SKKN một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10a5 ở trường THPT số 2 văn bàn - Pdf 32

MỤC LỤC
Nội dung

Tran
g

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Phạm vị nghiên cứu
V. Đối tượng nghiên cứu
VI. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Nghiên cứu tâm lý giáo dục đối với học sinh yếu kém
2. Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm
3. Tạo niềm tin đối với học sinh
4. GVCN lập kế hoạch cá biệt để giúp đỡ từng học sinh yếu kém tiến
bộ, cuối năm học có thể được lên lớp
5. Khắc phục hiện tượng “nghiện” Game.

2
3
3
4
4
4


Viết tắt

Nội dung


1

CBQL

2

CCCM

3

CMHS

4

GV

5

GVCN

6

HS


12

THPT

Có công cách
mạng

Giáo viên chủ
nhiệm
Học sinh

Phụ huynh học
sinh
Sách giáo khoa
Thanh niên cộng
sản
Trung học phổ
thông

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2


Trong các năm qua, tôi đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu, đọc một số sách
báo về các phương pháp học tập hiệu quả và phát triển bản thân trong thanh
thiếu niên, học sinh nhằm giúp các em thành công cả trong học đường lẫn cuộc
sống. Nhờ thế mà tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều học sinh với những thái độ
và cách hành xử khác nhau.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở, phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác chủ nhiệm lớp
trong những năm vừa qua, qua đúc rút kinh nghiệm bản thân để hệ thống một số
biện pháp chính giúp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, nâng cao chất lượng lớp
chủ nhiệm, khắc phục tình trạng học sinh càng yếu càng chán học.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lý lứa tuổi học sinh.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng và những vấn đề gặp
phải trong công tác chủ nhiệm lớp của bản thân và các giáo viên khác trong nhà
trường
- Hệ thống một số biện pháp chính giúp xây dựng và quản lý lớp chủ
nhiệm đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian và trình độ nhận thức của bản thân,
đề tài “Một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất
lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn” chỉ phân tích thực
trạng các biện pháp giáo dục học sinh yếu lớp chủ nhiệm, nâng cao chất lượng
lớp chủ nhiệm, tổng kết kinh nghiệm bản thân để hệ thống thành các giải pháp
nhằm xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn.
V. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 10A5 trường THPT Số 2 huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, phân loại
các tài liệu khoa học và các văn bản pháp qui của nhà nước, của ngành, của địa

4



- Là nhân vật trung tâm để hình thành nhân cách cho HS và là cầu nối
giữa nhà trường và xã hội.
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của GVCN :
- Chức năng của GVCN lớp:
+ Xây dựng tổ chức lớp thành một đơn vị vững mạnh.
+ Tổ chức điều khiển lãnh đạo các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện.
+ Thiết lập và phát triển mối quan hệ với các lực lượng giáo dục trong và
ngoài trường để giáo dục HS.
- Nhiệm vụ của GVCN :
+ Tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt giáo dục để đẩy mạnh
sự tiến bộ của lớp.
+ Cùng các giáo viên khác và cán bộ Đoàn, Hội phối hợp nhanh chóng,
nhất là biện pháp đẩy mạnh một tập thể vững mạnh, giúp đỡ và tạo điều kiện
cho Đoàn, Hội của lớp hoạt động và phát huy ý thức làm chủ, tự giác và chủ
động của học sinh trong các hoạt động giáo dục.
+ Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh trong nhiệm vụ giáo dục các
em.
+ Phối hợp với các giáo viên khác, với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với gia
đình học sinh tổ chức nhận xét đánh giá và xếp loại học sinh vào cuối kì và cuối
năm học theo nội dung và tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục, đề nghị khen
học sinh, đề nghị danh sách HS được lên lớp, phải ở lại lớp và danh sách được
giao nhiệm vụ học tập hoặc rèn luyện thêm trong hè.
6


