Tác dụng của tư vấn và điều trị dự phòng lên các chỉ tiêu lý, sinh hóa ở bệnh nhân hen phế quản tại bệnh viện hữu nghị đ - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------------------

TÁC DỤNG CỦA TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LÊN CÁC CHỈ
TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA Ở BỆNH NHÂN HEN PHẾ QUẢN TẠI
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Mã số:

60.42.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người thực hiện:

HOÀNG THỊ THU HÀ

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.BSCKII. NGUYỄN VĂN HƯƠNG

VINH - 2009

i


LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình về tất cả mọi mặt của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, gia đình bạn
bè và đồng nghiệp.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới TS.BSCKII.
Nguyễn Văn Hương – Phó giám đốc Bệnh Viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ


HATr:

Huyết áp tâm trương

HPQ:

Hen phế quản

PEF:

Peak Expiratory Flow- Lưu lượng đỉnh

WHO:

World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới

iv


DANH MỤC BẢNG

v


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
HPQ (Hen phế quản) là tình trạng viêm mạn tính của phế quản, tăng

chống hen phế quản” ở một số tỉnh phía Bắc trong đó có Nghệ An, nhờ vậy
đã cải thiện rõ trình độ hiểu biết của nhân viên y tế và nhân dân về HPQ, giúp
cho người bệnh kiểm soát tốt hơn tình trạng hen của mình, đưa lại kết quả hết
sức khả quan.
Cùng với các triệu chứng lâm sàng, thì các chỉ số sinh lý, sinh hóa là cơ sở
để đánh giá mức độ của bệnh, giúp cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị bệnh
hiệu quả hơn. Với mong muốn góp phần nâng cao ý thức cộng đồng về tầm quan
trọng trong điều trị kiểm soát hen chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác
dụng của tư vấn và điều trị dự phòng lên các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa ở bệnh
nhân hen phế quản tại Bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An”.
2. Mục tiêu đề tài
2.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa ở bệnh nhân HPQ đang
được tư vấn và điều trị dự phòng tại khoa khám bệnh BVHNĐKNA
2.2 Đánh giá hiệu quả của việc kiểm soát hen ngoại trú tại khoa khám
bệnh BVHNĐKNA
3. Nội dung nghiên cứu
3.1 Mô tả một số chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa, triệu chứng lâm sàng ở bệnh
nhân HPQ đến khám tại BVHNĐKNA để phân độ HPQ theo bậc theo
GINA.
3.2 Tiến hành các nội dung tư vấn, dánh giá trị số PEF và hướng dẫn điều
trị ngoại trú bệnh nhân HPQ theo GINA.
3.3 Đánh giá các chỉ số sinh lí, sinh hóa, trị số PEF, các triệu chứng lâm
sàng sau mỗi lần tái khám.
3.4 Đánh giá hiệu quả của việc điều trị kiểm soát hen ngoại trú theo tiêu
chí GINA tại khoa khám bệnh BVHNĐKNA

vii


viii


quản bị sưng phù. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng các các tế bào viêm này đóng
vai trò rất quan trọng trong phản ứng dị ứng.
1.1.2 Sinh lý hô hấp
Hô hấp là một trong những hoạt động sống quan trọng nhất của cơ
thể. Đó là quá trình trao đổi khí liên tục giữa cơ thể với môi trường xung
quanh. Cơ thể chỉ tồn tại và phát triển được khi được cung cấp đầy đủ
các chất dinh dưỡng và O 2 , đồng thời thải ra ngoài các sản phẩm của quá
trình phân huỷ mà trước hết là khí CO 2 . Ngoài ra, hoạt động hô hấp cũng
góp phần điều hoà độ PH của cơ thể bằng cách thay đổi nồng độ khí
CO2_hoà tan trong dịch ngoại bào
Không khí đi qua mũi, miệng để vào thanh quản rồi vào khí quản. Sau
đó để vào phổi được không khí sẽ phải đi qua một trong hai phế quản chính.
Phế quản tiếp tục phân nhánh trong phổi thành những ống nhỏ và nhỏ hơn
nữa gọi là các tiểu phế quản. Không khí hít vào sẽ đi qua các hệ thống các khí
đạo (đường thở) này để đến hàng triệu các túi khí nhỏ trong phổi được gọi là
các phế nang. O2 từ phế nang vào máu thông qua hệ thống mạch máu rất nhỏ
gọi là mao mạch, tương tự CO2 từ dòng máu vào phế nang và từ đó sẽ được
thở ra ngoài.
Các phế quản bình thường cho phép không khí đi vào và đi ra
phổi thật nhanh chóng. Giúp đảm bảo nồng độ O 2 và CO 2 ổn định trong
máu. Thành phế quản được bao quanh bởi lớp cơ trơn có thể co và dãn
một cách tự động khi chúng ta thở. Sự co thắt và dãn nở của các phế
quản được điều khiển bởi hai hệ thần kinh khác nhau, cùng hoạt động
nhịp nhàng để đường thở luôn mở.

