Âm hưởng nữ quyền trong truyện ngắn các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

Nguyễn thị oanh

âm hởng nữ quyền trong truyện ngắn
các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới

Luận văn thạc sĩ ngữ văn


2

Vinh - 2007


Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

Nguyễn thị Oanh

âm hởng nữ quyền trong truyện ngắn
các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới

Chuyên ngành: lý luận văn học
Mã số: 60.22.32

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. nguyễn đăng điệp

5
Tài liệu tham khảo..............................................................................86


6

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Nh đã trở thành một thông lệ, khi nhắc đến phụ nữ ngời ta lại tặc lỡi
nữ nhi thờng tình. Thái độ trọng nam khinh nữ, qua hàng ngàn năm lịch
sử đã bám rễ rất sâu vào xã hội bị cai trị bởi t tởng nam quyền, thậm chí ngay
cả nhiều phụ nữ cũng ngầm thừa nhận vai trò thống trị của nam giới. Mặc dù
đợc coi là dân tộc có truyền thống tôn trọng phụ nữ (nhiều phụ nữ đợc tôn
vinh là anh hùng dân tộc nh Bà Trng, Bà Triệu) nhng về đại thể, ở Việt
Nam, trong tơng quan với đàn ông, thân phận ngời phụ nữ vẫn là thân phận
ca k b l thuc. Cng nh hàng triệu ph n trờn th gii, trong dòng chảy
chung lịch sử của nhân loại, chế độ phụ quyền ó đặt ngời phụ nữ trong thế
thụ động, chỉ biết phục vụ cho đàn ông. Bớc sang thời kỳ hiện đại, khi phong
trào dân chủ đợc mở rộng, phụ nữ đợc đi học, đợc tạo tham gia hoạt động xã
hội, đợc đi làm và có thu nhập về kinh tế, h bắt đầu đấu tranh đòi quyền bình
đẳng. Phong trào đấu tranh đòi giải phóng phụ nữ đã phát triển mạnh mẽ với
tên gọi nữ quyền.
Ch ngha n quyn (Feminism) l sn phm ca phong tro cỏch mng
t sn cn i, ó cú b dy lch s hn hai trm nm. Phong tro ny c c
v bng cụng trỡnh Gii tớnh th hai (1949) ca n vn s Phỏp Simon de
Beauvoir. Bng lý lun sc bộn b ó phõn tớch thc trng ph n b ỏp bc v
yờu cu phi nhanh chúng gii phúng ph n ra khi hng lot trúi buc vụ
nhõn o.
Cựng vi s u tranh òi bình quyền ngày càng ln mnh Chõu
u, phong tro phờ bỡnh n quyn (lý thuyt v n quyn) ó phỏt trin

T chõu u, phong tro n quyn ó lan rng khp th gii, tr thnh
mt trong nhng hot ng tinh thn ỏng chỳ ý nht trong lch s thi k
hin i. Tại Trung Quốc, một quốc gia chịu ảnh hởng sâu sắc của tinh thần
Khổng giáo, t tởng nữ quyền cũng bt u lan rộng vo những năm 80 của thế


8
kỷ xx, nhất là sau khi Đại hội phụ nữ thế giới đợc tổ chức tại Bắc Kinh năm
1995. Thậm chí, nhiều ngời cho rằng, những năm cuối th k XX là thế kỷ
của nàng với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ nổi đình nổi đám nh Thiết
Ngng, Vệ Tuệ, Miên Miên
Việt Nam sau 1986, âm hởng nữ quyền trong văn học mới thực sự đợc các nhà văn, nhà phê bình cũng nh độc giả chú ý đến. Rất nhiều tác phẩm
của Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu
Huệ mang đậm dấu ấn t tởng nữ quyền. Các nhà văn nữ công khai bày tỏ
chính kiến riêng của mình, nhiều nhân vật trong sáng tác của họ là những cá
thể độc lập, có quan niệm riêng về các giá trị, có t tởng chống lại sự áp đặt t tởng của nam quyền và các định kiến xã hội. Thậm chí những đề tài cấm kỵ
nh đề tài tình dục cũng đợc thể hiện một cách công khai, táo bạo, tạo thành
một làn sóng d luận xung quanh vấn đề âm hởng nữ quyền và tình dục trong
văn học. Không những vậy, dới con mắt của các nhà văn nữ, bằng quan điểm
riêng của mình, họ viết về hiện thực không phải thứ hiện thực tô hồng nh
truyền thống mà một hiện thực đợc nhìn bằng một quan điểm, lập trờng riêng
của cá nhân vi những đề tài về chiến tranh, về con ngời trong và sau chiến
tranh từ đó xác lập một cái nhìn riêng của nữ giới.
Khi bàn về vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam, tác giả Phan Việt
Thuỷ, trong bài Phái tính trong ngôn ngữ và văn học trên tạp chí Vit
(Tienve.org) nhấn mạnh sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà không phải chỉ
là sự khác nhau thuần tuý có tính chất ngôn ngữ mà còn là sự khác nhau trong
văn hoá và xã hội. Cũng trên trang Tạp chí Việt, tác giả Tú Ân trong bài Văn
tự và phái tính khẳng định chữ viết gắn liền với t duy phân tích và t duy phân
tích lại gắn liền với bán cầu bên trái của não bộ. Trong khi đó, nữ giới lại gắn

