ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
TRẦN VĂN QUẢNG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH HÀ TÂY
Chuyên ngành:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số:
5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐẶNG XUÂN HOAN
HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
quốc dân nào khi chuyển sang kinh tế thị trường.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng với những yêu cầu khách quan
của thị trường sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và vững
chắc. Vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng một cơ cấu kinh tế
tối ưu luôn là một trong những mục tiêu cơ bản mà bất kỳ nhà hoạch định
chính sách nào cũng phải quan tâm thực hiện.
Trong những năm gần đây, Hà Tây đã đẩy mạnh sản xuất theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 2000 cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - Công
nghiệp - Dịch vụ của tỉnh Hà Tây là 40% - 30% - 30%. Thu nhập GDP bình
quân/đầu người xấp xỉ 300 USD/ người [11, tr.8]. Tỉnh Hà Tây giai đoạn
2000-2010, hướng tới mục tiêu và cơ cấu kinh tế Nông nghiệp - Công nghiệp
- Dịch vụ.
1
Năm 2005 là: 35% - 35% - 30% [11, tr.38].
Năm 2010 là: 23% - 40% - 37%%[26, tr.2].
Với mức tăng trưởng bình quân từ năm 2000 đến năm 2010 đạt 14%
trở lên. GDP vào năm 2010 cố gắng đạt 700USD/ người. Để thực hiện được
mục tiêu trên, trong những năm qua, tỉnh Hà Tây đã có những giải pháp kinh
tế - xã hội phù hợp, do vậy nền kinh tế của tỉnh có mức tăng trưởng cao hơn
bình quân chung của cả nước, trong lĩnh vực kinh tế đã khai thác, thu hút
được vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, trong đó đặc biệt chú ý đến nguồn
vốn từ các nước trong khu vực và thế giới đầu tư vào tỉnh Hà Tây, nguồn vốn
trong dân, phát huy nội lực để vươn lên.
Tuy vậy, Hà Tây vẫn là một tỉnh mà sản xuất nông nghiệp còn giữ vai
trò chủ yếu, nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tây còn chưa
cao, năng xuất lao động thấp, các ngành kinh tế: nông nghiệp - công nghiệpdịch vụ còn kém phát triển, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong GDP,
đời sống nhân dân còn thấp…thực trạng đó có nhiều nguyên nhân, trong đó
hướng công nghiệp hoá”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế - Viện Kinh tế học, năm
1994, số2.
- Ngô Đình Giao “Xây dựng mô hình cơ cấu kinh tế hiệu quả theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Ngân hàng Nhà nước, tháng
6.1999 (số 12).
- Nguyễn HữuTiến - Nguyễn Đình Long “Vai trò của kinh tế hộ trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn”, Tạp chí Cộng sản 1996,
số 510.
- Ngô Đình Giao “Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả trong nền
kinh tế thị trường”, Tạp chí Ngân hàng Nhà nước, tháng 8 năm 1999 (số14).
3
- Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dũng “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công- nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển vọng”, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003…
Trong các công trình trên, các tác giả đã nghiên cứu ở nhiều góc độ
khác nhau về cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu và đề
cập về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hà Tây.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của tỉnh Hà Tây những năm qua, đề xuất những quan điểm, phương hướng,
giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hà Tây từ nay đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích làm rõ khái niệm, nội dung, tính tất yếu khách quan phải
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương
pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và các
phương pháp khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Hà Tây, từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế ngành theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hà Tây từ nay đến năm 2010. Ở mức độ
nhất định, nội dung đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng
dạy, học tập, nghiên cứu và áp dụng vào thực tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương với 8 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và bài học thực tiễn về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Hà Tây
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
tỉnh Hà Tây từ nay đến năm 2010.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƢỚNG CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. Cơ cấu kinh tế và tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ
trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế.
Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ
chức sản xuất phản ánh chất lượng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác
tài nguyên, tiềm lực kinh tế- xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát
triển nền kinh tế quốc dân thống nhất.
Về mặt kinh tế - xã hội bao gồm: Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lao
động, trình độ phát triển quan hệ hàng hoá- tiền tệ, thị trường.
Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ
chức sản xuất - kinh doanh của mọi thành viên xã hội. Cơ cấu kinh tế theo
trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá- tiền tệ phản ánh khả năng giải quyết
mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh
tế quốc dân.
