Bài tập tình huống với rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng việt cho học sinh tiểu học - Pdf 33

Luận văn tốt nghiệp đại học

Lời nói đầu
Tiếng Việt là một môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trờng tiểu học. Dạy học tiếng Việt nhằm giúp học sinh có những hiểu biết sơ
giản về tiếng Việt, hình thành và phát triển ở các em những kỹ năng sử
dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong cuộc sống. Nó đòi hỏi phải
có sự dày công nghiên cứu, biên soạn nội dung chơng trình và sử dụng phơng pháp dạy học thích hợp.
Tìm hiểu thực trạng dạy học tiếng Việt ở tiểu học hiện nay, chúng
tôi nhận thấy vấn đề rèn luyện các kỹ năng thực hành tiếng Việt: đọc,
nghe, nói, viết cho học sinh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là những khó khăn
trong việc sử dụng bài tập dạy Tiếng. Vì vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu
về vấn đề "Bài tập tình huống với việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng
Việt cho học sinh tiểu học", với mong muốn góp tiếng nói chung vào vấn
đề đang đợc mọi ngời quan tâm - vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học.
Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
hớng dẫn Lê Thị Thanh Bình, cùng các thầy cô giáo trong khoa, các thầy
cô ở trờng tiểu học Hà Huy Tập I và các bạn đã động viên, giúp đỡ nhiệt
tình, chu đáo, giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này.
Đề tài đợc thực hiện trong thời gian ngắn và điều kiện gặp không ít
khó khăn, tầm hiểu biết của ngời viết còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo của các
thầy cô và các bạn.
Vinh, tháng 5 - 2003

Tác giả

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

1



2


Luận văn tốt nghiệp đại học

Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt ở tiểu học cũng có sự đổi mới
nhằm nâng cao chất lợng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới nói trên trong phạm
vi môn học, bậc học của mình.
1.3. Môn Tiếng Việt ở trờng tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Việc dạy tiếng Việt nhằm vào cả hai chức
năng của ngôn ngữ (công cụ của t duy và công cụ của giao tiếp), chú trọng vào cả
4 kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết. Vì vậy, nội dung chơng trình cũng nh phơng pháp
dạy học tiếng Việt đều đợc đổi mới.
Tuy nhiên tìm hiểu thực trạng dạy học tiếng Việt ở trờng tiểu học hiện nay,
bên cạnh những thành công vẫn còn những bất cập so với yêu cầu đề ra. Hiệu quả
của những giờ Tiếng Việt cha cao, việc nắm tri thức tiếng Việt cha đi liền với
việc sử dụng tiếng Việt, đã chú ý đến thực hành nhng cha phải là thực hành trong
giao tiếp, giờ học Tiếng Việt cha tạo hứng thú cho học sinh
Quá trình tìm hiểu cho thấy, vấn đề sử dụng bài tập trong dạy học tiếng
Việt là một vấn đề trăn trở của nhiều giáo viên, đặc biệt là việc xây dựng bài tập
tình huống nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành ngôn ngữ cho học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Bài tập tình huống
với việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh tiểu học".
2. Mục đích nghiên cứu.
Luận văn đa ra một hệ thống bài tập tình huống để rèn kỹ năng sử dụng
tiếng Việt cho học sinh tiểu học, khắc phục những hạn chế của hệ thống bài tập
trong sách giáo khoa bài tập Tiếng Việt hiện hành, nhằm nâng cao chất lợng dạy
học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo ở học
sinh trong quá trình học tập.
3. Khách thể và đối tợng nghiên cứu.

các bài tập tình huống phù hợp nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành ngôn ngữ cho
học sinh, từ đó hình thành năng lực cảm thụ văn học, năng lực sử dụng tiếng Việt
cho học sinh trong học tập nói riêng và trong giao tiếp cuộc sống nói chung.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài.

