Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán nguyễn bỉnh khiêm - Pdf 33

Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

Lời nói đầu
Từ trớc tới nay. Khi bàn đến hình tợng tác giả trong thơ nhiều ngời
cho rằng hình tợng tác giả là sự biểu hiện trực tiếp của cái tôi nhà thơ.
Tuy nhiên giữa tác giả tiểu sử và hình tợng tác giả không phải bao giờ
cũng đồng nhất. Bởi hình tợng tác giả đợc biểu hiện hết sức phong phú và
đa dạng.
Vì thế khi nói đến hình tợng tác giả trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh
Khiêm chúng tôi không thể bỏ qua hình tợng con ngời nhà thơ đợc biểu
hiện cụ thể trên những phơng diện nào, dới những dạng thức nào. Và để
lý giải tại sao thơ văn chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm lại có sức sống mãi
trong lòng ngời đọc.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng lý luận và kết
quả của ngời đi trớc. Đặc biệt là nhận đợc sự giúp đỡ của thầy giáo
Phạm Tuấn Vũ và các thầy cô giáo trong tổ "Văn Học Việt Nam I " giúp
đỡ tôi hoàn thành khoá luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hớng dẫn cũng nh các thầy cô giáo trong tổ "Văn Học Việt Nam I ".
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhng do khả năng và điều kiện của sinh
viên bớc đầu tập duyệt nghiên cứu khoa học cho nên khoá luận này sẽ
không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế. Kính mong sự góp ýcủa
các thầy cô và các bạn.
Vinh tháng 5 năm 2005
Nguyễn Văn Thờng

1

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh

đạo đức xã hội
17
2.1. Hình tợng con ngời mất niềm tin vào đạo đức của chế độ phong
kiến đơng thời.
17
2.2. Hình tợng con ngời đau buồn trớc thế thái nhân tình đen
bạc
22
2.3. Hình tợng con ngời bất lực trớc đạo đức cơng thờng đổ
vỡ
29
2.4. Hình tợng một nhà đạo đức giáo huấn ngời đời
34
Chơng 3. Hình tợng tác giả qua chủ đề thiên nhiên
42
3.1. Những biểu hiện của thiên nhiên trong thơ
42
3.2. Hình tợng một con ngời yêu thiên nhiên tha thiết
44
3.3. Hình tợng một con ngời nhàn nhã ẩn dật
53
Phần kết luận
61
Tài liệu tham khảo
63

2

Nguyễn Văn Thờng


nhà nghiên cứu đã chia thành ba mảng lớn: Thơ triết luận; thơ đạo lý và
thơ tả cảnh thiên nhiên. Trong đó hình tợng con ngời Ông luôn có mặt
xuyên suốt qua các dòng thơ và đợc biểu hiện dới nhiều dạng thức khác
3

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

nhau, thể hiện một cách sâu sắc nhất qua tập thơ chữ Hán "Bạch Vân Am
thi tập". Tập thơ này đã đợc Nguyễn Bỉnh Khiêm dồn hết tinh hoa, tâm
huyết của một ngời cầm bút. Qua những vần thơ mang tính triết luận,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bày tỏ lý tởng, tình cảm của mình về đạo đức xã
hội và tình yêu thiên nhiên chân thành sâu sắc. Việc đi vào nghiên cứu
hình tợng tác giả là để tìm hiểu một phơng diện quan trọng của nội dung
t tởng thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
1.3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là cây đại thụ của nền văn hoá Việt Nam
và đợc coi là"bóng toả suốt thế kỷ". Câu nói hình tợng ấy đã chứng tỏ
ảnh hởng to lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch sử t tởng văn hoá nớc nhà, đặc biệt là đóng góp của Ông trong lĩnh vực văn học. Thông thờng chúng ta gọi Ông là một nhà thơ đạo đức, cách định danh này đôi khi
nh là sự phủ nhận tài năng sáng tạo thi ca đích thực của Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Bởi chúng ta còn bắt gặp những vần thơ trữ tình tinh tế, trang nhã
của Ông đặc biệt là khi Ông viết về phong cảnh thiên nhiên đất nớc.Với
việc tìm hiểu hình tợng tác giả còn nhằm khẳng định tài năng sáng tạo
văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
1.4. Từ lâu, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đợc đa vào giảng dạy trong