Để hoàn thành đợc luận văn này, chúng tôi đã thừa kế những ý kiến của
các công trình nghiên cứu trớc đó nhằm làm sáng tỏ hơn về âm hởng nữ
quyền trong truyện ngắn các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ nêu lên những đặc
điểm chung nhất về t tởng nữ quyền trong văn học. Ngời viết cha dám nói đến
t tởng nữ quyền trong văn học Việt Nam mà chỉ nói đến âm hởng nữ quyền với


10
hàm ý: ở nớc ta mặc dù đã bắt đầu hình thành cái nhìn riêng của nữ giới về
nhiều mặt khỏc nhau của đời sống, về giá trị và sự tồn tại độc lập của nữ giới
với t cách là giới thứ hai nhng cha thật nổi bật, điển hình nh văn học Phơng
Tây. Luận văn sẽ tập trung phân tích âm hởng nữ quyền qua các tập truyện
ngắn của ba nhà văn:
Võ Thị Hảo với Goá phụ đen; Ngời sót lại của Rừng Cời; Hồn trinh nữ;
Nhà xuất bản Phụ nữ, H Ni, 2006;
Nguyễn Thị Thu Huệ với 37 truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học, H
Ni, 2006;
Đ Hoàng Diệu với Bóng đè, Nhà xuất bản Đà Nng, 2005.
Ngoi ra, trong quỏ trình phân tích, lý gii, chúng tôi sẽ tiến hành so
sánh với truyện ngắn của một số nhà văn khác, , th nht, thy rừ hn úng
gúp ca ba nh vn; th hai, thy c õm hng n quyn ó hin hu trong
vn hc Vit Nam ng i nh mt ln súng t tng ỏng chỳ ý.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Để làm nổi rõ âm hởng nữ quyền trong sáng tác của ba tác giả nữ,
chúng tôi sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu cơ bản nh sau:
Phơng pháp hệ thống: Đặt các vấn đề, các loại nhân vật trong cùng một
hệ thống, từ đó đa ra những khái quát khoa học nhằm khẳng định sự mới mẻ
và độc đáo trong quan niệm của các nhà văn về đời sống và các giá trị nhân


MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỮ QUYỀN
1.1. Vài giới thuyết về chủ nghĩa nữ quyền / nữ quyền luận
Loài người bắt đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu quyền (mẫu hệ),
cùng với thời gian, đàn ông với ưu thế mạnh mẽ về cơ bắp và là người tạo ra
thu nhập kinh tế nhiều hơn đã trở thành “kẻ mạnh”. Theo tôn giáo, Eva được
sinh ra từ chiếc xương sườn thứ 7 của Adam, từ đó, vai trò của nữ giới bị coi
là lệ thuộc, chịu sự chi phối bởi nam quyền; và trong cái nhìn của lịch sử, chế
độ phụ quyền bắt đầu. Trong suốt hai ngàn năm tồn tại, phái nam gần như giữ
vai trò thống trị tuyệt đối, điều đó đã được minh chứng bằng nhiều tác phẩm,
trong đó có sử thi Iliat của Homer, phụ nữ và nô lệ là hai phần thưởng dành
cho kẻ thắng trận.
Vai trò thống trị của đàn ông không chỉ nhận được sự ủng hộ của các
thiết chế xã hội mà còn trở thành một tâm lý phổ biến trong cách nhìn và quan
niệm của con người. Nếu ở Phương Tây, ngự trị trên đỉnh Olempo là thần Zot
thì ở Phương Đông, các vị thần tối cao cũng gắn với đàn ông, một số nước
Hồi giáo quy định phụ nữ ra đường phải che mặt.
Có nhiều nguyên nhân cả về mặt lịch sử lẫn trên phương diện văn hóa
giải thích vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền
thống. Việt Nam nằm trong khu vực văn minh Đông Nam Á bản địa trước khi
tiếp thu ảnh hưởng văn hoá Ấn – Hoa, vốn có đặc trưng là văn minh nông
nghiệp độc canh cây lúa, đặc biệt là cây lúa nước, giống cây đòi hỏi nhiều
công sức lao động thủ công đến nỗi thành viên nữ khó bị gạt ra ngoài lề sản
xuất. Đông Nam Á cũng có chế độ mẫu hệ phổ biến và dai dẳng, có nhiều nữ
thần đến mức nữ hoá một số phật và bồ tát nam, mà trường hợp điển hình là
phật quan Âm (Thế ©m Bồ tát). Những yếu tố cæ ®¹i nµy ®Õn nay vÉn lµ thùc
tÕ xã hội đảm bảo tính bền vững của truyền thống.


13

14
nm sau, nm 1995, Liờn Hip Quc t chc i hi N quyn Th gii ti
Bc Kinh, th ụ nc Trung Hoa. Hi ngh kt hp mt trm tỏm lm (185)
quc gia, gm bn ngn i biu chớnh ph, tho lun trong mi ngy nhm
thay i ng li, chớnh sỏch ca cỏc quc gia ci thin phng tin y t,
giỏo dc, kinh t, chớnh tr v vn hoỏ trong i sng ngi ph n.
Phong tro ny dn dn chim c nhiu u th v ln mnh lan sang
cỏc nc Chõu u, Chõu , v cú nh hng mnh m vo vn hc.
Phong tro ny c c v bng cụng trỡnh Gii tớnh th hai (1949)
ca n vn s Phỏp Simon de Beauvoir. Vi s phõn tớch v nhiu mt b ỏp
bc v vi nhng yờu cu cao hn v vic gii phúng ph n, Gii tớnh th
hai (The second sex) cú ý ngha ht sc quan trng trong vic thỳc y s
phỏt trin ca ch ngha n quyn trong i sng hin i núi chung v
trong vn hc núi riờng, thỳc y s phỏt trin ca phong tro sang mt giai
on mi.
Trong cụng trỡnh ca mỡnh, S.de.Beauvoir ó phờ phỏn gay gt nn vn
hoỏ ph h ó y ngi ph n ra khi v trớ ngoi l ca xó hi cng nh
ca vn hc ngh thut. Ngay tờn cụng trỡnh ca mỡnh, b ó phõn tớch vn
mt cỏch sõu sc v tinh t, cp độ ngụn t, b dựng gii tớnh th hai (th
hai cú ngha l cú th nht) ũi hi s bỡnh ng bỏo hiu mt phong tro phờ
bỡnh n quyn ang dn hỡnh thnh. Giới là đặc trng văn hoá, xã hội của đời
sống nam và nữ. Giới tính là đặc trng sinh và thể của đời sống nam và nữ.
Những đặc trng sinh và thể của con ngời thờng ít biến đổi và tuân theo quy
luật tự nhiên, còn những đặc trng văn hoá, xã hội thờng biến đổi theo sự biến
đổi của cấu trúc một xã hội nhất định và tuân theo quy luật xã hội. Điều này
có nghĩa, theo quan điểm giới, về mặt xã hội, nam và nữ hoàn toàn bình đẳng
với nhau. Sự khác biệt của giới chỉ là do nhân tạo, do quan niệm, giáo dục,
truyền thống và quyền lực chính trị của các thời đại tạo nên. Vì cuộc sống là



