Pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn tại hà nội luận văn ths luật 6 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ THU THỦY

PH¸P LUËT §IÒU CHØNH QUAN HÖ THU£ §ÊT GI÷A NHµ N¦íC
Vµ NG¦êI Sö DôNG §ÊT Tõ THùC TIÔN T¹I Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ THU THỦY

PH¸P LUËT §IÒU CHØNH QUAN HÖ THU£ §ÊT GI÷A NHµ N¦íC
Vµ NG¦êI Sö DôNG §ÊT Tõ THùC TIÔN T¹I Hµ NéI
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

Hà Nội - 2013



1.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và
người sử dụng đất ............................................................................................ 22
1.3.1. Nội dung của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà
nước và người sử dụng đất .............................................................................. 22
1.3.2. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà
nước và người sử dụng đất .............................................................................. 24
1.4. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất
giữa Nhà nước và người sử dụng đất .............................................................. 24
Chương 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT
GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT: THỰC TRẠNG,
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HÀ NỘI .................................................. 28
2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất và thực tiễn thực hiện
tại Hà Nội ........................................................................................................ 28


2.1.1. Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất .................... 28
2.1.2. Các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho thuê đất ................. 38
2.1.3. Các quy định về giá đất ......................................................................... 46
2.1.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê
đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất ........................................................ 50
2.2. Đánh giá chung thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa
Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện tại Hà Nội ................. 57
2.2.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 57
2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân .............................................. 60
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐƯỢC ĐỀ XUẤT TỪ NGHIÊN
CỨU THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ
ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ........................... 68
3.1. Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê
đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất ........................................................ 68
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ


:

Nghị quyết



:

Quyết định

WTO

:

Tổ chức Thương mại thế giới

TT

:

Thông tư

UBND

:

Ủy Ban nhân dân




đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng dự án còn xảy ra ở nhiều địa
phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong dư luận. Nhiều địa
phương còn thiếu cân nhắc trong việc cho thuê đất tại các khu vực nhạy cảm,
vùng biên giới…
Do đó, việc tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về pháp
luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất cũng sẽ
giúp chúng ta khắc phục được những thiếu sót, bất cập nêu trên, tạo cơ sở để
tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và
người sử dụng đất.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật điều
chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn
tại Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đến nay, vấn đề thuê đất mà cụ thể là đề tài về quan hệ thuê đất giữa
Nhà nước và người sử dụng đất đã thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của
giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và giới nghiên cứu khoa học luật
nói riêng dưới nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, đây là một đề tài khó
và là một chuyên đề nghiên cứu chuyên ngành hẹp. Hơn nữa, đề tài này
dường như chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện
ở nước ta. Có một số công trình, bài viết nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp
đến hoạt động thuê đất, có thể đề cập một số công trình tiêu biểu như: “Bàn về
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” của tác giả TS. Nguyễn Quang Tuyến
– Đại học Luật và Nguyễn Xuân Trọng – Vụ chính sách pháp chế, Tổng cục Quản
lý đất đai, Bộ Tài nguyên môi trường; “Cần điều chỉnh thẩm quyền giao đất, cho
thuê đất” của tác giả Phùng Hương – Tạp chí Tài Nguyên và Môi trường, số
15/2011; Pháp luật về thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Bình Trọng – năm 2006; “Giao đất, cho thuê

2




về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất; Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
cho thuê đất; Quy định về giá đất; Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể trong quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
- Phân tích đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh quan hệ
cho thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất tại thành phố Hà Nội, chỉ ra
những thiếu sót, bất cập của việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này.
- Sau khi đánh giá sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
và bảo đảm thực hiện pháp luật về điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước
và người sử dụng đất.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các văn bản pháp luật, thực tiễn
thi hành pháp luật điều chỉnh về quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử
dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Quan hệ đất đai trước hết là quan hệ giữa người
với người với nhau trong việc sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai. Các quan hệ
này rất đa dạng và phức tạp, nó xuất hiện trên cơ sở chế độ sở hữu đất đai của
mỗi chế độ kinh tế, xã hội. Như vậy, quan hệ pháp luật đất đai, trước hết là
quan hệ giữa chủ sở hữu với các chủ sử dụng cụ thể và giữa các chủ sử dụng
với nhau, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Mặt khác, pháp luật về
quan hệ thuê đất là một đề tài có nội hàm nghiên cứu rộng, tuy nhiên trong
khuôn khổ có hạn của một bản Luận văn Thạc sĩ Luật học, người viết chỉ đề
cập đến phạm vi quan hệ thuê đất giữa Nhà nước - chủ sở hữu toàn dân về đất
đai và người sử dụng đất từ thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh về quan hệ
thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản



5


đến các chủ thể sử dụng đất, đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của
pháp luật về vấn đề này trong quá trình triển khai. Trên cơ sở khoa học và
thực tiễn, Luận văn đã định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử
dụng đất.
Đóng góp của luận văn
Ý nghĩa thứ nhất: Kết quả nghiên cứu có thế là tài liệu tham khảo hữu
ích cho cơ quan, tổ chức nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm
thực hiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử
dụng đất.
Ý nghĩa thứ hai: Là tài liệu tham khảo cho các cơ sở ngiên cứu và đào
tạo luật học.
7. Kết cấu của Luận văn
Kết cấu chính của Luận văn gồm có ba phần:
Chương 1. Một số vấn đề chung về pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê
đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
Chương 2. Pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và
người sử dụng đất: Thực trạng, thực tiễn áp dụng tại Hà Nội.
Chương 3. Một số kiến nghị được đề xuất từ nghiên cứu thực trạng
pháp luật về điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ

định trong Luật Đất đai nên đã có nhiều cách tiếp cận và quan điểm về khái
niệm quyền sử dụng đất được đưa ra. Trên cơ sở khái niệm quyền sở hữu
được quy định tại Điều 173 Bộ luật Dân sự thì quyền sử dụng tài sản là một
trong ba quyền năng thuộc nội dung quyền sở hữu của chủ sở hữu theo quy
định của pháp luật. Quyền sử dụng được quy định cụ thể tại Điều 192 Bộ Luật
Dân sự như sau: " Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức từ tài sản”.
Trên cơ sở tinh thần của Bộ luật Dân sự, nhằm xác định rõ nguồn gốc
sử dụng đất và quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tại từ điển Luật
học của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ tư pháp đã đưa ra khái niệm về quyền sử
dụng đất: “Là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được
chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho…từ những chủ thể khác có quyền sử
dụng đất” [6, tr 665].
Từ cách tiếp cận khác theo hướng chỉ ra quyền sử dụng đất là quyền
phái sinh, TS. Lê Xuân Bá cho rằng: “Quyền sử dụng đất là một bộ phận cấu
thành của quyền sở hữu đất. Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho
thuê đất, Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê
đất, nhận giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân
biệt theo loại đất, theo đối tượng (người) sử dụng đất, theo hình thức thuê
hoặc giao đất”[1].
Từ các hướng tiếp cận và quan điểm như trên, nhìn chung đều xem xét
quyền sử dụng đất dưới hai góc độ kinh tế và pháp lý. Về góc độ kinh tế,
quyền sử dụng đất là quyền phái sinh được khai thác các lợi ích từ đất của các
chủ thể sử dụng đất. Về góc độ pháp lý, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất

8




vốn bằng quyền sử dụng đất;” (Bàn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất - TS. Nguyễn Quang Tuyến, Đại học Luật và Nguyễn Xuân Trọng, Vụ
chính sách pháp chế, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên môi
trường)26.
Ở Việt Nam hiện nay, nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến
quyền sở hữu đất đai có nhiều nhóm quan điểm, trường phái tiếp cận khác
nhau nhưng có thể chia thành hai nhóm quan điểm chính như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: Cần giữ nguyên các quy định hiện hành,
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Ngoài ra
cần mở rộng tối đa quyền cho người sử dụng đất. Nhiều học giả cho rằng chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta nhìn chung chỉ mang tính thuật
ngữ, quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác xa
với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước và chế độ sở hữu
toàn dân đối với đất đai ở nước ta không gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới cơ chế
thị trường. Cùng quan điểm như trên, PGS.TS Trần Thị Minh Châu cho rằng:
“Nếu duy trì sở hữu tư nhân về đất đai thì Nhà nước vẫn cần có quyền quy
hoạch để tổ chức không gian sống hợp lý và có thể đánh thuế triệt tiêu thu
nhập từ địa tô của chủ đất. Trong cơ chế sở hữu toàn dân, Nhà nước cũng
giao quyền sử dụng tự chủ theo quy hoạch cho công dân và chỉ giữ lại quyền
tổ chức không gian và quyền thu địa tô để sử dụng chung. Như vậy, cả hai chế
độ sở hữu, do phải điều chỉnh để đáp ứng thực tiễn, đã tụ hội về một điểm
chung, trong đó, Nhà nước và công dân cùng nhau phân chia quyền kiểm soát
sử dụng đất hợp lý” 16.
Là nhóm quan điểm mới của các nhà quản lý, khoa học, nhóm quan
điểm thứ hai đi theo tư duy: sở hữu toàn dân về đất đai là không phù hợp, cần
phải thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đất đai. Qua thực tế nghiên cứu pháp
luật và thực tiễn thi hành pháp luật đất đai cho thấy sở hữu toàn dân về đất đai

