MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Polyme compozit (PC) là loại vật liệu có nhiều tính năng ƣu
việt nhƣ nhẹ, modun đàn hồi cao, không mối mọt, bền trong môi
trƣờng hóa chất, chống mài mòn tốt và năng suất gia công cao…
Do đó, vật liệu PC nói chung và vật liệu PC sử dụng nền nhựa
nhiệt rắn epoxy nói riêng ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi để thay
thế dần những vật liệu truyền thống. Tuy nhiên, một nhƣợc điểm
của dòng vật liệu này là tƣơng đối dòn, có độ bền dai không cao,
nếu sử dụng cho các kết cấu chịu lực cao có thể dễ xẩy ra sự cố.
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu nâng cao độ bền dai của
compozit nền epoxy gia cường bằng sợi thuỷ tinh và sợi cacbon”
là một công trình khoa học cần thiết góp phần mở rộng phạm vi
ứng dụng của dòng vật liệu này.
Mục tiêu của luận án
Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit nền nhựa epoxy gia
cƣờng bằng sợi thủy tinh và sợi cacbon có độ bền dai cao, sử dụng
chất biến tính laccol- một phenol sơn tự nhiên có sẵn ở Việt Nam
với nhánh phụ dài không no và oligome dầu lanh epoxy hóa
(OELO)
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Tổng hợp xyanetyldietylentriamin (XEDETA) làm chất đóng
rắn cho nhựa epoxy Epikote 828 và xác định các ƣu điểm nổi
bật của XEDETA so với DETA.
2. Tổng hợp nhựa EP-LC làm chất tăng dai cho nhựa epoxy
Epikote 828.
3. Nghiên cứu ảnh hƣởng của laccol- một phenol sơn tự nhiên sẵn
có ở Việt Nam đến khả năng dai hóa của nhựa epoxy Epikote
828.
1
trình này khác ở chỗ oligome dầu lanh epoxy hóa trƣớc, sau đó
mới đƣa vào tổ hợp vật liệu compozit.
2
Đã chế tạo đƣợc 4 loại compozit gia cƣờng bằng sợi thủy
tinh và sợi cacbon có độ bền dai cao, sử dụng tác nhân tăng dai là
laccol và oligome dầu lanh epoxy hóa (OELO).
Cấu trúc luận án
Luận án gồm có 3 phần chính, phần 1: Tổng quan; phần 2:
Thực nghiệm; phần 3: Kết quả và thảo luận. Ngoài ra còn có phần
kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Toàn bộ nội dung luận án
đƣợc trình bày trong 125 trang, trong đó có 15 bảng, 90 hình và đồ
thị, 117 tài liệu tham khảo. Phần lớn kết quả của luận án đã đƣợc
công bố với 7 bài báo khoa học trong nƣớc và nƣớc ngoài.
1.
TỔNG QUAN
Polyme compozit trên cơ sở nhựa epoxy gia cƣờng bằng sợi
thủy tinh và sợi cacbon là vật liệu quan trọng đƣợc ứng dụng rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong công nghiệp ôtô, máy
bay… Sự ra đời vật liệu compozit là cuộc cách mạng về vật liệu
nhằm thay thế cho vật liệu truyền thống ở những mục đích khác
nhau. Vật liệu truyền thống có một số nhƣợc điểm nhƣ: nặng (bê
tông, gạch, sắt thép…), dễ vở (sành, sứ), mối mọt (gỗ)…Với những
nhƣợc điểm này đã làm hạn chế trong việc sử dụng và cần tìm loại
vật liệu khác thay thế. Do vậy, với những ƣu điểm nổi bật của mình,
vật liệu compozit có thể khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của vật
liệu truyền thống.
Tuy nhiên, vật liệu compozit trên cơ sở nhựa epoxy có
thủy ngân với dung dịch phản ứng HCl/dioxan.
Sắc ký khí xác định trên máy sắc ký Model 7890A GC,
Agilent Technologies (Hoa Kỳ).
Phân tích cơ nhiệt động (Dynamic Mechanical Thermal
Analyzer - DMTA) đƣợc xác định trên máy DMA 8000
Perkin Elmer.
Xác định khối lƣợng phân tử trên máy Shimadzu CLASS-VP
V6.14 SP1(Nhật Bản) tại Khoa Hóa học, Trƣờng Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4
Hình thái cấu trúc của mẫu đƣợc quan sát trên kính hiển vi
điện tử quét (SEM) JEOL JSM 6360LV (Nhật Bản).