- Quyền hạn của GVCN:
+ Được cung cấp phương tiện và tài liệu cần thiết để tiến hành nhiệm vụ.
+ Được tham dự và biểu quyết trong hội đồng kỷ luật và khen thưởng khi
các tổ chức này giải quyết những vấn đề liên quan đến học sinh của lớp mình

điều kiện của nền giáo dục THPT là nhiệm vụ phức tạp và rất quan trọng, nhưng
kinh nghiệm của các trường và của các giáo viên giàu kinh nghiệm đã khẳng
định rằng, nhiệm vụ này có thể hoàn toàn thực hiện được. Nhiều trường phổ
thông và nhiều giáo viên không có một học sinh lưu ban nào trong quá trình
nhiều năm công tác.
- Cuộc đấu tranh vì chất lượng kiến thức cao, việc ngăn ngừa tình trạng
học kém và lưu ban là một vấn đề giáo dục quam trọng nhất đòi hỏi không chỉ
áp dụng các phương pháp dạy học hợp lí nhất và hoàn thiện quá trình học tập,
mà nó còn có liên quan điến việc hình thành đạo đức của học sinh đang thường
xuyên phát triển, đến việc giáo dục các phẩm chất đạo đức như lòng tôn trọng
nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính tổ chức, sự cần mẫn, sự bền bỉ và ý thức tập
thể …Vì thế nên kết quả học tập của học sinh không chỉ phụ thuộc vào hoạt
động dạy học của các giáo viên bộ môn mà ở một mức độ đáng kể còn phụ
thuộc vào công tác giáo dục khéo léo và có mục đích của giào viên chủ nhiệm
và vào mối quan hệ của họ với gia đình học sinh. Vì vậy trong công tác chủ
nhiệm người giáo viên cần chuẩn bị cho mình những kiến thức, kỉ năng, kỉ xảo
cần thiết cho công tác với học sinh yếu, kém.
- Cần phải chỉ ra rằng, rất đáng tiếc là trong sách báo sư phạm hiện nay có
rất ít công trình đề cập đến vấn đề này, đặc biệt ít có tài liệu nói cụ thể về công
tác giáo dục với hoc sinh học kém.
2. Khó khăn:
- Một điều khó khăn lớn là đối tượng HS nghiên cứu có địa bàn phân bố
rộng, có những gia đình HS ở cách xa trường vài chục cây số, đường đến trường
lầy lội, không có điện thoại liên lạc, kinh tế gia đình khó khăn…..Khả năng nhận
thức tư duy của các em không đồng đều và thường không ổn định, sở thích nhu
cầu có nhiều khác biệt, động cơ học tập và hứng thú cũng khác biệt nhau rất
nhiều, số lượng HS trong một lớp đông.

8



9


+ Sợ thi cử
+ Hay phạm lỗi do bất cẩn
+ Chịu áp lực từ gia đình
+ Có quá nhiều thứ để học và
quá ít thời gian
+ Không có động lực học
+ Dễ dàng bỏ cuộc
+ Thầy cô dạy không lôi cuốn
+ Không có hứng thú đối với
môn học

- Việc nghiên cứu các nguyên nhân học kém là một nhiệm vụ vô cùng khó
khăn đối với người giáo viên chủ nhiệm. Để giảm nhẹ cho công việc thu thập tài
liệu về HS học yếu, kém chúng ta cần phải có những chương trình đặc biệt.
Trong chương trình này có điểm ra những điều cần biết về HS. Chương trình
cần nghiên cứu đầy đủ toàn diện về HS bao gồm: Nghiên cứu hoạt động nhận
thức, lĩnh vực tình cảm, ý chí, hành vi và tình hình thể lực của các em. Căn cứ
vào các dữ liệu như: trạng thái xúc cảm, lí trí hành vi và tình trạng thể lực, trạng
thái chú ý và trí nhớ hoặc chức năng tâm lí riêng biệt nào đó của các em HS.
- Khi bắt tay vào nghiên cứu HS yếu, kém người GVCN cần thiết lập mối
quan hệ cần thiết với em HS. Điều này sẽ giúp cho việc tìm hiểu được tốt hơn
những đặc điểm cá nhân của HS. Nhằm mục đích này tôi thường dự giờ các giờ
học lớp chủ nhiệm, thăm gia đình, tham dự vào các hoạt động ngoại khóa, tham
gia trò chuyện cùng HS.
2. Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm
- Ngay khi tiếp nhận lớp chủ nhiệm, việc đầu tiên cần làm là tìm hiểu đối