x


Hình 1.1: Phế quản bình thường và phế quản bị viêm

178

191

203

20

554

575

594

611

626

25

580

603

622

640

656


641

659

675

45

591

613

633

651

668

50

580

602

622

640

656


572

588

603

70

515

535

552

568

582

75

496

515

532

547

560


471

485

497

509

xii


30

458

475

489

502

513

35

458

474

488


437

453

466

478

489

55

427

442

455

467

477

60

415

430

443


377

391

402

413

422

xiii


1.1.3 Sơ lược các chỉ số sinh lý, sinh hoá bình thường của người Việt Nam
1.1.3.1 Chỉ số sinh lý
a. Huyết áp
Huyết áp (HA) là áp lực tác động của dòng máu lên thành động mạch.
HA phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước
cũng như độ đàn hồi của thành động mạch.
HA liên tục thay đổi tuỳ theo hoạt động, nhiệt độ, chế độ ăn, cảm xúc,
tư thế, và tình trạng sử dụng thuốc. HA là tiêu chí để đánh giá chức năng toàn
diện của tim mạch. Có hai giá trị: HA tâm thu: là trị số HA động mạch trong
chu kì tim ứng với lúc tâm thu cao nhất; HA tâm trương: là trị số HA động
mạch trong chu kì tim ứng với tâm trương thấp nhất [7]
Thường thì người già có HA cao hơn người trẻ từ 10-20mmHg. Khi
tuổi quá cao, động mạch bị lão hoá, xơ vữa, giảm tính đàn hồi gây nên chứng
HA tâm thu đơn thuần [14]
b. Nhịp thở
Mức độ hô hấp là số nhịp thở trong một phút. Nó tăng khi bị sốt hay bị

a. Chỉ số sinh hoá
của protid. Ure là chất thải chính của sự tiêu hóa chất đạm, số lượng
trung bình của ure trong máu là từ 8-25mg/100cc. Trên mức độ này là có hại
cho cơ thể.
+ Creatinin là một chất hoá học được thoái hoá từ chuyển hoá của cơ.
Creatinine được sản xuất từ creatine, một phân tử rất quan trọng trong việc
tạo năng lượng của cơ. Gần 2% creatine trong cơ thể được biến đổi thành
creatinine mỗi ngày. Creatinine được vận chuyển trong máu đến thận. Thận sẽ
lọc creatinine và thải nó ra ngoài theo nước tiểu [14].
+ Glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tế bào của cơ thể.
Nhiều tế bào (ví dụ tế bào não và tế bào hồng cầu), hoàn toàn phụ thuộc vào
glucose máu như là nguồn năng lượng chính. Mặt khác, não đòi hỏi nồng độ
glucose trong máu ổn định để duy trì chức năng bình thường của não. Nồng
độ glucose trong máu thấp hơn 30 mg/dl hoặc trên 300 mg/dl có thể gây ra lú
lẫn hoặc hôn mê.
+ Acid uric là sản phẩm cuối cùng của chuyển hoá purine (purine là
thành phần cấu tạo của RNA và DNA), hầu hết acid uric trong cơ thể được

xv


bài tiết qua thận. Sự sản xuất aid uric quá mức xảy ra khi có sự phá huỷ tế bào
hàng loạt hay thận không còn khả năng bài tiết aci uric. Sự dư thừa acid uric
là nguyên nhân gây nên bệnh gout.
+ Cholesteron là chất béo được tìm thấy trong máu chúng ta, chúng
được sản xuất hàng ngày trong gan (nguồn gốc nội sinh), hoặc từ việc ăn
uống các chất mỡ động vật (nguồn gốc ngoại sinh). Cholesteron được lấy ra
khỏi cơ thể chúng ta bởi gan dưới dạng mật. Cholesteron cùng với các chất
béo khác tham gia cấu tạo nên màng tế bào. Cholesteron là thủ phạm chính
gây nên các bệnh về tim mạch.