Các tính chất cơ học nhƣ kéo, uốn đƣợc xác định trên máy
INSTRON 5582-100 KN (Hoa Kỳ), độ bền va đập Izod đƣợc
xác định trên máy Tinius Olsen (Hoa Kỳ).
Độ bền dai phá hủy của nhựa nền đƣợc xác định theo tiêu
chuẩn ASTM D5045-99 theo phƣơng pháp uốn ba điểm có
khía trên máy LLoyd 500 N (Anh).
Độ bền dai phá hủy tách lớp của vật liệu compozit đƣợc xác
định theo tiêu chuẩn ASTM D 5528-01. Phép thử đƣợc thực
hiện trên máy Lloyd 500 N (Anh) với tốc độ kéo tách lớp
2mm/phút.
Phƣơng pháp chế tạo vật liệu polyme compozit: Tất cả các
mẫu compozit đều đƣợc chế tạo theo phƣơng pháp lăn ép bằng
tay, với tỷ lệ nhựa/sợi = 40/60. Sau 2 tuần đóng rắn hoàn toàn
và đem đi xác định các tính chất cơ học.
3.
Độ hút ẩm của DETA và XEDETA đƣợc khảo sát ở ba độ
ẩm khác nhau nhờ các dung dịch muối KNO3, KCl và NaCl bão
hòa tƣơng ứng với các độ ẩm 95%, 86% và 75%. Kết quả nhận
đƣợc trình bày ở hình 3.2.
6
24
Độ ẩm 95%
12
DETA
XEDETA
8
8
4
0
0
1
2
3
4
Thời gian (giờ)
Độ tăng khối lượng (%)
20
16
Độ ẩm 75%
XEDETA
12
8
4
0
0
1
2
3
4
5
6
0
Bảng 3.2: Thời gian gel hóa của một số loại nhựa epoxy đóng rắn bằng
DETA và XEDETA
STT
Nhựa epoxy
Hàm lƣợng
nhóm epoxy,
%
Thời gian gel hóa (phút)
2/1
DETA (1) XEDETA (2)
1
Epikote 828
22,63
19,7
96,5
4,9
điểm nổi bật của XEDETA, đặc biệt khi sử dụng cho chế tạo vật
liệu polyme compozit vì khi đó cần có đủ thời gian để thao tác.
Độ chuyển hóa của nhựa epoxy Epikote 828 đóng rắn bằng
DETA và XEDETA
3.1.4.
100
100
(b)- 30 phút
(a) - 0 phút
Độ truyền qua(%)
Độ truyền qua (%)
Đã xác định phổ hồng ngoại của hai hệ phản ứng Epikote
828/XEDETA và Epikote 828/DETA theo thời gian (phút) ở nhiệt
độ 60oC. Kết quả nhận đƣợc trình bày trên các hình 3.3 và 3.4.
80
60
40
20
915
1256
Độ truyền qua(%)
60
840
0
1400
80
915
60
1042
40
840
20
1256
(c)-60 phút
80
60
Hình 3.3: Phổ hồng ngoại độ chuyển hóa của hệ Epikote 828/XEDETA
theo thời gian
8
Từ các hình 3.3 a, b, c, và d nhận thấy, sau thời gian phản
ứng 0 phút, 30 phút, 60 phút và 120 phút, pic của nhóm epoxy ở
tần số 915 cm-1 tƣơng ứng có diện tích giảm dần khi thời gian phản
ứng tăng lên, điều đó chứng tỏ đã xẩy ra phản ứng giữa nhóm
epoxy của Epikote 828 với chất đóng rắn XEDETA.
Tƣơng tự ở các hình 3.4 a, b, c, và d nhận thấy, sau thời
gian phản ứng 0 phút, 30 phút, 60 phút và 120 phút, các pic của
nhóm epoxy ở tần số 915 cm-1 tƣơng ứng cũng có diện tích giảm
dần khi thời gian phản ứng tăng lên, giống với chất đóng rắn
XEDETA ở hình 3.3 điều này cho thấy đã xẩy ra phản ứng giữa
nhóm epoxy của Epikote 828 với chất đóng rắn DETA.