giả trong thơ, Tác giả tiểu sử, Tác giả với t cách là nhà đạo đức, bậc cao
sỹ ẩn dật... do còn nhiều hạn chế trong khả năng,đặc biẹt là khả năng tiếp
xúc trên nguyên tác và trong khuôn khổ của một luận văn nên chung tôi
giới hạn phạm vi vấn đề trên hai điểm chính:
- Hình tợng tác giả qua việc đề cập đến những vấn đề đạo đức xã
hội.
- hình tợng tác giả qua việc viết về thiên nhiên.
4.Phơng pháp nghiên cứu:
4.1.Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài,chúng tôi sử dụng
các phơng pháp Tổng hợp khái quát và phân tích thơ làm phơng pháp cơ
bản.
4.2.Chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thống kê, so sánh - đối chiếu
để làm nổi bật những nét độc đáo, đặc sắc của hình tợng tác giả trong thơ
chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm.
5.Lịch sử vấn đề.
Trong sự nghiệp sáng tạo của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại
một số lợng lớn tác phẩm thơ văn, ngay từ khi còn sống và sau này thơ
văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thu hút sự chú ý quan tâm của các nhà nho,
các nhà nhiên cứu và lý luận phê bình. Việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày càng có nhiều thành tựu mới, đặc biệt là vào
những thập kỷ cuối của thế kỷ XX.

5

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

ấy làm nên giá trị thơ văn và phẩm chất của con ngời Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Nhìn chung tác giả đã khái quát khá toàn diện giá trị thơ văn
6

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

cũng nh những đức tính, nhân cách con ngời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy
nhiên bài viết lại cha lý giải cặn kẽ Nguyễn Bỉnh Khiêm - một con ngời
luôn bi quan trớc sự xuống cấp của đạo đức phong kiến đơng thời và còn
là một ngời yêu tha thiết quê hơng đất nớc.
Phải nói rằng bài viết làm nổi rõ nhất hình tợng Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong thơ văn là "Lời giới thiệu" của Đinh Gia Khánh trong cuốn
"Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm", Nxb Văn học, H., 1997 với tựa đề
"Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng lo trớc thiên hạ đến già cha thôi". Bài
viết đã lý giải cặn kẽ, thấu đáo tấm lòng "u thời mẫn thế" của Nguyễn
Bỉnh Khiêm trớc hiện thực đạo lý cơng thờng bị rạn nứt, xã hội rối ren,
thói đời điên đảo cũng nh hình tợng một con ngời nhàn tản ẩn dật, yêu
thiên nhiên tha thiết. Tuy nhiên tác giả dùng phơng pháp phê bình văn
học để tiếp cận đối tợng cho nên việc lý giải hình tợng tác giả trong thơ
còn gặp nhiều bất cập. Bởi vậy hình tợng Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên
trong thơ cha thật sự rõ nét và có tính thuyết phục.
Ngoài ra còn có bài viết của Nguyễn Huệ Chi với tiêu đề "Nghệ
thuật thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm" trong "Tạp chí nhà văn", số 3

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

Phần nội dung
Chơng 1: Vấn đề hình tợng tác giả thơ chữ
hán Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1. Hình tợng tác giả nh một phạm trù thi pháp học

Hình tợng tác giả là một vấn đề phức tạp. Trong phạm vi luận này
chúng tôi đa ra những cách hiểu để làm điểm tựa cho việc khảo sát. Theo
chúng tôi trớc hết cần phân biệt khái niệm: Hình tợng tác giả và tác giả
tiểu sử.
1.1.1. Tác giả tiểu sử.
Thi pháp học phân biệt hình tợng tác giả và tác giả tiểu sử nh sau:
Tác giả tiểu sử đợc hiểu là những ngời sáng tạo ra tác phẩm ,là "những
ngời làm ra văn bản ngôn từ : bài văn, bài thơ, bài báo, tác phẩm văn
học..., là ngời làm ra cái mới ,ngời sáng tạo ra các giá trị văn học mới
Trên lập trờng quan điểm t tởng ,tác giả tiểu sử là ngời đại diện cho giai
cấp mình để phát biểu những quan điểm mới ,t tởng mới về các hiện tợng
đời sống nhằm bày tỏ lập trờng xã hội ,lập trờng công dân của mình .Bởi
vậy tiếng nói của nhà văn thờng là tiếng nói đại diện cho giai cấp mình
hay cao hơn là dân tộc mình. Hay nói một cách hình ảnh nh M.Gorky:''
Nhà văn là con mắt ,là lỗ tai của giai cấp".
Mặt khác "Tác giả tiểu sử" còn là ngời sáng tạo ra những hình tợng
nghệ thuật độc đáo, sinh động khả năng tác động sâu sắc đến ngời đọc.
Tuy nhiên mỗi tác giả có giọng điệu riêng, phong cách riêng để phân biệt