……………………………………………………………………………………
17. Họ tên cha:……………………… Năm sinh:……… Nghề nghiệp:…………
18. Họ tên mẹ:……………………… Năm sinh:………..Nghề nghiệp:…….…...
19. Địa chỉ, số điện thoại liên lạc với PHHS:………………………………..…
20. Họ tên, nghề nghiệp, số điện thoại của anh, chị, em ruột:………….………
………………………………………………………………………….…………
……………………………………………………………………….……………
11


21. Thuộc diện con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình CCCM: ………….
22. Gia đình thuộc diện đói, nghèo, cận nghèo:…………………………………
2.2. Tìm hiểu đặc điểm học sinh thông qua quan sát học sinh học tập,
vui trơi hoặc bằng việc trao đổi, trò chuyện với học sinh, phụ huynh, GVCN
cũ … của các em.
- Việc quan sát phải lâu dài và có hệ thống để sao cho các kết luận rút ra
từ các sự kiện quan sát được không phải là những kết luận tình cờ và hời hợt,
chúng phải phản ánh được những đặc điểm cá nhân đáng kể của HS, cho phép
theo dõi em HS trong sự phát triển của em đó, việc quan sát cần phải sâu sắc, nó
bao gồm không chỉ một sự ghi chép chính xác và đầy đủ các sự kiện và hiện
tượng về hành vi của HS mà còn giải thích đúng đắn các sự kiện và hiện tượng
này, vì rằng việc quan sát không chỉ nhằm mô tả các hành động bên ngoài của
HS mà còn phải tìm ra các động cơ và nguyên nhân của những hành động này.
Đây cũng là mục đích cơ bản của sự quan sát: Xuất phát từ những sự kiện bên
ngoài của việc quan sát phải vạch ra được những đặc điểm cá nhân của HS và
những đặc điểm đặc thù về nhân cách của em đó.
- Hiệu quả của các cuộc trò chuyện phụ thuộc vào sự suy nghĩ kĩ càng về
phương pháp tiến hành chúng, tùy thuộc vào kĩ năng, nghệ thuật và sự lịch thiệp
cùa giáo viên. Các thủ thuật tiến hành phải được cá biệt hóa tối đa và chúng phải
nhất thiết thay đổi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể , tùy theo cá tính của

không phải là kém. Điều này được thể hiện qua cách nói có văn hóa của em,
qua sự hứng thú của em đối với thể thao và đối với việc đọc sách báo ở thư viện.
Nhưng Trường chưa có thái độ đúng đắn đối với việc học tập, em thiếu các kỹ
năng và kỹ xảo lao động độc lập, sự chú ý có chủ định ở em chưa được phát
triển cũng như thiếu một vài phẩm chất cần thiết cho hoạt động lao động.
Khi đến thăm gia đình Trường, tôi càng tin tưởng vào sự đúng đắn về
những kết luận của mình hơn. Trường là đứa con trai độc nhất nên rất được
chiều chuộng trong gia đình. Cha hoặc mẹ đã làm tất cả, Trường không tự lực
làm cái gì cả. Từ những ngày đầu học tập, cha mẹ đã giúp em trong những khó
khăn nhỏ nhặt nhất. Một sự bảo trợ quá ư tỉ mỉ như vậy đã làm giảm ý chí, năng
lực và sáng kiến của em và chẳng bao lâu em đã không để ý đến việc lúc nào
cần phải ngồi chuẩn bị bài vở, vì rằng tất cả những cái đó đã được mẹ em làm
hộ.
13