100
100
(a) - 0 phút
(b) - 30 phút
Độ truyền qua (%)
Độ truyền qua (%)
80
60
100
(c) - 60 phút
Độ truyền qua (%)
Độ truyền qua (%)
915
40
0
100
80
60
840
0
1400
80
60
915
40
1040
20
1200
1000
800
600
Số sóng cm-1
Hình 3.4: Phổ hồng ngoại độ chuyển hóa của hệ Epikote 828/DETA theo
thời gian
Nhƣ vậy căn cứ vào phổ hồng ngoại của hai hệ phản ứng
Epikote 828/XEDETA và Epikote 828/DETA ở hình 3.3 và hình
9
Độ chuyển hóa (%)
3.4 có kết quả độ chuyển hóa theo thời gian (phút) thể hiện trên
hình 3.5.
100
80
60
40
(Epikote/DETA)
50
40
30
Epoxy/DETA
120
60
Ứng suất uốn, MPa
Ứng suất kéo (MPa)
3.1.5.
Epoxy/XEDETA
20
10
100
80
Epoxy/XEDETA
60
40
20
0
Đã tiến hành xác định độ bền va đập Izod có khía và độ
bền dai phá hủy của nhựa nền sử dụng chất đóng rắn DETA và
XEDETA. Kết quả nhận đƣợc trình bày trên hình 3.7.
5
1.6
5.2
1.46
1.4
KIC , MPa.m1/2
Độ bền va đập (Kj/m2)
6
4.1
4
3
2
1.17
1.2
1
0.8
0.6
0.4
0.8
tanδ
Epoxy/DET
A
0.6
Tg(Epoxy-DETA) = 138,9
0.4
3.8c
0.2
0
30
80
130
180
Nhiệt độ (0C)
Hình 3.8: Ảnh SEM bề mặt phá hủy của mẫu và cơ nhiệt động (DMTA)
của nhựa nền epoxy Epikote 828 sử dụng chất đóng rắn DETA và
XEDETA.
11
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất cơ học
của vật liệu polyme compozit trên cơ sở nhựa epoxy
Epikote 828
3.2.1. Ảnh hưởng hàm lượng chất đóng rắn XEDETA đến mức độ
Hình 3.9: Ảnh hưởng của hàm lượng đóng rắn đến mức độ đóng
rắn và độ bền va đập Izod của nhựa nền epoxy Epikote 828
Từ hình 3.9 nhận thấy, khi tăng hệ số k từ 1,0 lên 1,2, mức
độ đóng rắn tăng từ 60% lên 84% sau 7 giờ. Nếu tiếp tục tăng hệ số
k lên 1,3 mức độ đóng rắn giảm xuống 80%. Trong khi đó độ bền
va đập tăng 52,2% (từ 3,41 lên 5,19 KJ/m2) ở hàm lƣợng chất đóng
rắn k=1,2, nếu tiếp tục tăng hàm lƣợng chất đóng rắn lên k = 1,3 độ
bền va đập giảm xuống 8,7% (từ 5,19 xuống 4,74 KJ/m2).
Nhƣ vậy, có thể chọn hàm lƣợng chất đóng rắn XEDETA
với hệ số k=1,2 để đóng rắn nhựa epoxy Epikote 828.
12
3.2.2. Ảnh hưởng hàm lượng sợi gia cường đến độ bền va đập
của vật liệu polyme compozit trên cơ sở nhựa epoxy Epikote 828
gia cường bằng sợi thuỷ tinh
Đã tiến hành khảo sát ảnh hƣởng của hàm lƣợng sợi gia
cƣờng lên độ bền va đập Izod có khía của vật liệu compozit. Kết
quả nhận đƣợc trình bày trong bảng 3.3.
Bảng 3.3: Độ bền va đập của vật liệu epoxy Epikote 828 gia cường bằng
sợi thủy tinh với các hàm lượng sợi khác nhau
TT
Tỷ lệ
Hàm lƣợng sợi
Khối lƣợng riêng
Độ bền va
nhựa/sợi thực tế (% PKL)
(g/cm3)
Trƣớc đây đã có công trình của Trần Vĩnh Diệu và đồng
nghiệp tổng hợp oligome EP-LC từ nhựa epoxy ED-20 với laccol
để nâng cao độ bền va đập của màng phủ. Tuy nhiên trong công
trình này đã tiến hành tổng hợp oligome EP-LC từ nhựa epoxy
Epikote 828 với laccol để nâng cao độ bền dai cho vật liệu
compozit. Tỷ lệ phản ứng Epikote 828 : LC = 1 : 1 ĐL (100 : 92
PKL) ở nhiệt độ 1400C trong 4 giờ, với môi trƣờng phản ứng khí
13
nitơ. Phản ứng của laccol (LC) với nhựa epoxy (EP) xẩy ra theo sơ
đồ phản ứng dƣới đây:
OH
OH
OCH
2 CHCH 2 O
OH
R
M o n o a d d u c t (I)
OH
+
CH
nhóm epoxy 6,51%
Ảnh hưởng laccol đến độ bền va đập và độ bền dai phá
hủy của nhựa nền epoxy Epikote 828
Đã tiến hành khảo sát ảnh hƣởng của laccol đến độ bền
va đập Izod có khía và độ bền dai phá hủy của nhựa nền epoxy
Epikote 828, sử dụng đóng rắn XEDETA. Kết quả nhận đƣợc trình
bày trong hình 3.10.