cho xã hội, là t tởng tiến bộ của thời đại.
1.1.2. Hình tợng tác giả.
"Hình tợng tác giả là một hiện tợng của văn hoá nghệ thuật, là sản
phẩm sáng tạo của một thời. Nó tồn tại và phát triển trên cơ sở tác giả cụ
thể" [6,110] .
Nh chúng ta biết, nhà nghệ sĩ khi sáng tạo văn học không phải ghi
chép hiện thực đời sống một cách khách quan lạnh lùng mà bao giờ cung
gửi gắm tâm t, tình cảm, những chiêm nghiệm về đời sống của mình vào
trong tác phẩm .Bởi vậy tác phẩm văn học bao giờ cũng in đậm dấu ấn
chủ quan của ngời nghệ sĩ nh lý luận phản ánh Mác xít đã nhận định
:"Tác phẩm văn học là hình ảnh chủ quan về thế giới quan ". "Hình tợng
10

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

tác giả cũng là một hình tợng đựơc sáng tạo ra trong tác phẩm nh hình tợng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo một quan
niệm về con ngời và theo tính cách nhân vật thì hình tợng tác giả đợc xây
dựng theo nguyên tắc tự biểu hiện ,sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối
với nhân vật" [5,20] .
Không nên đồng nhất một cách giản đơn "Hình tợng tác giả" với
"Hình tợng nhân vật" theo nguyên tắc "tự biểu hiện".Bởi "Hình tợng
nhân vật" là nơi tác giả ký thác, gửi gắm thái độ chủ quan của mình vào
đó.

thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thơ là tình cảm, là sự thể hiện bản thân nhà thơ .Nh Cao Bá Quát
nói :"Phẩm chất ngời là phẩm chất thơ... xem ngời thì có thể biết thơ
".Thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm là kết tinh tài hoa, trí tuệ và tâm hồn
ông .Đúng nh trong lời tựa tập thơ chữ Hán "Bạch Vân Am thi tập"
,Nguyễn Bỉnh Khiêm viết :''Mỗi khi đợc th thả lại dậy mà ngâm vịnh
,hoặc la ca tụng cảnh đẹp của sơn thuỷ, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của
hoa trúc, hoặc là tức cảnh ma ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật. Thuỷ
thuỷ đều ghi lại mà thành thơ nói về chữ". Nh vậy cái tâm ,cái lòng và cái
chí của ông đều gửi cả vào trong thơ.
1.2.1- Cơ sở tâm lý.
Hình tợng cái"Tôi" trong nhân cách mỗi ngời với nhu cầu tự biểu
hiện, nhu cầu giao tiếp để tìm sự đồng cảm . Cái"Tôi" theo quan niệm
của triết học: Cái Tôi la trung tâm tinh thần của con ngời, của cá tính con
ngời, có quan hệ chặt chẽ, tích cực đối với thế giới và đối với bản thân
mình. Chỉ có con ngời độc lập kiểm soát những hành vi của của mình và
có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình. Về
chất, cái "Tôi" là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổ quát.
Cái "Tôi"tâm lý với nhu cầu tự biểu hiện, nhu cầu giao tiếp nhằm
tìm sự đồng cảm và thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật là cơ sở cho sự
hình thành cái tôi nghệ thuật. Tự biểu hiện là sự bộc lộ chính mình xuất
phát từ ý thức về giá trị, về sự tồn tại, về quyền sống của cái "Tôi"gắn với
nhu cầu xã hội, từ đó mà dẫn đến ý thức về sự đồng cảm, đợc tìm sự
đồng vọng từ trong trái tim ngời khác, bởi thế mà Tố Hữu nói " Thơ là
một điệu hồn đi tim cái điệu hồn đồng điệu", thơ là tiêng nói t âm, hay
nói nh đại thi hào I.W. Gớt :" những gì khiến tôi vui mừng, đau khổ hay
nói chung thu hút tôi thì tôi cố biến ra thành hình tợng, thành thơ. Tôi cố
12



Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

nớc tha thiết, một ông tiên ẩn dật lấy chữ "Nhàn " làm phơng châm xử
thế và lối sống cho mình.
Có thể nói, hình tợng tác giả trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm
đợc biểu hiện một cách đa dạng, phức tạp và đầy mâu thuẫn. Qua tập thơ
ch Hán "Bạch Vân Am thi tập", chúng ta thấy ông không những thể hiện
thế giới quan, nhân sinh quan mà còn bộc lộ tâm sự, tấm lòng của ông
nữa. Thế giới quan ấy, nhân sinh quan ấy bị sự ràng buộc của ý thức hệ
phong kiến, nhng tâm sự ấy lại chứa chan tình cảm yêu nớc, thơng dân,
yêu thiên nhiên tha thiết. Đi vào tìm hiểu tập thơ""Bạch Vân Am thi tập"
"chúng ta thấy luôn có "một nghệ sỹ giấu mặt ẩn mình. Đằng sau những
hình ảnh những câu chữ ấy vẫn thấy thấp thoáng một con ngời, phải
sáng lòng, sáng mắt bạn đọc mới có thể trở thành một tri âm đồng điệu".
[9,436].
Nh vậy việc xác định cơ sở để tìm hiểu hình tợng tác giả trong thơ
chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm là một việc làm có nghĩa khoa học giúp
chúng ta có đợc cái nhìn đúng đắn và sâu sắc hơn con ngời Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong thơ qua những vấn đề đạo đức xã hội và tình yêu thiên
nhiên.

16

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh



17

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

đốn. Bây giờ đại diện cao nhất của chế độ phong kiến là "vua quỷ", "vua
lợn" đối lập với nhân dân. Mạc Đăng Dung thì lại phản bội cả dân tộc
nữa khi cắt đất cho nhà Minh. Sau "vua quỷ", "vua lợn" đến vua nhà Mạc
nh Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên cũng nổi tiếng là xa hoa dâm đãng.
Do vậy xã hội Việt Nam thế kỷ XVI là xã hội trong đó nhân tâm đã ly
tán, luân lý đạo đức đã suy đồi đến cực điểm. Không còn đâu nữa vai trò
tích cực của nho giáo, của chế độ phong kiến mà Nguyễn Bỉnh Khiêm
hằng tôn thờ nh ông có lần nói:
"Thặng hỷ t văn thiên vị táng
Chí kim hạnh đắc lộc thu dơng"
(Ngụ Hứng, 1)
(Rất mừng t văn trời cha làm mất - Đến nay còn may đợc đem phơi
trớc ánh nắng mùa thu)
Cái văn ấy mặc dù cha mất đi, nhng bớc đầu xuất hiện sự rạn nứt,
không còn đâu nữa cảnh minh tôi, minh thần, vua sáng tôi hiền, nhân dân
sống yên bình hạnh phúc ... Mà nổi lên là cảnh vua quan ăn chơi xa xỉ,
thối nát và thái độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là lên án, phê phán gay gắt
những kẻ thống trị bọn nhà giàu lòng dạ hiểm ác. "khi ở triều đình thì