đoán và tiên lượng bệnh [16], [29].
Máu được cấu tạo bởi hai thành phần chính là: thành phần hữu
hình (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Thành phần hữu hình
chiếm đến 40% thể tích máu, huyết tương chiếm 60% thể tích. Trong các
tế bào máu thì hồng cầu chiếm số lượng chủ yếu, bạch cầu và tiểu cầu
chiếm tỷ lệ thấp [6], [18].
Công thức máu là xét nghiệm quan trọng, cung cấp cho người thầy
thuốc những thông tin hữu ích về tình trạng bệnh nhân hoặc người được xét
nghiệm. Nó có tính chất gợi ý, định hướng nguyên nhân gây bệnh. Các trị số
của công thức máu thay đổi theo trạng thái sinh lý, hoặc theo mức độ hoạt
động thể chất của cơ thể.
Một xét nghiệm công thức máu thông thường ở Việt Nam sẽ cho biết
các thông số sau: dòng hồng cầu, dòng bạch cầu, dòng tiểu cầu.
Dòng hồng cầu:
Hồng cầu là thành phần hữu hình chủ yếu của máu, hồng cầu có hình
đĩa tròn lõm hai mặt, chức năng chủ yếu là vận chuyển khí.
Số lượng hồng cầu: ký hiệu là RBC (red blood cell) hay ở một số tờ kết quả
xét nghiệm của Việt Nam thì được ghi là HC, là số lượng hồng cầu có trong
một đơn vị máu (thường là lít hay mm³). Đơn vị tính: Tera/lít (T/l = 1012/l).

xvii


Nồng độ hemoglobin trong máu: thường được ký hiệu là HGB hay Hb (đơn vị
tính bằng g/l hay g/dl).
Dòng bạch cầu.
Bạch cầu là các tế bào có nhân, hình dạng và kích thước rất khác
nhau tùy từng loại. Bạch cầu không phải chỉ lưu thông trong máu, mà nó
còn có mặt ở nhiều nơi trong cơ thể: bạch huyết, dịch não tủy, hạch bạch
huyết...Bạch cầu giúp cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật

trị”[12].
Năm 1984 Charpin J (Pháp) cho rằng: “Hen phế quản là một hội chứng
có những cơn khó thở rít kịch phát thường xảy ra về đêm”.
Theo Chương trình quốc gia giáo dục học Mỹ (1985-1991): Hen phế
quản là bệnh có 3 quá trình: thắt nghẽn phế quản hồi phục ngẫu nhiên
hoặc do điều trị, viêm phế quản và tăng tính phản ứng phế quản do nhiều
yếu tố kích thích.
Theo viện quốc gia tim phổi- huyết học Hoa Kỳ và tổ chức Y tế thế
giới (2002) định nghĩa: “ Hen phế quản là bệnh lí viêm mãn tính đường hô
hấp với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào. Viêm mãn tính
gây tăng tính đáp ứng của đường thở dẫn đến những cơn khò khè, khó thở,
tức ngực và ho tái phát, nhất là vào buổi tối hoặc sáng sớm. Những đợt này
thường có tắc nghẽn đường thở lan tỏa nhưng không hằng định. Sự tắc nghẽn
này tự phục hồi hoặc biến đi do điều trị” [20], [41], [42].
Đến năm 2006 GINA định nghĩa: “Hen là một bệnh viêm mãn tính
đường thở với sự tham gia của nhiều loại tế bào và thành phần tế bào. Tình
trạng viêm nói trên là tăng tính đáp ứng của đường thở gây nên hiện ra các
đợt khò khè, ho, nặng ngực và khó thở lặp đi lặp lại, xảy ra nặng hơn vào ban
đêm hoặc sáng sớm. Tắc nghẽn đường thở lan tỏa, biến đổi theo đợt và
thường phục hồi tự nhiên hoặc do điều trị [5],[44]

xix


Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng cơ chế bệnh sinh của
HPQ có thể mô tả tóm tắt bằng sự tương tác của 3 quá trình bệnh lý cơ bản:
viêm mãn tính đường thở, tăng đáp ứng của phế quản và co thắt, phù nề phế
quản, trong đó viêm mãn tính đường thở là trung tâm [9].
* HPQ ảnh hưởng đến sự hô hấp như thế nào?
HPQ làm hẹp đường thở, và ảnh hưởng đến việc di chuyển không khí