3.3.2.
Độ bền va đập, Kj/m2
6
6
5.1
6.3
1.8
6.8
5
4.6
4
KIC, MPa.m1/2
8
0
30
10
15
20
25
30
Hàm lƣợng Laccol, %
Hình 3.10: Độ bền va đập Izod có khía và độ bền dai phá hủy của nhựa
epoxy Epikote 828 biến tính bằng laccol ở các hàm lượng khác nhau.
Hình 3.10 cho thấy, sự có mặt của laccol đã cải thiện đáng
kể độ bền va đập và độ bền dai phá hủy của nhựa epoxy. Cụ thể khi
tăng hàm lƣợng laccol từ 0 đến 20% độ bền va đập tăng từ 5,1
Kj/m2 lên 6,8 Kj/m2 (tăng 33,3%), còn hệ số KIC tăng từ 1,46
MPa.m1/2 lên 1,69 MPa.m1/2 (tăng 15,7%), nếu tiếp tục tăng
14
hàm lƣợng laccol lên 25 và 30%, độ bền va đập và hệ số KIC lại
giảm.
epoxy Epikote 828, nhằm mục đích so sánh với chất biến tính
laccol để chọn ra loại chất biến tính cho hiệu quả tăng dai tốt nhất.
15
Độ truyền qua
Sản phẩm oligome ở dạng lỏng nhớt trong suốt, hơi phớt vàng
và không bị kết tinh khi bảo quản. Khối lƣợng phân tử trung bình
của oligome là 2360 và hàm lƣợng nhóm epoxy trung bình của các
mẫu oligome là 18,8%. Nhƣ vậy, thấp hơn hàm lƣợng nhóm epoxy
của dầu lanh epoxy hóa (ELO) vào khoảng 4%.
Phổ FTIR của ELO và OELO trình bày ở hình 3.12. Các
pic của những nhóm đặc trƣng hầu nhƣ không thay đổi, đặc biệt
nhóm epoxy ở 915 cm-1.
Số sóng cm-1
Hình 3.12: Phổ FTIR của ELO và OELO
Đã tiến hành khảo sát ảnh hƣởng của hàm lƣợng OELO đến
độ bền va đập và độ bền dai phá hủy của nhựa nền epoxy Epikote
828 ở các tỷ lệ 4, 6, 8, 10 và 12 PKL so với 100 PKL Epikote 828,
sử dụng đóng rắn XEDETA với hệ số k=1,2. Kết quả nhận đƣợc
trình bày trong hình 3.13.
7.55
7
6
1.46
1.5
4
3
1
2
0.5
1
0
0
0
4
0
6
8
10
12
Hàm lƣợng OELO (PKL)
4
(a)0PK
L
(b) 4PKL
(c) 6PKL
(d) 8PKL
(e) 10PKL
(g) 12PKL
Hình 3.14: Ảnh SEM bề mặt phá hủy của mẫu xác định độ bền dai phá hủy
(KIC) với các hàm lượng OELO khác nhau
Quan sát ảnh SEM bề mặt phá hủy của mẫu vật liệu trên
hình 3.14 nhận thấy, sự khác biệt rất rõ về cấu trúc hình thái của
vật liệu. Ở mẫu không chứa OELO (hình 3.14a) quan sát thấy bề
mặt phá hủy của mẫu phẳng, nên mẫu thể hiện phá hủy dòn, còn ở
các mẫu có chứa hàm lƣợng OELO khác nhau (hình 3.14b, c, d, e
và g) không quan sát thấy tách pha nhƣ khi sử dụng cao su lỏng,
các vết nứt gãy gồ ghề và rất đa dạng, làm cho tốc độ phát triển vết
nứt chậm hơn so với mẫu không có OELO, nên mẫu thể hiện phá
17
hủy dẻo dai, đây chính là nguyên nhân làm cản trở quá trình nứt
gãy, dẫn tới năng lƣợng cần thiết để phá hủy mẫu lớn hơn.