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

4


Luận văn tốt nghiệp đại học

- Tìm hiểu thực trạng dạy học tiếng Việt ở trờng tiểu học hiện nay.
- Xây dựng hệ thống bài tập tình huống nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng
tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.
- Tiến hành thực nghiệm s phạm để thu thập kết quả, đánh giá hiệu quả của
việc sử dụng bài tập tình huống trong thực tiễn dạy học tiếng Việt ở tiểu học.
7. Phơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đợc luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp
nghiên cứu sau:
7.1. Phơng pháp thống kê - phân loại: để khảo sát, phân loại các bài tập
trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học hiện hành.
7.2. Phơng pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Phơng pháp nghiên cứu lý luận nhằm nghiên cứu những thành tựu mới
nhất trong tâm lý học, giáo dục học, ngôn ngữ học để xây dựng cơ sở lí luận cho
đề tài.
Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học tiếng

Phần III: Kết luận.
Tài liệu tham khảo

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

6


Luận văn tốt nghiệp đại học

Phần II: Nội dung

Chơng I:

Cơ sở lý luận và thực tiễn

I. Cơ sở lý luận
1. Kỹ năng sử dụng tiếng Việt đối với học sinh Tiểu học

1.1. Kỹ năng là gì ?
Theo quan niệm của tâm lý học hiện đại, trong quá trình dạy học, giáo
viên thờng truyền đạt cho học sinh những tri thức. Nắm đợc tri thức là hiểu biết
và ghi nhớ đợc những khái niệm khoa học. Tiến thêm một bớc nữa là vận dụng tri
thức, khái niệm, định nghĩa, định luậtvào thực tiễn thì sẽ có kỹ năng. Nh ng kỹ
năng vẫn còn là hành động ý chí đòi hỏi phải "động não", suy xét, tính toán, phải
có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành đợc. Nh vậy, kỹ năng chính là sự vận dụng
những kiến thức đã thu nhận đợc ở một lĩnh vực nào đó vào việc thực hiện có kết
quả một thao tác, một hoạt động tơng ứng phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực
tế đã cho.
Kỹ năng không đơn thuần là những thao tác chân tay mà là những thao tác

thuyết tiếng Việt việc vào thực hành: đọc, nghe, nói, viết.
Trong nhà trờng, kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh thể hiện ở khả
năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp.
Kỹ năng sử dụng tiếng Việt là trọng tâm học và luyện tập suốt bậc Tiểu
học. Đồng thời các kỹ năng này cũng gắn liền với cuộc sống của con ngời. Vì
vậy nó cần đợc rèn luyện một cách có hệ thống và liên tục.
Việc rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt phải gắn với hoạt động của các giác
quan và gắn với họat động của t duy: kỹ năng sử dụng tiếng Việt có hai phơng
diện: phơng diện kỹ thuật và phơng diện thông hiểu hoặc diễn đạt nội dung. Một
ngời muốn nói hoặc muốn viết đợc trớc tiên phải xây dựng nội dung các thông
báo (lập mã), sau đó truyền thông báo đi (bằng âm thanh hoặc chữ viết). Một ngời muốn nghe hoặc đọc đợc trớc tiên phải biết tiếp nhận đợc các thông báo (qua
việc nghe âm thanh hoặc đọc chữ viết), sau đó giải mã để hiểu đợc nội dung chứa
đựng trong thông báo đó. Nh vậy, hàng loạt các thao tác t duy đợc huy động nh
lựa chọn, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóaViệc rèn luyện các
kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh Tiểu học không chỉ dừng lại ở mặt kỹ
thuật, phải tiến tới sự thông hiểu nội dung của việc sử dụng tiếng Việt.

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

8


Luận văn tốt nghiệp đại học

Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt phải trên cơ sở tri thức tiếng Việt.
Các kỹ năng sử dụng tiếng Việt và tri thức tiếng Việt có mối quan hệ nội tại chặt
chẽ. Các kỹ năng sử dụng tiếng Việt nhằm giúp cho học sinh nhận diện, phát
hiện, hoàn thiện các tri thức tiếng Việt. Tri thức tiếng Việt góp phần ý thức hóa
các kỹ năng vừa học.
Kỹ năng sử dụng tiếng Việt cần đợc luyện tập trong các dạng hoạt động lời