Tôi đã phải làm việc nhiều để thay đổi cách giáo dục Trường trong gia
đình. Trước hết cần phải thuyết phục cha mẹ về sự sai lầm của các hành động
của họ, sau đó cùng với họ xác định các biện pháp giáo dục tiếp tục Trường. Họ
đã xây dựng hệ thống giáo dục cho Trường những thói quen, kỹ năng, động cơ
và tình cảm cần thiết cho việc học tập. Ví dụ, tôi và cha mẹ đã đòi hỏi Trường
phải hoàn toàn tự lực thực hiện tốt các bài tập về nhà. Khi bài có thiếu sót nhỏ,
hoặc làm cẩu thả, hoặc chưa hoàn thiện, họ động viên em phải làm lại hoặc sửa
đúng. Mỗi một bài làm tốt đều được thưởng, và điều này gây cho em lòng tin
tưởng vào sức lực của mình và tạo ra cảm xúc tốt. Việc tổ chức các bài tập bổ
sung nằm mục đích dạy cho em các học đã có ảnh hưởng lớn lao đến việc hành
thành các kỹ năng, kỹ xảo, đến việc giáo dục nhiều phẩm chất cần thiết để học
tập tốt. Kết quả của công việc rất tinh tế, bền bỉ và hết sức chú ý của tôi và của
gia đình đã làm cho em Trường có được sự hào hứng học tập và thích thú lao
động nói chung và kết quả học tập về các bộ môn đã được nâng lên một cách rõ

GVCN hỏi: Vì sao em không làm bài tập về nhà ở SGK?
HS trả lời:
+ Bài tập ở SGK khó, em làm không được.
+ Ở nhà em có làm nhưng khi lên bảng em quên công thức nên không làm
được.
+ Thầy dạy em không hiểu nên không làm được bài tập ở nhà…
GVCN hỏi: Vì sao em không thích học môn Toán?
HS trả lời:
+ Môn toán khó, em không làm được nên em ghét nó.
+ Con ghét thầy toán, giọng thầy giảng khó nghe, khi lên bảng thầy toàn
tra những bài tập khó…
+ Em không biết học toán để làm gì? Nó chẳng liên quan gì đến cuộc
sống của em.
+ Em không biết gì về môn Toán cả, nhìn vào em rối tung rối mù lên em
chẳng biết gì cả, em ghét nó, học chỉ mất thời gian thôi.
Khi phụ huynh hỏi vì sao con bị điểm kiểm tra bài miệng kém, hoặc điểm
kiểm tra bài 45 phút kém.
Học sinh trả lời:

15


+ Thầy giảng bài con không hiểu nên con trả lời không được, giọng thầy
nói khó nghe.
+ Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không
trả lời
+ Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không
trả lời được…
+ Con có ôn bài nhưng đề thầy ra khó nên con không làm được…
- HS sẽ tìm ra hàng trăm lí do để biện hộ cho các điểm kém của mình khi

cực sang ý nghĩ tích cực. Khi chúng ta công nhận quan điểm của con cái, chúng
sẽ ở trong tâm thế thoải mái và để chấp nhận đề nghị của chúng ta hơn.
- Tôi hy vọng phương pháp chuyển hóa ý nghĩ tích cực là một công cụ
hiệu quả mà mỗi giáo viên hay phụ huynh chúng ta vận dụng để tác động một
cách tích cực đến suy nghĩ của HS hay con cái của chúng ta.
3.2. Mười bước thành công trong học tập
- Tạo niềm tin cho học sinh thông qua việc cho các em thấy “thành công
tuy xa nhưng không phải là không thể đi đến” và GVCN dạy cho học sinh xây
dựng mục tiêu, kế hoạch, phương cách học tập để có thể đạt được mục tiêu mà
mình đưa ra. Có thể hướng dẫn các em theo các bước sau đây:
Bước 1: Niềm tin tích cực
Điểm gặp gỡ đầu tiên của tất cả học sinh xuất sắc là chúng có một cơ sở
niềm tin tích cực. Chúng tin rằng chúng có thể và xứng đáng đạt được điểm
tuyệt đối. niềm tin tích cực truyền cảm hứng mạnh mẽ cho chúng trong học tập.
Nếu giả sử chúng có sơ xuất hay không đạt được những gì đề ra, chúng không
17