xx


Sự phối hợp của các yếu tố trên gây nên hiện tượng khó thở thì thở ra.
Kết quả là không khí cần phải được thở ra thật mạnh để có thể đi qua chổ hẹp,
do đó tạo nên tiếng khò khè hay tiếng rít. Người bị HPQ thường bị ho để có
thể tống các nút nhầy trong phế quản ra ngoài. Sự suy giảm lưu thông không
khí làm cho ít O2 đi vào trong máu, và nếu nặng thì có thể khí CO 2 sẽ tích tụ
nguy hiểm trong máu.
Điều trị HPQ gồm 3 khâu cơ bản: phát hiện và loại trừ hoặc tránh tiếp
xúc với tác nhân gây dị ứng (dị nguyên) và khống chế các yếu tố thuận lợi
phát sinh cơn hen; khống chế và dần dần loại bỏ quá trình viêm mạn tính tại
đường dẫn khí thấp (các tiểu phế quản); lập lại sự lưu thông của đường dẫn
khí bằng cách giải quyết các hậu quả viêm phù nề, xuất tiết dịch quánh và co
thắt hệ thống phế quản nhỏ.
1.2.2 Phân loại HPQ
Từ năm 1921 HPQ đã được phân thành 2 nhóm lớn: HPQ nội sinh và
HPQ ngoại sinh bởi Rackeman. Đến nay đã có rất nhiều cách phân loại, tuy
nhiên cách phân loại theo trường phái Nga (ADO 1986) [17] là khá phổ biến
và được nhiều nước áp dụng. Đây là cách phân loại theo nguyên nhân gây
bệnh:
- HPQ không dị ứng:
+ Di truyền
+ Gắng sức
+ Aspirin và SAID
+ Rối loạn nội tiết
+ Rối loạn tâm thần
- HPQ dị ứng:
+ Không nhiễm trùng (bụi nhà, phấn hoa)

H àng ngày

>2

PEF,

hưởng đến

FEV1

hoạt động

hạn hoạt
động thể lực

hưởng đến

lần/tháng hoạt động thể
lực
Ảnh hưởng

>1
lần/tuần

Thường
Bậc 4 (nặng)

hen ảnh

Dao


Triệu

hoạt động thể
lực
Giới hạn hoạt

xuyên, liên

>80%

2030%

60-

>30

80%

%

30

động thể lực
%
tục
Ngoài ra, để giúp kiểm soát hen hiệu quả hơn GINA 2006 đưa ra cách




Không

≥ 2 lần/tuần

Không



đêm
Sử dụng thuốc
cắt cơn
Giới hạn hoạt
động
Chức năng phổi
PEF hoặc FEV1
Cơn hen cấp tính

Bình thường
hoặc gần như

kì tuần nào

< 80% giá trị
dự tính

bình thường
Không


những dị nguyên này có thể gây ra các cơn khó thở cho người bệnh khi tiếp
xúc với chúng. Các dị nguyên này có thể có từ: lông, nước bọt, phân… của
chúng.
1.2.3.4 Gián
Gián có thể gây ra các cơn hen do chúng rải ra môi trường các dị
nguyên có thể gây nên những cơn hen. Vì vậy, để hạn chế sự phát triển của
chúng cần giữ môi trường sạch sẽ.
1.2.3.5 Thức ăn
Một số các loại thức ăn có thể gây ra các cơn khó thở cho người bệnh
như: tôm, cua, lạc, các chất phụ gia thực phẩm… Các thức ăn này thường đã
từng gây dị ứng hoặc là những thức ăn mà người bệnh chưa từng ăn hoặc tiếp
xúc. Các chất phụ gia thực phẩm như: sulfites, metabisulfites, sulfur
dioxide…được sử dụng trong các loại thực phẩm hoặc các loại đồ uống như:
rượu, bia, hoa quả khô… đều có thể gây ra các cơn HPQ.

xxiv


1.2.3.6 Bụi nhà
Trong thành phần bụi nhà thường có chứa các con bụi nhỏ mà mắt
thường không nhìn thấy được. Chúng thường sống trong khăn trải, chăn, gối,
rèm cửa…chúng sản sinh ra các dị nguyên bản chất là protein gây kích thích
mạnh đường hô hấp.
1.2.3.7 Phấn hoa, nấm mốc
Đây là nguồn dị nguyên rất phổ biến trong môi trường, phấn hoa có thể
từ các loại cây trồng, hoa trồng hoặc hoa dại. Vào mùa hoa nở, phấn hoa phát
tán vào không khí, người bệnh hít phải có thể gây ra các cơn HPQ. Ngoài ra
các loại nấm mốc cũng có thể là yếu tố gây kích phát cơn hen.
1.2.3.8 Các chất kích thích khác
Tất cả các chất phun xịt có mùi hắc đều có thể là tác nhân kích phát gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status