Đọc là hoạt động nhận tin. Hoạt động đọc chỉ xảy ra khi ngời đọc nắm đợc
chữ viết. Đọc là dùng mắt và cơ quan thị giác để chuyển các ký hiệu chữ viết
trong văn bản thành dòng âm thanh ngôn ngữ (vang lên trong không khí hoặc
trong đầu). Sau đó, ngời đọc phải dùng các thao tác t duy để thông hiểu nội dung
văn bản.
ở trờng tiểu học, phân môn tập đọc có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh kỹ
năng đọc. Kỹ năng đọc là sự vận dụng những tri thức lý thuyết về đọc vào việc
thực hiện đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm một văn bản. Yêu cầu đọc đúng,
đọc rõ ràng, rành mạch, đọc thông thạo và lu loát là yêu cầu đầu tiên nhà trờng
phải rèn luyện cho học sinh. Yêu cầu đọc hiểu là một yêu cầu quan trọng cần chú
ý khi dạy tập đọc. Yêu cầu đọc diễn cảm với quan niệm nhằm mục đích rèn
luyện kỹ năng đọc và kỹ năng cảm thụ văn học cho học sinh.
Có nhiều yếu tố ảnh hởng đến kỹ năng đọc. Đó là khả năng hoạt động của
cơ quan thị giác và cơ quan phát âm, trình độ am hiểu về đề tài sẽ đọc, năng lực
cảm thụ văn học, các kỹ thuật xử lý giọng đọc để diễn đạt cảm xúcVì vậy, ng ời
giáo viên phải có biện pháp dạy học tác động vào cả mặt kỹ thuật và mặt thông
hiểu nội dung của quá trình đọc; xác định phơng pháp dạy học thích hợp cho
từng lớp học để đa lại hiệu quả của việc hoạt động ngôn ngữ.
1.3.2. Kỹ năng nghe.
Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác. Đầu tiên ngời nghe
phải nghe chính xác, đầy đủ thông báo. Sau đó, nhờ các hoạt động của t duy mà
chúng ta hiểu đợc nội dung các thông báo.
Trong trờng tiểu học, học sinh phải nghe trong nhiều trờng hợp, phổ biến
nhất là nghe thầy giảng bài, nghe phát biểu ý kiến xây dựng bài, nghe trao đổi
thảo luận khi họcNhiều trờng hợp học sinh nghe mà chỉ hiểu một phần, thậm
chí không hiểu hoặc có hiểu thì hiểu không thấu đáo, đầy đủ, không hiểu hết sự
tinh vi của lời ngời nói. Vì vậy, nhà trờng cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng
nghe.
Kỹ năng nghe là sự vận dụng những tri thức lý thuyết về nghe vào việc

thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập vào trong giao tiếp cuộc sống, thể
hiện trình độ văn minh lịch sự của ngời có học. Cùng với yêu cầu của việc sử
dụng kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng nói ngày càng đợc coi trọng trong dạy học tiếng
Việt ở bậc tiểu học.
Có nhiều yếu tố ảnh hởng đến kỹ năng nói, cũng nh kỹ năng nghe, phải kể
đến hoạt động của bộ máy phát âm. Mặt khác, vốn sống, vốn hiểu biết sâu rộng
của ngời nói, khả năng ứng đối nhanh nhạy, thông minh, cách chọn đề tài là
những yếu tố ảnh hởng lớn đến sự thành bại của bài nói hoặc câu trả lời. Ngoài ra
Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

11


Luận văn tốt nghiệp đại học

các thủ thuật để lời nói gây sự hấp dẫn (cách sử dụng giọng nói, lời kể, các yếu tố
phụ trợ) là những yếu tố cần tính tới khi rèn luyện kỹ năng nói.
1.3.4. Kỹ năng viết.
Chữ viết là một hệ thống ký hiệu ngôn ngữ bằng đồ hình đợc quy định
thống nhất ở từng quốc gia hoặc từng dân tộc. Để viết đợc chữ, ngời viết phải
nắm đợc mẫu chữ, nắm các thao tác viết, các loại nét chữ, nắm các quy định về
cách ngồi viết, cách cầm bút đa bút thành nét
Sự vận dụng những tri thức về chữ viết cùng với sự sáng tạo trong nhận
thức để viết chữ và viết văn bản, thực hiện nhiệm vụ học tập gọi là kỹ năng viết.
Kỹ năng viết gồm kỹ năng viết chữ và kỹ năng viết văn bản.
Kỹ năng viết chữ là kỹ năng thiên về mặt kỹ thuật, đòi hỏi sự khéo léo,
kiên trì luyện tập. ở tiểu học, kỹ năng này đợc thực hành từ bài học âm đầu tiên,
kéo dài suốt đến lớp 3 và học kỳ I của lớp 4.
Kỹ năng viết văn bản đối với Tiểu học ở mức độ thấp là chép lại, ghi lại
các văn bản đã có theo lời ngời khác đọc hoặc dựa vào trí nhớ. Đó là loại bài