3.5. Ảnh hưởng của laccol và OELO đến độ bền dai phá hủy
Ứng suất kéo (MPa)
300
400
200
Epoxy
300
150
Epoxy/Laccol
Epoxy-OELO
200
100
50
(a)
100
(b)
60
50
3
0
epoxy
epoxy-laccol epoxy-OELO
Hình 3.15: Ảnh hưởng của laccol và OELO đến ứng suất kéo,
uốn và va đập của compozit gia cường sợi cacbon
Hình 3.15a cho thấy, độ bền kéo khi đƣa 6 PKL-OELO và
20% laccol vào nhựa nền không có sự biến đổi nhiều, cụ thể độ bền
kéo tăng 8,6 % (từ 240,6 MPa lên 261,3 MPa) khi sử dụng chất
18
biến tính OELO và tăng 3,4% (từ 240,6 MPa lên 248,8 MPa) khi
sử dụng chất biến tính laccol, còn modun kéo giảm khi sử dụng các
chất biến tính.
Độ bền uốn (hình 3.15b) của vật liệu compozit khi đƣa
OELO và laccol vào nhựa nền đều giảm, cụ thể giảm 26,5 % (từ
552,4 MPa xuống 436,6 MPa) khi đƣa OELO và giảm 8,6% (từ
552,4 MPa xuống 508,2 MPa) khi đƣa laccol.
Độ bền va đập (hình 3.15c) khi có mặt 6 PKL-OELO, tăng
31,4 % (từ 37,2 Kj/m2 lên 48,9 Kj/m2) và khi có mặt 20% laccol
tăng 41,3% (từ 37,2 Kj/m2 lên 52,6 Kj/m2).
3.5.2. Ảnh hưởng của laccol và OELO đến độ bền dai phá hủy
tách lớp của vật liệu compozit trên cơ sở nhựa epoxy Epikote 828,
gia cường sợi cacbon
Kết quả xác định độ bền dai phá hủy tách lớp của vật liệu
30
400
20
(a)
10
0
10
(b)
Epoxy
200
0
20
30
Độ dịch chuyển, mm
45
40
65
85
Chiều dài vết nứt (mm)
không biến tính bề mặt tách lớp nhẵn hơn, lƣợng nhựa bám lại trên
bề mặt sợi ít hơn. Trong khi đó ở 2 mẫu có biến tính (hình 3.17b và
3.17c) cho thấy bề mặt tách lớp không phẳng, lƣợng nhựa bám lại
trên bề mặt sợi nhiều hơn. Điều này chứng tỏ khi đƣa chất biến tính
vào tổ hợp nhựa nền đã làm tăng liên kết giữa nhựa nền và sợi dẫn
đến làm tăng năng lƣợng tách lớp của vật liệu polyme compozit.
3.6. Ảnh hưởng của laccol và OELO đến độ bền dai phá hủy
của compozit trên cơ sở nhựa epoxy Epikote 828, gia cường
bằng sợi thủy tinh
Mẫu compozit đƣợc chế tạo theo phƣơng pháp lăn ép bằng
tay với tỷ lệ nhựa/sợi = 40/60, sử dụng chất đóng rắn XEDETA,
biến tính bằng 20% laccol và 6 PKL-OELO là các hàm lƣợng tối
ƣu đã khảo sát ở các phần trƣớc. Sau 2 tuần mẫu ổn định đem đi
cắt và xác định các tính chất cơ học. Kết quả nhận đƣợc trình bày
trong các phần dƣới đây:
20
3.6.1. Ảnh hưởng của laccol và OELO đến tính chất cơ học của
vật liệu compozit gia cường sợi thủy tinh trên cơ sở nhựa epoxy
Epikote 828
Đã tiến hành xác định các tính chất cơ học kéo, uốn và va
đập Izod có khía của vật liệu compozit gia cƣờng sợi thủy tinh, sử
dụng 6 PKL-OELO và 20% laccol làm tác nhân biến tính. Kết quả
nhận đƣợc trình bày trên hình 3.18.