10


11


Cho thuê đất là hình thức Nhà nước chuyển quyền sử dụng đất của
mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất, phù hợp với các quy
định của pháp luật hiện hành. Với quan niệm đó, đề tài luận văn nghiên cứu
vấn đề cho thuê đất theo nội dung được quy định tại khoản 2, Điều 4, Luật
Đất đai năm 2003 như sau: “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao
quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”.
Như vậy, thuê đất được hiểu là quyền của người sử dụng đất. Đây là
một loại quan hệ pháp luật về đất đai trong đó có một bên là Nhà nước và một
bên là người sử dụng đất. Với các quy định cụ thể, trong những năm qua,
pháp luật về thuê đất của Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cho đất đai được sử
dụng hợp pháp, đúng mục đích, có hiệu quả; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của
các đối tượng, đặc biệt là cá nhân, tổ chức người nước ngoài. Thông qua đó,
góp phần thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng các cơ sở hạ tầng,
các cơ sở kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tóm lại, cho thuê đất là một trong các nội dung của quản lý Nhà nước
về đất đai, có vai trò quan trọng trong việc giúp Nhà nước thực hiện tốt chức
năng quản lý tài nguyên đất. Trên thực tế, hoạt động cho thuê đất phải đảm
bảo các nguyên tắc như phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đúng
thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục, đúng hạn mức, đúng thời
hạn và do Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có thẩm quyền thực hiện. Việc
cho thuê đất dựa trên hai phương thức đó là trả tiền thuê đất hàng năm và trả
tiền trước đó cho toàn bộ thời gian thuê đất. So sánh với các nước có sự tương
đồng về chế độ sở hữu đất đai cho thấy khái niệm cho thuê đất hầu như đều có
trong hệ thống pháp luật của các nước không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất
đai (đa sở hữu hay sở hữu tư nhân, sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân).

vi đề tài nghiên cứu này, người viết chỉ đề cập đến phạm vi quan hệ giữa chủ
sở hữu và người sử dụng đất.
Mặt khác, bàn về cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật đất
đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất, theo phần giải thích từ ngữ tại Điều

13


4 Khoản 2 của Luật đất đai hiện hành quy định :“Nhà nước cho thuê đất là
việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu
cầu sử dụng đất”. Hợp đồng cho thuê đất chính là cơ sở làm phát sinh quan
hệ thuê đất. Các chủ thể có thể ký kết những hợp đồng thuê đất và các hợp
đồng này cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để Nhà nước
thực hiện việc quản lý các hợp đồng.
Căn cứ vào nội dung luật định, quan hệ thuê đất ở đây có thể được
hiểu đây là một quan hệ mang tính dân sự, thương mại, tương tự như các quan
hệ thuê tài sản khác trong dân sự bởi căn cứ xác lập, hình thành nên quan hệ
và làm căn cứ pháp lý để giải quyết quan hệ đất đai này được thiết lập trên cơ
sở hợp đồng giữa một bên là Nhà nước – đại diện chủ sở hữu và một bên là
người sử dụng đất.
Hợp đồng là một trong những hình thức pháp lý cơ bản của các quan
hệ xã hội. Hiện hành ở Việt Nam, trên giác độ pháp lý, khái niệm hợp đồng
thường được hiểu trên cơ sở của khái niệm hợp đồng dân sự. Theo Bộ luật
Dân sự (2005), hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và theo đó hợp đồng có đặc
điểm là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về địa vị pháp lý giữa
các chủ thể (cá nhân, tổ chức) tham gia giao kết.
Tuy nhiên, với nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu, có nghĩa toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước chỉ thuộc
quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện các quyền của chủ sở

thuê đất của Nhà nước. Tuy nhiên, cách tiếp cận nêu trên đã bỏ qua một nội
dung quan trọng mang yếu tố quyết định trong hoạt động cho thuê đất đó là
quyết định cho thuê đất của UBND và dễ làm người đọc hiểu nhầm rằng quan
hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng hoàn toàn mang tính dân sự,