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

triều đại, mà ở đó ngời mình yêu thơng, quan tâm đến nhau, nơng tựa lẫn
nhau mà ông đã khái quát qua bài thơ nôm:
"Tôi hết ngay, chầu chực chúa,
Con hằng thảo, kính thờ cha
Anh em mựa nữa điều hơn thiệt
Bầu bạn cho hay nết thật thà
Nghĩa vợ chồng xem rất trọng
ở đầu phong hoá phép chng nhà"
(Cơng thờng tổng quát)
Do đó thái độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là phủ nhận những đua chen
danh lợi những cảnh giành giật nhau trong triều đình, cảnh quan đảo lộn
vua - tôi; cha - con, anh - em, vợ - chồng. Sự thực đau lòngvẫn diễn ra trớc mắt ông với những cảnh:
"Tử hiếu t sài lang
Quân thần quý phong nghị"
(Cảm hứng,300)
(Cha phải từ, con phải hiếu mà đem lòng sài lang - Đạo làm vua;
đạo làm tôi, mà hổ thẹn với ong kiến)
Cái lo, cái thơng của ông cho đạo đức suy vi, cơng thờng đảo lộn, lo
cho sự chơi bời đàng điếm của giai cấp cầm quyền đã thực sự diễn ra và
ông chỉ biết đứng nhìn và than thở:
"Trị nhất ô du hạ

sự thúc đẩy giao lu kinh tế nó cũng còn làm đảo lộn những chuẩn mực
giá trị đạo đức, lễ nghĩa đã hình thành. Tất cả hiện thực ấy đã đợc Trạng
Trình ý thức và thể hiện hết sức sâu sắc trong thơ văn với một sự đau
buồn day dứt không nguôi.
Sự suy đồi đạo đức biểu hiện trớc hết ở tầng lớp thống trị, những ngời nắm giữ vận mệnh đất nớc, nắm giữ vận sinh mệnh của nhân dân mà
ngập chìm trong những cuộc ăn chơi trác táng, quên hết trọng trách của
mình.
"Tiền hô binh thiên nhân
Hậu ủng mã bách sất
Tiếng việt hoàn tả hữu
Trì đại liệt giáp ất
Tần dẳng đấu ỷ la
Khí mãnh thì dã tất
Phòng lung quýnh liên tinh
Lẫm dữu xán tỉ chất
Kịch thời thê chu, chu
Thanh trì dơng tức tức
Nô bộc khí trớng hoàng
Đồng trĩ yếm tạo lật"
(Cảm thời cổ ý)
(Tiền hô quân hàng nghìn ngời, hậu ủng hậu hàng trăm cỗ. Cờ tiết
cờ việt vây bên trái, bên phải. Ao hồ, đài tạ bầy ra nơi này chốn nọ. Tỉ
thiếp đua mặc gấm là. Dụng cụ dùng đồ đúc đồ sơn, cửa ở phòng rực
sáng nh sao chi chít, kho đụn răm rắp kế nhau nh răng cài lợc. Buổi tối
23

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


nhau về danh, ở chợ búa dành nhau cái lợi. Khoe là sang thì xe mát quán
ấm, khoe là giàu thì nhà múa lầu hát, thấy ngời chết đói ngoài đờng,
không dám bỏ đồng tiền ra cứu giúp ... Sang thì chế giễu kiêu ngạo, giàu
thì đa đến chỗ xa xỉ... say rợu nồng, no chất tơi, mặc áo nhẹ, cỡi ngựa
béo ... tối mắt về lợi lộc nh cuồng nh điên.

24

Nguyễn Văn Thờng

Đại học Vinh


Khoá luận tốt nghiệp

văn học Việt Nam I

Đặc biệt đối với công danh, Nguyễn Bỉnh Khiêm suy nghĩ, day dứt,
trớc tình trạng tranh giành, ganh đua quyền lực, cảnh cá lớn nuốt cá bé,
kẻ sang ức hiếp ngời hèn yếu:
"Vân hồ cự giang ng,
Thi cờng thực nhợc phục
Bất thí xà thôn phệ
Đại đồng lai khu trục
ô trì vi nhất không
thao tâm vị yểm túc
chỉ yếu vi thân phì,"
(Lâm quán quan ng, kiếm cự ng thực tiểu ng cảm tác)
(Sao mà con cá lớn ở ngoài sông kia - Cậy khỏe ăn thịt con nhỏ Chẳng khác gì con rắn nuốt ngốn - Cũng giống nh con rái (cá)lùng đuổi Ao ngầu bỗng rỗng không - Lòng tham cha no chán - chỉ cốt béo thân
mình).
Trích đoạn Hình tợng một con ngời yêu thiên nhiên tha thiết. Hình tợng một con ngời nhàn nhã ẩn dật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status