cứu và giải quyết tình huống có vấn đề sẽ là những tri thức mới, nhận thức mới
hoặc phơng thức hành động mới đối với chủ thể.
Trong dạy học, việc tạo ra các tình huống có vấn đề có ý nghĩa rất quan
trọng. Nó kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của ngời học, giúp ngời
học lĩnh hội tri thức mới, đồng thời cũng làm xuất hiện mâu thuẫn mới tạo ra nhu
cầu, động cơ để giải quyết mâu thuẫn mới. Phơng tiện để đạt đợc hiệu quả đó
chính là việc sử dụng bài tập tình huống.
2.1.2. Bài tập tình huống.
Bài tập tình huống là việc đa ra những yêu cầu đòi hỏi học sinh phải biết
vận dụng những điều đã học, biết tìm tòi khám phá để giải quyết vấn đề gặp phải.
Nói cách khác, bài tập tình huống là bài toán Ơristic chứa đựng mâu thuẫn nhận
thức. Mâu thuẫn này phải có tác dụng kích thích đợc tính tích cực trong học sinh,
học sinh chấp nhận nó nh một nhu cầu và có khả năng giải quyết đợc hoặc dới sự
hớng dẫn của giáo viên mà học sinh có thể giải quyết đợc.
Nhìn ở khía cạnh tâm lý, bài tập tình huống đợc hiểu là những "trở ngại"
xảy ra trong quá trình nhận thức của học sinh, học sinh chấp nhận nó nh một nhu
cầu cần giải quyết nhằm đa lại tri thức mới. Tự mình khám phá ra vấn đề đem lại
cho học sinh niềm vui trí tuệ khác thờng. Đó là một trong những tình cảm hân
hoan trong sáng nhất trong quá trình học tập.
Việc đa những bài tập tình huống vào trong giờ học có thể trở thành một
phơng tiện giáo dục phát triển vô cùng quan trọng trong nhà trờng hiện nay. Các
Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

13


Luận văn tốt nghiệp đại học

loại khó khăn nh vậy càng đợc vợt qua nhiều bao nhiêu và có kết quả bao nhiêu
thì càng phát triển đợc cho trẻ nhiều phẩm chất tốt nh tính độc lập, tính tích cực

14


Luận văn tốt nghiệp đại học

hình thành năng lực ngôn ngữ, phát triển t duy. Hoạt động giải bài tập là điều
kiện thực hiện tốt các mục đích dạy học. Vì vậy, tổ chức thực hiện có hiệu quả
các bài tập này có vai trò quyết định đối với chất lợng dạy học nói chung và chất
lợng dạy học tiếng Việt nói riêng.
Tình huống trong dạy học tiếng Việt là các tình huống ngôn ngữ. Vậy đặc
điểm của nó nh thế nào ?
2.2.1. Đặc điểm của bài tập tình huống trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học.
a. Bài tập tình huống phải phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng phân
môn, từng bài học cụ thể.
Trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong các phân môn của Tiếng Việt
nói riêng luôn đặt ra những mục tiêu rất cụ thể, rõ ràng.
Về mặt kiến thức: đó là sự lĩnh hội, hiểu biết tri thức tiếng mẹ đẻ.
Về mặt kỹ năng: luôn đặt ra 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt: đọc, nghe, nói, viết
Về mặt thái độ: là gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc.
Mục tiêu đó đợc thể hiện trong việc xây dựng nội dung ở tất cả các phân
môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Mỗi phân môn coi trọng những kỹ năng nhất định.
Phân môn tập đọc rèn luyện kỹ năng đọc, phân môn tập viết rèn luyện kỹ năng
viết, phân môn tập làm văn rèn luyện kỹ năng nói, viết. Riêng kỹ năng nghe
không đợc đặt trọng tâm nh vậy nhng nó đợc rèn luyện một cách tự phát qua việc
học tất cả các phân môn từ tập đọc, chính tả đến kể chuyệnVì vậy, trong dạy
học tiếng Việt nói chung và dạy học theo phơng pháp nêu vấn đề (ở đây là sử
dụng bài tập tình huống) nói riêng phải căn cứ vào mục tiêu của từng phân môn
nhất định. Chẳng hạn, cùng rèn luyện kỹ năng nghe nhng chính tả rèn cho học
sinh nghe đúng, nghe chính xác để viết đúng, chính xác bài chính tả. Tập đọc rèn
cho học sinh nghe đúng, nghe chính xác, nghe tinh tế để nhận ra sự diễn cảm