Epoxy/Laccol
Epoxy
Epoxy
150
100
Epoxy/OELO
50
0
0
1
2
3
4
Độ võng (mm)
300
Độ bền va đập (KJ/m2)
250
5
258.04
245.67
3.6.2. Ảnh hưởng của laccol và OELO đến độ bền dai phá hủy
tách lớp của vật liệu compozit trên cơ sở nhựa epoxy Epikote 828,
gia cường sợi thủy tinh
Kết quả xác định độ bền dai phá hủy tách lớp của vật liệu
compozit trình bày trên hình 3.19
H 3.19(a)
Lực (N)
30
Epoxy/Laccol
Epoxy/OELO
1300
GIC (J/m2)
40
H 3.19(b)
Epoxy/Laccol
1100
20
900
110
Hình 3.19: Đường cong đặc trưng lực tác dụng-độ dịch chuyển và
quan hệ giữa năng lượng phá hủy tách lớp (GIC) và chiều dài vết
nứt của mẫu compozit
Kết quả trên hình 3.19a cho thấy, ở mẫu không có chất biến
tính lực tác dụng lớn nhất khi vết nứt bắt đầu xuất hiện và đạt 24,1
N, nhỏ hơn nhiều so với mẫu có 6 PKL-OELO là 31,0 N và 34,6 N
mẫu có 20% laccol. Sau khi xuất hiện vết nứt đầu tiên, lực tác dụng
giảm dần và tỷ lệ nghịch với độ dịch chuyển.
Ở hình 3.19b cho thấy, độ bền dai phá hủy tách lớp ban đầu
GIC ở mẫu biến tính bằng 20% laccol cao hơn so với mẫu không
biến tính 29,5% (từ 693,6 lên 898,2 J/m2), còn mẫu biến tính bằng
6 PKL-OELO cao hơn so với mẫu không biến tính 13,1% (từ 693,6
lên 784,7 J/m2).
Ảnh SEM bề mặt phá hủy tách lớp của mẫu vật liệu
compozit có sử dụng các chất biến tính khác nhau đƣợc trình bày
trên hình 3.20.
22
a) Epoxy
c) Epoxy/OELO
b) Epoxy/Laccol
Hình 3.20: Ảnh SEM bề mặt phá hủy tách lớp của vật liệu
compozit gia cường bằng sợi thủy tinh trên cơ sở nhựa epoxy
5.
6.
7.
hủy của nhựa nền epoxy Epikote 828. Kết quả cho thấy hàm
lƣợng laccol thích hợp nhất là 20%.
Đã tiến hành khảo sát ảnh hƣởng của oligome dầu lanh epoxy
hóa (OELO) đến cơ nhiệt động (DMA), tính chất cơ học và độ
bền dai phá hủy của nhựa nền epoxy Epikote 828. Kết quả cho
thấy hàm lƣợng OELO thích hợp nhất ở 6 PKL.
Độ bền kéo và uốn của vật liệu compozit gia cƣờng sợi
cacbon biến tính bằng OELO và laccol không có sự thay đổi
nhiều so với mẫu không biến tính, tuy nhiên độ bền va đập
tăng 31,4 % (từ 37,2 Kj/m2 lên 48,9 Kj/m2) khi sử dụng 6
PKL-OELO và tăng 41,3% (từ 37,2 Kj/m2 lên 52,6 Kj/m2) khi
sử dụng 20% laccol.
Vật liệu compozit gia cƣờng bằng sợi cacbon có độ bền dai
tách lớp ban đầu GIC ở mẫu biến tính 6 PKL-OELO cao hơn so
với mẫu không biến tính 37,2% (từ 421,3 lên 578,3 J/m2), còn
mẫu biến tính 20% laccol cao hơn so với mẫu không biến tính
59,3% (từ 421,3 lên 671,2 J/m2). Trong khi đó độ bền dai tách
lớp của cả quá trình GIP ở các mẫu biến tính đều cao hơn từ
17,7% tới 43,2% so với mẫu không biến tính.
Độ bền kéo và uốn của vật liệu compozit gia cƣờng sợi thủy
tinh biến tính bằng laccol và OELO không có sự thay đổi nhiều
so với mẫu không biến tính, tuy nhiên độ bền va đập tăng
37,2% (từ 179,05 Kj/m2 lên 245,67 Kj/m2) khi sử dụng 6 PKLOELO và tăng 44,1% (từ 179,05 Kj/m2 lên 258,04 Kj/m2) khi
sử dụng 20% laccol.