16
vo ú t n phõn bit. Khi núi ai ú cú tớnh n b, l hm ý chờ bai
ngi y l quỏ t m, nh nhen. Ngi n b cú chng l bỏc s, k s, giỏm
c cng thng c gi l b bỏc s, b k s, b giỏm c trong khi
ú nu ngi v lm ngh bỏc s, giỏo s.v.v. thỡ ngi chng khụng c gi
nh vy. Do vậy, khi nói đến ngời phụ nữ, ngời ta thờng nghĩ ngay đến những
phong trào đòi bình quyền, đòi quyền sống, đến những quan niệm kỳ thị nam
nữ. Những ý kiến ủng hộ hay chống đối những quan niệm ấy chia ra hai phe
rõ rệt mà ngời bênh vực sự kỳ thị ấy đa số là phái nam, và ngời chống đối sự
bất bình đẳng thì luôn luôn là phái nữ.
Phi chng ngụn ng cng cú s hỡnh thnh t phỏt t xa xa. Theo
Barbara Johnon - vn gii tớnh thc cht l vn ngụn ng. Vỡ vy, b
S.de.Beauvoir kờu gi cỏc vn s hóy dựng chớnh sc mnh ca ngụn t u
tranh chng li s khng ch ca nam gii, ch không phi lui v nng nỏu
trong ngụn t quy thun ca mỡnh. Ph n chng vn minh, vn hoỏ da trờn
quyn hnh n ụng, ph quyn, chng Phng Tõy k ngh nh ngha n
ụng kh nng sỏng to v ch bin s vt. Ph n chng vn chng nh
mt nn ch, h thớch mt trn ngụn ng hn, thớch ph dng liờn h trc
tip vi ch vit cng nh thõn xỏc. Ph n Chõu M ũi quyn li, h dn
thõn, xung ng, lp nghip onớt cho ngi c thy dõy da tỡnh cm.
Ngụn ng khụng quan trng, cỏi quan trng l chng n ỏp, ụ h ca n
ụng. Trong khi ú Phỏp v Chõu u, ngụn ng c t li v trớ, thm m
hc, mt loi phn vn hoỏ t trờn nn s ố nộn. Cỏc tỏc gi n dựng ngụn
ng nờu bt lờn ni dung v tỡm li thoỏt cho chớnh nhng gỡ mỡnh ang b
trúi buc. Chớnh vỡ vy ó xut hin hng lot nhng khuynh hng mi v
th loi tiu thuyt, nhng quan im i mi nhm thay cho nhng quan
im, t tng b l thuc, t ú khng nh vai trũ ca ngi ph n trong
i sng gia ỡnh - xó hi c bit l trong ngh thut. Nh vn nam dựng vn




18
bị hài hớc hoá thì cũng bị h vô hoá hoặc nếu không cũng bị hoán chuyển đối tợng: nạn nhân thành tội nhân; bất hạnh biến thành khoái lạc, bi kịch của một
cá nhân thành bi kịch của cả xã hội.[23]
Nói một cỏch khỏc, trong văn học, hỡnh nh ngi ph n b ch p c
nhõn hỡnh ln nhõn tớnh u khụng c quan tõm, di con mt ca nam
quyn ú chỉ đơn thuần là một sự kiện, một thứ tai nạn, hay có khi, lạ lùng
hơn, một thứ may mắn đối với nạn nhân. Rõ ràng ở đây là một cách nhìn đầy
kỳ thị về phái tính. Nhng điều lạ là ở Việt Nam cho đến nay, hình nh cha có
ngời phụ nữ nào tỏ ý bất bình về những cách nhìn này. Không phải chỉ là một
thói quen chịu đựng theo kiểu nói làm hoa cho ngời ta hái, làm gái cho ngời
ta trêu mà vấn đề chính ở chỗ, nói nh các nhà nữ quyền luận, một cách vô
thức, cái đọc của ngời phụ nữ cũng bị nam hoá đi: họ đọc nh là những ngời
đàn ông đọc, cho nên không nhận ra cả những cái nhìn đầy bất công trong đó
chính mình là nạn nhân. Do đó, cái thiếu của chúng ta không phải là những
tác giả nữ mà là những ngời đọc nữ. Nữ thực sự chứ không phải là những ngời
đàn ông không có cu [23].
Hng ng tinh thn ny, n u nhng nm 60, phong tro ph n
u tranh ó phỏt trin v lan to mnh m Chõu u. Phong tro phờ bỡnh
n quyn (lý thuyt v n quyn) ó phỏt trin mnh m v phỏt trin thnh
nhiu nhỏnh, ũi hi bỡnh ng nam n trờn nhiu phng din. Quan điểm
giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôi
động ở các xã hội Phơng Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX. Lý thuyết nữ quyền
tạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của
nam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ,
tạo lập bình đẳng giới. Mặc dù có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ
nữ chống lại chế độ nam trị, nhng lý thuyết nữ quyền có nhiều trờng phái khác
nhau, thậm chí, có những trờng phái mâu thun nhau gay gắt. Có thể nêu một
số lý thuyết nữ quyền có ảnh hởng mạnh đến xã hội Phơng Tây thời gian qua