Cùng tác phẩm "Chú mèo con" (Tiếng Việt 3 - tập 2 - CCGD) nhng trong tập đọc
giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ: "nép", "rình", "chồm", "nhảy". Còn trong
ngữ pháp, giúp học sinh hiểu đợc hình thức sử dụng: Đó là các từ tả động tác,
hoạt động của chú mèo và những từ đó là động từ. Và tác phẩm đó cũng có thể là
bài tham khảo cho học sinh khi đứng trớc đề bài tập làm văn: Tả con vật mà em
yêu thích.
Nh vậy, với mỗi thể loại, mỗi bài học, mỗi tiết học cần phải xây dựng
những bài tập phù hợp vừa trách đợc sự nhàm chán, vừa kích thích đợc sự hứng
thú học tập của các em.
c. Bài tập tình huống phải phù hợp với tiến trình giờ học.
Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

16


Luận văn tốt nghiệp đại học

Phơng pháp dạy học hiện đại là phơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung
tâm, nghĩa là hớng đến sự hoạt động tích cực của học sinh, học sinh phải tự mình
tìm kiếm tri thức. Vì vậy, quá trình dạy học là quá trình giáo viên hớng dẫn, tổ
chức còn học sinh là ngời chủ động tìm hiểu nội dung, bản chất của vấn đề.
Thông thờng, một giờ học bao giờ cũng có giới thiệu bài; nội dung bài và
luyện tập củng cố. Với những tiến trình đó có những công việc thích hợp.
Nội dung của bài học luôn yêu cầu học sinh phải phát hiện ra các yếu tố
của vấn đề, tái hiện đợc các yếu tố đó dới dạng trả lời câu hỏi hoặc giải mã bài
tập và cuối cùng là nâng cao, khái quát hóa đợc bản chất vấn đề. Bài tập tình
huống trong dạy học tiếng Việt đồng thời cũng phải phù hợp với tiến trình đó.
Quá trình tự giải mã bài tập theo lôgic của sự phát triển t duy (phát hiện tái
hiện nâng cao) sẽ kích thích đợc sự tích cực tự giác của học sinh, giúp các em
hiểu rõ, khắc sâu nội dung bài học. Và trong dạy học Tiếng Việt, hệ thống bài tập

những gì các em có đợc vẫn cha đáp ứng đợc dầy đủ nhu cầu trong những hoàn
cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống. Về mặt chất lợng, sự hiểu biết nghĩa từ của
các em còn nghèo nàn, cha sinh động. Câu nói khi diễn đạt những ý tơng đối
phức tạp thì mang nhiều sai phạm về ngữ pháp. Ngôn ngữ của các em thờng dùng
là một kiểu loại khẩu ngữ, hồn nhiên nhng thiếu gọt giũa nên nhiều chỗ cha đợc
chuẩn. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta đặt ra và coi trọng hơn vấn đề
dạy lý thuyết ngôn ngữ. Việc dạy lý thuyết ngôn ngữ đợc tiến hành song song với
việc thực hành ngôn ngữ, hình thành ở các em các kỹ năng sử dụng tiếng Việt:
đọc, nghe, nói và viết.
Dạy học Tiếng Việt vừa phải phát huy đợc vốn ngôn ngữ sẵn có của học
sinh, vừa hớng đến sự phát triển ngôn ngữ của các em. Các nhiệm vụ trên chỉ có
thể thực hiện đợc thông qua hệ thống bài tập tơng ứng. Có nh vậy, việc dạy học Tiếng Việt mới đạt đợc hiệu quả mong muốn.
e. Bài tập tình huống phải chính xác, rõ ràng, ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu.
Để đáp ứng nhu cầu học tập và khả năng ngôn ngữ của học sinh Tiểu học,
nhà trờng cần đa đến cho các em nội dung học tập phong phú, đảm bảo tính khoa
học, hiện đại và chuẩn mực cuộc sống. Vì vậy, bài tập tình huống cần đạt đến độ
chuẩn xác cao, nội dung kiến thức cần cung cấp cho học sinh phải đảm bảo tính
chất khoa học của ngôn ngữ. Đồng thời, yêu cầu nội dung bài tập cũng phải rõ
ràng, dễ hiểu. Xây dựng bài tập tình huống trong dạy học tiếng Việt để phát triển
kỹ năng thực hành ngôn ngữ cho học sinh Tiểu học thể hiện trớc hết ở lệnh đề
của bài tập và những gợi ý định hớng để học sinh tự khám phá tri thức. Yêu cầu
này thể hiện ở việc dùng từ, đặt câu và diễn đạt ý.
Dùng từ phải chính xác, trong sáng, dễ hiểu, mỗi từ phải mang một nội
dung xác định, loại trừ các cách dùng từ mang tính nhiều nghĩa của phong cách
Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