15


thương mại. Hay nói cách khác, quy định này là chưa phản ánh chính xác hoạt
động cho thuê đất của Nhà nước bởi những quy định khác trong cùng Luật đất
đai đã cho thấy quan hệ cho thuê đất vẫn mang đậm và rõ nét tính hành chính,
tính chất dân sự, thương mại ở đây rất mờ nhạt.
Trên thực tế khi thi hành, áp dụng pháp luật về điều chỉnh quan hệ
thuê đất, trong các hồ sơ xin thuê đất, UBND cấp có thẩm quyền nếu đồng ý
cho thuê đất sẽ ra quyết định cho thuê đất. Và cũng căn cứ vào quyết định cho
thuê đất của UBND, cơ quan tài nguyên môi trường giúp việc cho UBND đó
sẽ ký với người thuê đất hợp đồng thuê đất. Như vậy, hợp đồng thuê đất được
hình thành dựa trên quyết định cho thuê đất của UBND. Đi sâu vào nội dung
hợp đồng thuê đất ta dễ dàng nhận ra nó không hoàn toàn mang tính dân sự
thương mại bởi nó thể hiện quan hệ bất bình đẳng giữa bên cho thuê và bên
thuê đất. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể thuê đất đã được quy định ở trong
Luật đất đai, tức là đã được Nhà nước – đại diện chủ sở hữu quy định sẵn theo
ý chí của Nhà nước. Gía đất áp dụng trong hợp đồng thuê là giá do cơ quan
nhà nước ban hành, thời gian sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật.
Bên thuê đất không thể thỏa thuận thêm hay bớt quyền, nghĩa vụ cũng như giá
cả, thời gian sử dụng đất. Có thể thấy quan hệ pháp luật về thuê đất giữa Nhà
nước và người sử dụng đất cũng là quan hệ mang tính hành chính rất rõ, và ở
đây tính dân sự thương mại rất mờ nhạt.
Tóm lại, quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất là
quan hệ do các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, trong đó các bên tham

cầu của người tham gia giao dịch, sau đó Nhà nước mới điều chỉnh; thì quan
hệ thuê đất lại ra đời trên cơ sở quy định của Nhà nước trên phương thức
chuyển giao đất từ Nhà nước sang cho chủ thể sử dụng. Xuất phát hình thức
sở hữu đất mà quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất được
hình thành, và do Nhà nước là chủ thể đặc biệt, đại diện sở hữu toàn dân và
thống nhất quản lý đất đai trên toàn quốc nên Nhà nước phải tạo ra khung
pháp lý để dịch chuyển quyền khai thác sử dụng đất từ chính Nhà nước sang
cho các chủ thể khác. Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ quy định có hai
phương thức chuyển giao đất là giao đất và cho thuê đất. Tương ứng với

17


phương thức chuyển giao thứ hai, chúng ta có quan hệ về thuê đất giữa Nhà
nước và người sử dụng đất.


Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên quan

hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất được hình thành trên cơ sở
quyền sở hữu toàn dân về đất đai.
Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên quan
hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất được hình thành trên cơ sở
quyền sở hữu toàn dân. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử
dụng đất khi được Nhà nước cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài.


Quan hệ pháp luật về thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng là một

quan hệ vừa mang tính dân sự, thương mại, vừa mang tính hành chính.

mang tính dân sự, thương mại. Bên cạnh tính hành chính được thể hiện khá rõ
qua quyết định cho thuê đất cũng như mang tính quyền lực nhà nước, bất bình
đẳng giữa các bên, quan hệ này còn mang tính dân sự, thương mại. Điều đó
thể hiện trong trình tự thủ tục thuê đất, người sử dụng đất phải ký với cơ quan
quản lý đất đai một hợp đồng thuê đất trong đó ghi nhận sự cam kết của các
bên trong khuôn khổ quy định của pháp luật về các vấn đề như giá cả, thời
hạn sử dụng, mục đích sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của các bên, được xác
định giá trị.
1.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa
Nhà nước và người sử dụng đất
Sự cần thiết của việc can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật đối với
quan hệ thuê đất xuất phát từ những đặc điểm và tính chất của quan hệ thuê
đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất và từ những lý do như sau :
Thứ nhất, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt không thể thiếu với vai trò là yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh
doanh và không gian sinh tồn của loài người. Do vậy, bất cứ Nhà nước nào
cũng cần phải quan tâm đến đất đai, xây dựng chính sách phù hợp để quản lý

19


Trích đoạn Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất Các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho thuê đất Các quy định về giá đất Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất Những kết quả đạt được
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status