bỏ cuộc mà trái lại sẽ học hỏi từ sai lầm của mình và làm lại cho đến khi thành
công.
Bước 2: Đề ra mục tiêu phấn đấu cụ thể, rõ ràng
Yếu tố thứ hai phân biệt những học sinh giỏi này với những em còn lại là
chúng hướng đến các mục tiêu cụ thể, rõ ràng và trên tất cả, chúng biếtmình
muốn gì trong cuộc sống. Các mục tiêu trong tương lai của chúng mang lại cho
chúng nguồng động lực lớn thúc đẩy bản thân chúng có tinh thần và thái độ học
tập chăm chỉ, trong khi những em khác bị phân tán vào những việc khác ngoài
chuyện học tập. Chúng đặt ra những mốc cụ thể như đạt toàn điểm 10 trong kỳ
thi và làm hết sức mình để đạt được điều đó. Chúng coi điểm số cao như một
phương tiện giúp mình đạt được mong muốn trong cuộc sống.
Trong khi đó, những học sinh trung bình dễ dàng bị phân tâm và thiếu hẳn

c. Đọc với cây bút dẫn đường
Đọc sách với cây bút dẫn đường cho ánh mắt người đọc qua từng dòng
chữ, điều đó sẽ hiệu quả hơn trong việc nắm các ý chính.
d. Đọc một lúc từng cụm 5-7 từ
Mắt người có khả năng đọc được 5-7 từ trong một lúc. Làm cách này HS
có thể đọc sách với tốc độ tăng từ 5-7 lần (khoảng 1500 từ/ phút). Giúp cho việc
học của các em có hiệu quả hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian.
Bước 5: Lọc ra thông tinh chính
Khi đọc sách chúng ta không cần phải nhớ tất cả các từ có trong bài, điều
quan trọng là các em cần xác định và thu tập những từ khóa có trong một đoạn
văn. Chỉ có khoảng 20% từ khóa chứa đựng thông tin cần thiết để đạt điểm 10,
nhờ vậy thời gian học và ôn bài giảm xuống đáng kể.
Bước 6: Ghi chú bằng cả não bộ
Chúng ta dùng cả não bộ vào việc sắp xếp các từ khóa và thông tin vào
bảng ghi chú để ôn bài và ghi nhớ nhanh chóng. Bằng việc sử dụng cách ghi
chú: sơ đồ tư duy, đồ thị phát triển, sơ đồ khái niện, bảng tóm tắt chương….
Bước 7: Kĩ thuật ghi nhớ
Để ghi nhớ tốt bài học hoặc các công thức một cách chính xác, đầy đủ và
lâu dài thì cần gắn các bài học hay các công thức bằng các câu chuyện, bài thơ,
hay kí hiệu hay hình ảnh minh họa hay một cái tên viết tắc nào đó. Trong bước