18


Luận văn tốt nghiệp đại học


Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

19


Luận văn tốt nghiệp đại học

vậy, vừa đảm bảo đợc mục tiêu của giờ học, vừa phát huy đợc tính tích cực sáng
tạo trong học tập của học sinh, mang lại hiệu quả giờ học cao.
2.2.2. Nguyên tắc xây dựng bài tập tình huống trong dạy học tiếng Việt
ở Tiểu học.
Để thực hiện đợc quan điểm về bài tập tình huống và đáp ứng đợc nhiệm
vụ của phân môn, hệ thống bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng thực hành ngôn
ngữ cần phải xây dựng theo những nguyên tắc sau:
a. Đảm bảo tính khoa học.
Bài tập tình huống phải chỉ rõ đợc vai trò, vị trí của các thành phần kiến
thức của từng bài học cụ thể. Đối với môn Tiếng Việt, phải đảm bảo tính chính
xác, hiện đại của nội dung dạy học, chỉ đạo việc xác định chuẩn kiến thức cho
bài tập đợc đa vào sử dụng trong giảng dạy.
b. Đảm bảo tính hệ thống.
Tình huống có vấn đề phải đảm bảo đợc tính lôgic nhận thức, từ hiện tợng
đến bản chất, mối quan hệ bản chất giữa các bài học và các nội dung học tập
khác có liên quan. Hệ thống bài tập tình huống trong dạy học tiếng Việt phải đợc
xây dựng trên cơ sở hệ thống các văn bản dạy trong chơng trình Tiếng Việt tiểu
học. ở đây, chỉ xây dựng những bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh kỹ
năng thực hành ngôn ngữ: đọc, nghe, nói, viết.
c. Đảm bảo tính vừa sức.
Việc xây dựng bài tập tình huống phải tính đến quá trình nhận thức của
học sinh, phải vừa sức đối với học sinh. Hay nói cách khác khi xây dựng bài tập,

học bằng hệ thống bài tập. Đó chính là cơ sở về mặt lý luận cho việc xây dựng hệ
thống bài tập tình huống nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học
sinh Tiểu học.
2.2.3. Các loại bài tập tình huống.
Dạy học bằng bài tập tình huống là một hình thức của việc dạy học giải
quyết vấn đề đòi hỏi phải xuất phát từ mục tiêu, nội dung của từng môn học, từng
bài học cụ thể. Chính vì vậy, việc phân loại bài tập tình huống cũng có những căn
cứ khác nhau và có hệ thống bài tập tình huống tơng ứng.
- Hệ thống bài tập tình huống theo phơng pháp dạy học có bài tập tình huống
dùng lời, bài tập tình huống thực hành, bài tập tình huống luyện tập, ôn tập.
- Hệ thống bài tập tình huống theo các bớc lên lớp gồm bài tập tình huống
vào bài, bài tập tình huống phát triển bài, bài tập tình huống luyện tập củng cố.

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

21


Luận văn tốt nghiệp đại học

- Hệ thống bài tập tình huống theo cấu trúc của kỹ năng sử dụng tiếng Việt
có bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng nghe, bài tập tình huống rèn luyện kỹ
năng nói, bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng đọc và bài tập tình huống rèn
luyện kỹ năng viết.
- Hệ thống bài tập tình huống theo các loại tình huống có các bài tập: bài
tập tình huống phát hiện, bài tập tình huống lựa chọn, bài tập tình huống bế tắc,
bài tập tình huống nghịch lý, bài tập tình huống tự luận, bài tập tình huống giả
định, bài tập tình huống đóng vai.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hệ thống các bài tập tình huống
phân theo các loại tình huống tơng ứng và trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học, đó

