích và có hiệu quả. Tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý cho dù thuận

12


lợi đến đâu thì cũng sẽ không có ý nghĩa khi con người không biết khai thác và
sử dụng nó một cách có hiệu quả.


Con người với trí tuệ của mình có khả năng cải tạo tự nhiên, xã hội và cải
tạo chính bản thân mình. Nói đến trí tuệ con người là nói đến tính vô tận, tính
không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết và khả năng phục hồi, tự tái
sinh ra chính nó, phát huy và tạo ra nguồn lực khác. Tính vô hạn của NNL biểu
hiện ở chỗ nó không chỉ có khả năng tự tái sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi
mới không ngừng, phát triển về chất. Nều biết chăm sóc, bồi dưỡng và khai thác
NNL này một cách hợp lý, có hiệu quả nó sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế
- xã hội và đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH. Bởi trí thức của con
người lấy không bao giờ hết. Có thể nói, con người là nguồn lực quý nhất, quyết
định nhất là nguồn lực của mọi nguồn lực.
Có thế nói, nguồn lực con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển
kinh tế - xã hội, của CNH, HĐH mà nó còn là đối tượng duy nhất mà quá trình
CNH, HĐH phải hướng tới. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người phải
được hưởng ngay những thành quả mà quá trình này đem lại để nâng cao chất
lượng con người, phát triển NNL chứ không phải đợi đến khi thực hiện xong
CNH, HĐH mới đầu tư trở lại cho con người.
Như vậy, có thể thấy NNL là nguồn lực nội tại, cơ bản, tất yếu giữ vị trí
trung tâm trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hôi. Nó vừa
là chủ thể trực tiếp thực hiện, quyết định toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đồng thời bản thân nó cũng là đối tượng được hưởng thụ những thành quả của
chính quá trình đó. Do đó, có thể khẳng định NNL là yếu tố cơ bản đảm bảo cho
sự phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia. Do tầm quan trọng của trí tuệ, trí
thức như vậy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm cách nâng cao
hàm lượng trí tuệ của NNL. Để làm tốt được điều đó thì các biện pháp về giáo
dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng.
1.1.2. Đào tạo nguồn nhân lực
* Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực
Từ thực tế của Việt Nam cũng như từ kinh nghiệm của các quốc gia khác
trong khu vực và trên thế giới cho thấy tầm quan trọng của NNL. Vì vậy, việc

vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội. Đào tạo ở đây
có thể do nhu cầu cá nhân của người được đào tạo hoặc có thể do nhu cầu phát
triển nhân lực của tổ chức, của xã hội. Theo mục đích của người được đào tạo, có
các tiêu chí phân loại như: đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng. Tương ứng với mỗi

15


hình thức đào tạo thì có nội dung, thời gian đào tạo và mức độ đánh giá kết quả
đào tạo là khác nhau có thể là chứng chỉ hay bằng cấp.
Đào tạo NNL là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên
môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ hiệu quả hơn trong công tác của họ. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình hoạt
động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi… của mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể thực
hiện một cách có năng suất và hiệu quả trong lĩnh vực công tác của họ, hoặc để
làm các công việc khác trong tương lai. Về cơ bản, đào tạo NNL là việc giảng
dạy và học tập ở các trường gắn với việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho đối
tượng được đào tạo, để hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng
những nhu cầu phát triển của xã hội trong mỗi giai đoạn cụ thể, thúc đẩy xã hội
phát triển. Tùy mỗi một lĩnh vực khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau,
chương trình đào tạo NNL lại có những mục tiêu và nội dung khác nhau.
Như vậy, có thể thấy đào tạo NNL là quá trình thúc đẩy phát triển yếu tố
con người, trí thức, phát triển các kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc
đẩy sáng tạo khoa học - công nghệ, đảm bảo cho sự vận động tích cực của các
lĩnh vực và toàn xã hội. Quá trình đào tạo làm biến đổi NNL, khơi dậy những
tiềm năng của con người, phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân
cách, phát triển cả về năng lực vật chất và tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng
cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
nhân lực cho CNH, HĐH đất nước.