19


này giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy để có thể
hệ thống, tóm tắt kiến thức tốt hơn, dễ nhớ hơn.
Bược 8: Ứng dụng kiến thức lí thuyết để giải các bài tập, câu hỏi
Hiếm khi nào những câu hỏi và đề thi ra giống hệt trong sách hoặc chỉ cần
bê nguyên si những kiến thức trong bài học vào làm là đạt điểm 10. Vì thế
những HS học vẹt chẳng mấy khi đạt điểm tuyệt đối. Chúng ta cũng biết rằng

hành với các em những cuộc tọa đàm nhằm phát triển lòng ham thích đối với
kiến thức, đối với học tập và thu hút các em vào các nhóm nghiên cứu của các
môn học.
Tôi xin nêu ra một trường hợp của HS Trần Viễn Đông lớp 12A1 trường
THPT Số 2 Văn Bàn năm học 2011-2012:
Học sinh Đông khi học lớp 10 vốn là một học sinh có học lực khá, nhưng
khi lên lớp 11A1, em luôn ở trạng thái không muốn học, đối với nhiều môn học
em không làm bài tập về nhà và bị điểm kém. Bằng nhiều lí do khác nhau em
thường hay nghỉ học, trốn học, bỏ tiết có thái độ không tốt đối với giáo viên.
Qua tìm hiểu nguyên nhân thì tôi được biết ở lớp 9 và lớp 10 em vẫn học
tốt nhưng khi vào đầu HK I của lớp 11 Mẹ em bị ốm một thời gian dài, em
thường xuyên phải nghỉ học đưa mẹ đi chữa bệnh, bố bỏ dơi 2 mẹ con, từ 2 lý
do trên em càng chán nản, thường xuyên nghỉ học đi chơi điện tử, lỗ hổng kiến
thức ngày càng lớn mà tự bản thân em không thể tự lấp đầy.
Năm lớp 12, khi đến lớp Đông đã không phải là một học sinh ngoan
ngoãn và ham hiểu biết như trước nữa: Em vi phạm kỉ luật, có thái độ thô lỗ với
bạn bè, vô lễ với giáo viên, bỏ giờ bỏ lớp không có lí do. Khi nhận được những
điểm kém thoạt đầu chủ yếu là môn toán, cậu học trò giàu lòng tự ái này dần
dần đã lơ là các môn học khác. Những thất bại trong học tập đã làm em không
tin vào sức lực của mình nữa. Khi được gọi lên bảng, em thường tuyên bố với
giáo viên “em không biết gì hết”.
- Với vai trò GVCN tôi đã lập một kế hoạch cùng kết hợp với giáo viên
bộ môn xây dựng một hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, các bài tập căn bản
cùng hệ thống các công thức, đồng thời các GV bộ môn đã tận tình hướng dẫn
cho em ôn tập lại các kiến thức và giải bài tập vào các buổi học phụ đạo ở
trường. Ở nhà mẹ em cũng nổ lực để hướng dẫn động viên giúp em học tập để
lấy lại căn bản. Cùng với sự nổ lực của nhà trường, gia đình và chính bản thân
21



22


Chẳng phải vậy sao, chỉ cần chạm vào bàn phím, bạn có thể điều khiển
nhân vật trong trò chơi theo ý muốn và trí tưởng tượng của mình. Bạn cũng có
thể điều chỉnh kết quả trò chơi bằng cách lựa chọn hành động một cách thỏa
mái. Cảm giác làm chủ giả tạo này có sức hấp dẫn cực lớn, bạn có thể “sống”
trong thế giới tự tạo ra cho mình, nơi mà bạn có được cây đèn thần của Aladin,
bắt thần đèn làm cho mình bất cứ điều gì. Các trò chơi loại này đánh trúng vào
một điểm: con người nói chung thích cảm giác được làm chủ và cảm giác thấy
bất lực nếu mọi việc không theo ý mình.
Một lí do khác khiến đa số thiếu niên thích trò chơi điện tử là vì nó mang
lại kết quả tức thì. Chỉ trong một thời gian ngắn và chỉ một chút cố gắng không
thấm vào đâu so với cuộc sống thật chúng có thể trở thành một người “quan
trọng” hơn, “thành công” hơn và được nhiều game thủ khác nể sợ hơn. Một
trong những tác hại của trò chơi điện tử mà nhiều người chưa nhìn ra: nếu
nghiện game trong một thời gian dài, hệ thống thần kinh của bạn có thể chỉ phản
ứng lại với những phần thưởng tức thì, dễ dãi. Điều này có thể giúp lí giải tại sao
nhà trường và phụ huynh ngày nay gặp khó khăn trong việc động viên học sinh
học tập; vì khác với trò chơi học tập là một việc nhọc nhằn, đòi hỏi một quá
trìnhphấn đấu và nổ lực dài hơn trước khi đạt được phần thưởng.
- Game giúp chúng ta “thoát li” thực tế
Game đặc biệt có sức hấp dẫn với những HS có cảm giác lạc lõng trong
một lớp học, thiếu sự quan tâm yêu thương của cha mẹ hoạc bị bạn bè trong
trường bắt nạt, hoặc trong lớp ít bạn chơi chung, hay các bạn trong lớp hay chọc
ghẹo xem thường làm tổn thương về tinh thần và thể xác đối với HS. Trò chơi
trong thế giới ảo, trong khi đó mang lại cho những HS nạn nhân này cảm giác
chúng là người hùng thật sự, không những không để ai bắt nạt mà còn oai phong
“cho đo ván” những nhân vật “khét tiếng” khác.
Trong cuộc trò chuyện với HS Nguyễn Văn Thiệu lớp 10A5 tôi chủ nhiệm