phải đọc kỹ nội dung, nghiên cứu nó. Khả năng làm quen với tiếng Việt và rèn
luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt, nâng cao năng lực cảm thụ văn học cũng
đợc hình thành qua việc giải quyết các bài tập tình huống này.
- Bài tập tình huống lựa chọn: Là bài tập đặt học sinh trớc một mâu thuẫn
với nhiều phơng án giải quyết. Các em phải tìm ra đợc phơng án giải quyết đúng
nhất. Trong dạy học Tiếng Việt, các tình huống đó là các tình huống ngôn ngữ và
sự lựa chọn đó là sự lựa chọn theo đặc trng môn học. Chẳng hạn, việc lựa chọn
nghĩa của từ trong phân môn từ ngữ là việc tìm nghĩa chuẩn nhng trong phân
môn tập đọc đó là nghĩa của văn cảnh. Bài tập này đợc sử dụng nhiều trong dạy
học Tiếng Việt. Đó có thể là bài tập lựa chọn đúng sai, lựa chọn bằng trắc
nghiệm, lựa chọn bằng gạch nối và lựa chọn điền thế, điền từ. Để giải quyết đợc
các loại bài tập này, học sinh cần có vốn tri thức về tiếng Việt, khả năng vận
dụng chúng vào việc học. Trên cơ sở đó các kỹ năng đọc, nói, viết của học sinh
sẽ đợc rèn luyện và củng cố.
- Bài tập tình huống bế tắc: Khi xây dựng bài tập này phải chứa đựng "nút" bế
tắc, học sinh thoạt đầu không thể lấy kiến thức cũ để giải quyết đợc. Các em phải
tìm tòi, tháo gỡ khó khăn gặp phải. Đây là loại bài tập thờng gắn liền với việc tìm
ra khái niệm, bản chất của ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, tri thức tiếng Việt đợc
cung cấp ở hầu hết các phân môn nhng thể hiện rõ nhất là trong phân môn tập
đọc, từ ngữ, ngữ pháp và tập làm văn. Việc tháo đợc "nút" sẽ là động lực thúc đẩy
học sinh tự tìm kiếm, lĩnh hội tri thức. Đây cũng là phơng tiện để học sinh luyện
nói, viết có hiệu quả.
- Bài tập tình huống nghịch lý: Dựa vào mâu thuẫn trong nhận thức của
học sinh, các em phải phân tích, lý giải, bác bỏ hay công nhận về một kết quả
thuận và nghịch với lôgic thông thờng, lôgic trong nhận thức ngôn ngữ văn học.

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

23


- Bài tập tình huống đóng vai: Học sinh đợc đặt mình vào vị trí của nhân
vật, đợc đọc, đợc nói, đợc thể hiện mình bằng những điệu bộ, cử chỉ tự nhiên của
các em. Học sinh có thể đọc phân vai hoặc đóng họat cảnh. Bên cạnh yêu cầu về
tri thức chuẩn, học sinh sẽ tìm tòi và có những sáng tạo bất ngờ. Việc sử dụng bài
tập này sẽ kích thích đợc vai trò tích cực, sáng tạo của học sinh, đồng thời rèn

Trịnh Thị Nhung: 40A1 - GDTH

24


Luận văn tốt nghiệp đại học

luyện kỹ năng thực hành ngôn ngữ cho học sinh theo hớng gắn với họat động
giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp.
Tuỳ thuộc vào từng phân môn, từng bài cụ thể trong dạy học tiếng Việt để
chúng ta sử dụng các loại bài tập tình huống hợp lý, đa lại hiệu quả dạy học cao,
phát huy đợc t duy sáng tạo, năng lực ngôn ngữ cho học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn - thực trạng việc rèn luyện kỹ năng
sử dụng tiếng Việt ở Tiểu học
1. Thực trạng kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh Tiểu học

Môn Tiếng Việt hiện hành (chơng trình 165 tuần) đợc giảng dạy ở tiểu học
gồm 8 phân môn. Số tiết học theo các lớp đợc phân bố nh sau
Phân
môn
Học
Lớp
vần
1


Tập
viết
2
2
1
0,5
0

Từ
ngữ
-Ngữ
pháp
1
1
2
2

Tập
làmvăn

Tổng
cộng

1
2
1,5
2

13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status