20
nữa mà những ngời phụ nữ tự giác ở khắp các nền văn hoá đã bắt đầu đóng
góp đáng kể cho việc xác nhận quyền lợi, phẩm tính và vai trò tích cực lãnh
đạo của ngời phụ nữ trong đủ mọi phơng diện của đời sống và ở khắp nơi trên
thế giới.
Trung Quc - nhiu nh nghiờn cu cho rng, phong tro n quyn
bt u t phong tro Ng T, nht l nhng nm 80 ca th k XX khi lý
lun phờ bỡnh vn hc Phng Tõy v lý lun gii tớnh b vo Trung
Quc, c bit l t sau i hi ph n th gii ln th t c t chc ti
Bc Kinh nm 1995, phong tro nghiờn cu vn hc n tớnh ht sc sụi ni.
Cha bao gi trờn vn n li xut hin nhiu nh vn n nh vy. Phong tro
gii phúng ph n c cp n mt cỏch rỏo rit.
Nht Bn - sau cuc cỏch mng v chớnh tr, kinh t, xó hi Nht Bn
l Minh Tr Duy Tõn, v trớ ca ngi ph n cha c ci thin mt cỏch
ỏng k. T sau 1975, trong phong tro u tranh ni rng quyn sng ca
ngi ph n, cỏc nh vn n mi cú nhng hot ng ỏng k. ú l dũng
vn hc u tranh cho n quyn (women rights) hay mnh m hn, thiờn
trng ph n (Feminism).
Vit Nam - Thi Phỏp thuc, bờn cnh vụ vn ti ỏc ca thc dõn,
khụng th khụng tớnh n nhng chuyn bin theo hng hin i hn. Phu
n in, phu m, cụng nhõn nh mỏy, tuy ph n b búc lt tn khc hn vỡ
khụng cú chuyờn mụn, vỡ ch lng phõn bit, song h bit th no l t
ch kinh t vỡ i lm cú lng. Trng hc m ra tuy nhm mc ớch o to
i ng viờn chc, nhõn viờn k thut khụng th thiu cho vic xỏc lp b
mỏy cai tr thc dõn v nn múng kinh t t bn song cng to iu kin cho
nhiu tr em v thanh niờn trai gỏi cú iu kin tip thu tri thc mi. Ln u
tiờn n hc sinh n lp n trng. Trong phong tro cỏch mng u th k
XX, ụng kinh ngha thc cng nh cỏc trng hc cỏch mng khỏc bt u