Đào tạo nghề: đây là một hình thức đào tạo cơ bản nhằm bổ sung NNL cho
phát triển đất nước. Theo quy định của Luật Giáo dục “dạy nghề dành cho người
có trình độ học vấn và có sức khỏe phù hợp với nghề cần học, được thực hiện
dưới một năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn, từ một đến ba năm
đối với chương trình dạy nghề dài hạn”. Theo phê duyệt quy hoạch mạng lưới
trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số
48/2002/QĐ-TTG ngày 11/4/2002. Quy định trình độ đào tạo gồm: bán lành
nghề, lành nghề, trình độ cao. Nội dung đào tạo là tập hợp hệ thống các kiến thức
về văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, các kỹ năng và kỹ xảo lao động, các
chuấn mực về giá trị đạo đức, tư tưởng, nhận thức để đảm bảo sự phát triển toàn
diện nhân cách. Trong đó kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề là phần cơ bản của nội
dung đào tạo, về phương pháp đào tạo, đào tạo theo modul là một biện pháp để

17


mềm hóa quá trình đào tạo, làm cho việc đào tạo trở nên linh hoạt, đáp ứng tốt
hơn cho nhu cầu của người học và người sử dụng lao động.
- Giáo dục đại học
Đào tạo cao đẳng là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo
quốc dân có nhiệm vụ trang bị các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp gần tương
đương trình độ đại học xong nghiêng về khả năng thực hành (kỹ sư thực hành).
Sau khi ra trường người học có thể đảm nhận thực hiện công việc chuyên môn nghiệp vụ ở phạm vi nhất định, kể cả công việc trực tiếp quản lý, chỉ đạo trên các
công đoạn sản xuất kinh doanh [63, tr. 186].
Đào tạo đại học là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo quốc
dân có nhiệm vụ đào tạo kiến thức, kỹ năng cao thuộc nghề nghiệp nhất định
trong các trường đại học. Sau khi ra trường người học có khả năng thực hiện các
công việc chuyên môn kỹ thuật phức tap, có khả năng nghiên cứu, quản lý một
lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật nhất định [63, tr. 186-187].
Mục tiêu chung của đào tạo cao đẳng, đại học là đào tạo nguồn nhân lực có

cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn.
Có thể nói, mỗi một bậc học khác nhau lại có đối tượng, mục tiêu, nội
dung, phương pháp đào tạo khác nhau nhưng mục tiêu chung lại là nhằm đào tạo
NNL, bổ sung NNL có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
1.2. Vai trò của đội ngũ giảng viên trong việc đào tạo nguồn nhân lực
1.2.1. Khái niệm đội ngũ giảng viên
Khái niệm đội ngũ thường được dùng để chỉ các tổ chức xã hội một cách
rộng rã như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên, đội ngũ giáo viên… đó là
những tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng có cùng nghề
nghiệp.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “đội ngũ là một tập hợp người gắn kết với
nhau cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và
hoạt động theo một nguyên tắc” [5, tr. 6].
Đề cập đến vấn đề này tác giả Trần Thanh Giang cho rằng: “đội ngũ được
hiểu là tập hợp những người có đặc điểm hoạt động, chức năng riêng được tổ
chức thành một lực lượng xã hội” [28, tr. 16].
Từ những quan niệm trên cho thấy, mặc dù với những cách diễn đạt khác
nhau nhưng tất cả những quan niệm đó đều nhấn mạnh đến những đặc trưng cơ

19


bản của đội ngũ đó là: một nhóm người (xã hội) được tổ chức và tập hợp thành
một lực lượng để cùng thực hiện những chức năng của một nghề, có cùng chung
mục đích và cùng hướng tới mục đích đó.
Khái niệm giảng viên, theo Chương IV, mục 1, điều 70 Luật Giáo dục
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (14/ 6/ 2005) nêu rõ: “nhà giáo là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo
dục khác. Nhà giáo phải có những tính chất sau: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status