đó không còn ham muốn chơi game nữa.
- Với vai trò là GVCN tôi đã phối hợp với đoàn trường, GV dạy bộ môn
thể dục, cùng gia đình HS để tìm giải pháp khắc phục. Tôi đưa HS Thiệu tham
gia vào đội tuyển bóng đá của lớp, vào những lúc rảnh rỗi ngoài giờ học tôi yêu
cầu gia đình đưa em Thiệu ra sân thể dục của trường để tập bóng đá cùng các
bạn cùng lớp. Việc làm này giúp em Thiệu lấp đầy các khoảng thời gian rãnh
24


rỗi, giúp cho em có thêm bạn cùng chơi, cùng trò chuyện, luyện tập, vui chơi
vận động về thể chất và tinh thần, đồng thời giúp em tiếp cận nhiều với thực tế
hơn và dần đẩy lùi thế giới ảo trong game. Việc là này cũng giúp gia đình và nhà
trường kiểm soát được thời gian học tập và rèn luyện của HS Thiệu.
Sau hơn hai tháng, dưới sự tích cực của thầy giáo bộ thể dục dạy bóng đá,
gia đình, các bạn cùng lớp, cùng khối và sự động viên an ủi từ phía GVCN, gia
đình và giáo viên bộ môn, với sự nổ lực của bản thân em Thiệu đã hòa nhập tốt
vào nhóm bạn cùng khối lớp, em đã đều đặn tham gia tập bóng và tư tưởng
“nghiện” game của em đã được đẩy lùi. Giờ đây hàng ngày Thiệu có nhiều việc
phải làm ngoài giờ học em phải luyện tập cho giải đá bóng cấp trường sắp đến,
tinh thần phấn khởi em tập trung nhiều hơn vào việc rèn luyện và học tập. Kết
quả học tập của em từ đó cũng được cải thiện rõ rệt, mỗi khi đến lớp em có
nhiểu bạn cùng học tập trao đổi về những bài học, bài toán, những trận đá bóng
của cả đội…..giúp em có nhiều động lực trong học tập.
6. Nâng cao hiệu quả phối hợp với gia đình và phụ hunh học sinh:
- Hiện nay ngành giáo dục đang thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục,
thực hiện những biện pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng kiến thức của HS
và phát triển toàn diện kiến thức đó thì GVCN và gia đình HS cần phải có cộng
tác chặt chẽ với nhau trong công tác giáo dục. Gia đình và các đoàn thể xã hội
cần phải giúp đỡ tích cực cho nhà trường trong việc phải thực hiện quy chế giáo
dục THPT trong việc tổ chức thời gian nhàn rỗi của HS, tổ chức hoạt động của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status