22
Vai trũ ca ph n c bit c cao trong chớnh th mi sau 1945
vi s ra i ca Hi ph n Vit Nam. ú l tin vn hoỏ v xó hi thun
li cho vn hc n tớnh cú c hi phỏt trin. So vi trc õy, i ng cỏc
nh vn n ụng o hn, ti nng ca h c tha nhn rng rói hn. Nhiu
tỏc phm ca h cú nh hng n cụng chỳng v c ging dy trong nh
trng.
Nhng thay i v ý thc phỏi tớnh v thỏi cao vai trũ ngi ph
n ó nh hng rt ln vo nhiu lnh vc ca i sng, c bit l vn hc.
Nhng quan trng hn, ý thc v gii mt cỏch t giỏc ó n sõu vo tõm
thc ca i ng ngi cm bỳt v to nờn õm hng n quyn trong vn hc.
1.2. Phong tro n quyn trong vn hc
Trong lnh vc vn hc, t t phỏt n t giỏc, cỏc nh vn u cú ý
thc lờn ting phn i, phn khỏng li nhng tụn ti trt t vụ lý ũi quyn
xó hi. Cỏc cõy bỳt n khụng phi ch chng li mi hỡnh thc ỏp ch ca
nam gii m cũn phi c gng xỏc nh mt th m hc riờng ca n gii, t
ú, thit lp nờn nhng in phm riờng, xõy dng nhiu tiờu chớ riờng trong
vic cm th v ỏnh giỏ li cỏc hin tng ca vn hc [23].
Bng lý l sc bộn v lp lun ca riờng mỡnh, cỏc nh n quyn lun
nhm n mc tiờu: c gng phỏt hin v tỏi hin cỏc tỏc phm vn hc ca
ph n, qua ú, ỏnh giỏ phõn tớch cỏc khớa cnh hỡnh thc ca tỏc phm y,
tỡm hiu xem nhng tỏc phm y ó phn ỏnh quan h nam n ra sao v
nhng yu t liờn quan n tõm lý, huyn thoi ca ngi ph n nh th no
trong vn hc [23].
Trên cơ sở khẳng định kinh nghiệm văn học và kinh nghiệm xã hội của
nữ giới, họ nghiên cứu đánh giá lại toàn bộ văn học sử, phát hiện lại địa vị và
giá trị của những nữ văn sĩ với những phơng thức sáng tác đặc thù trong sự đối
sánh với nam giới. Khẳng định phụ nữ là một giá trị độc lập trong mối quan hệ





24
Trong một xã hội hiện đại, vốn quá tiện nghi cho nam giới, trong một
nền văn hoá truyền thống trọng nam khinh nữ, ngời phụ nữ với những thân
phận bị lên án bởi những ngoại tình, đồng tính luyến ái một hậu quả của
xã hội thiếu công bằng, vũ phu đầy quyền lực mà những nạn nhân chỉ phản
kháng một cách yếu ớt, tiêu cực, nhà văn nữ Nhật Bản Yoshimo Banana đa ra
những nạn nhân, những thân phận trong xã hội hẩm hiu, hiện đại đó đã phản
kháng bằng cách trốn vào nhà bếp hoặc những ch vắng vẻ những kiểu
phản kháng này là một sự phản kháng dịu nhẹ nh những lời ta thán.
Trong khi Yoshimo Banana phản kháng kín đáo, nhẹ nhàng trong t duy
triết lý trí tuệ thì Yamada Eimi lại có kiểu phản kháng viết thật sỗ sàng, đến
trâng tráo về chuyện tình dục. Tính dục có vẻ nh là mặt trận duy nhất mà
phái nam có vẻ chịu thua phái nữ. Thành trì bảo vệ cho phái nam còn một góc
hớ hênh đó là tình dục. Do đó, không có gì lạ khi phái nữ cần lên tiếng nói
phản kháng hay nữ quyền thì họ dùng ngay vũ khí tình dục. Các nhà văn nữ
quyền Nhật Bản từ trớc đến nay giống nhau ở chỗ, bằng những cách thức hay
biểu hiện chừng mực khác nhau, đều muốn chứng minh rằng: Tình dục không
phải là độc quyền của đàn ông, không phải phụ nữ mới là đối tợng tình dục,
phụ nữ có lợi thế tất thắng trong tình dục. Yamada Eimi - miêu tả nhân vật nữ
- bao giờ cũng muốn xỏ mũi phái nam mà dắt đi, chơi trội hơn phái nam,
có bản lĩnh hơn, có t tởng hơn và ít chịu bó mình trong khuôn khổ luân lý, đạo
đức lạc hậu của xã hội.[32]
Yamada Eimi không tuyên ngôn là ngời đấu tranh cho nữ quyền. Thực
chất cô là tiếng nói phản kháng với trật tự, nền nếp xã hội hiện đại. Nhng so
với Yoshimo Banana hay các nhà văn phái nữ khác của Nhật Bản, Yamada
Eimi lên tiếng thẳng thừng, khiêu khích trực tiếp những thành trì xã hội trọng
nam khinh nữ, nhất là trờng học. Vì thế, Yamada Eimi có thể đợc xem là một
tiếng nói hiếm hoi của nữ quyền trong xã hội Nhật Bản vốn trọng luân thờng truyền thống, ngời đàn bà luôn lấy sự tùng thuận làm đạo đức, lấy sự nhờng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status