Sự chuyển dịch từ mô hình cơ cấu kinh tế cũ sang mô hình cơ cấu kinh
tế mới bao gồm các quá trình và bước đi cụ thể sau đây:
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, tức là chuyển dịch từ cơ cấu nông
nghiệp- công nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, với sự phát triển bình
đẳng của sáu thành phần kinh tế; trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ
đạo.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ là phát triển theo
hướng toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp và chuyên
môn hoá, trên cơ sở khai thác triệt để tiềm năng, thế mạnh của từng vùng và
kết hợp với sự phân công lao động của các vùng lân cận…
8
Ba bộ phận của cơ cấu kinh tế mới có tính độc lập tương đối, cùng nằm
trong một chỉnh thể thống nhất và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với
kinh tế đựơc hình thành khi quan hệ giữa các bộ phận được xác lập một cách
cân đối và sự phân công lao động xã hội được diễn ra một cách hợp lý. Lực
lượng sản xuất luôn vận động, biến đổi, phát triển, đó là xu hướng phổ biến,
tất yếu. Song mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
tự nhiên trong quá trình tái sản xuất xã hội, ở mỗi giai đoạn lịch sử, ở mỗi
quốc gia lại có sự khác nhau; những khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản
xuất, bởi các đặc trưng văn hoá, xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của từng dân
tộc.
Qua sự phân tích trên cho thấy, sự hình thành cơ cấu kinh tế chẳng
những mang tính chất khách quan khoa học mà còn mang tính chất lịch sử xã
hội.
Để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội ở
mỗi quốc gia, mỗi địa phương thì việc xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý có
ý nghĩa hết sức quan trọng. Một cơ cấu kinh tế hợp lý về cơ bản phải thoả
mãn được các yêu cầu sau đây:
- Phải phù hợp với các quy luật khách quan mà trước hết mà là các quy
luật kinh tế.
- Khai thác hợp lý và phát huy được các nguồn lực của đất nước, của
các vùng kinh tế, tạo năng xuất lao động cao, phù hợp với sự tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ.
- Tạo nên sự phát triển cân đối, nhịp nhàng giữa các vùng, các ngành,
phát huy được lợi thế so sánh của các vùng, các ngành đó.
- Tạo nên sự gắn kết giữa các loại thị trường trong và ngoài nước, sự
phân công hợp tác quốc tế ngày càng chặt chẽ, sâu rộng.
- Tạo đựơc tích luỹ nhiều nhất cho nền kinh tế quốc dân, tăng trưởng
kinh tế và phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng vững chắc.
10
các chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại với tư cách là công cụ vĩ mô,
chính phủ can thiệp vào các hoạt động kinh tế, có khả năng hướng dẫn các
nhà đầu tư đi theo chiến lược cơ cấu kinh tế đã được hoạch định.
Ba là, các lý thuyết trong “Kinh tế học của sự phát triển”. Một số lý
thuyết chủ yếu trong “Kinh tế học của sự phát triển” liên quan đến sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
- Lý thuyết kinh tế nhị nguyên của A.Lewis cho rằng: ở các nước đang
phát triển có hai khu vực kinh tế song song tồn tại là, khu vực kinh tế truyền
thống (chủ yêú là sản xuất nông nghiệp) và khu vực kinh tế công nghiệp hiện
đại được du nhập từ bên ngoài vào. Khu vực kinh tế truyền thống có đặc điểm
là năng xuất lao động thấp và dư thừa lao động; vì vậy có thể chuyển một
phần lao động từ khu vực này sang khu vực công nghiệp hiện đại mà không
ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp. Do có năng suất lao động cao, khu
vực công nghiệp hiện đại có thể tự tích luỹ để mở rộng sản xuất một cách độc
lập mà không phụ thuộc vào những điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế.
Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết này là, bằng mọi cách mở rộng khu vực
sản xuất công nghiệp hiện đại càng nhanh càng tốt, sự phát triển mạnh mẽ của
khu vực này sẽ thu hút lao động từ khu vực truyền thống sang và làm biến đổi
nền kinh tế từ nhị nguyên thành một nền kinh tế công nghiệp phát triển.
- Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành của R.Nuruse cho rằng: Để
công nghiệp hoá nhanh chóng cần thúc đẩy phát triển đồng đều ở tất cả các
ngành, tiến hành xây dựng mô hình cơ cấu kinh tế theo cơ cấu cân đối khép
kín- mô hình công nghiệp hoá “hướng nội” hay “thay thế nhập khẩu”.Thực tế
là mô hình này đã không thể tạo ra những điều kiện cần thiết để nền kinh tế có
thể phát triển nhanh chóng được; sở dĩ như vậy là do những hạn chế cơ bản
sau:
12
13
thác và sản xuất ở trong nước, tiến tới rút ngắn khoảng cách kỹ thuật và đẩy
mạnh xuất khẩu…
+ Xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng bắt đầu giảm nhường chỗ cho xuất
khẩu các loại hàng hoá cần nhiều vốn đầu tư, tiến dần đến việc nâng trình độ
của nền kinh tế quốc dân ngang bằng các nước phát triển…
Những nội dung khái quát của các lý thuyết trên có liên quan đến việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, như sau:
- Hầu hết các lý thuyết phát triển nói trên coi vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế không chỉ là một trong những tiêu chí quan trọng của sự phát triển, mà
còn chỉ ra nội dung cụ thể của nó là tăng tỷ trọng của công nghiệp, giảm tỷ
trọng của nông nghiệp trong GDP và GNP; giảm tỷ lệ lao động trong nông
nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ.
- Từ việc phân tích cơ cấu kinh tế của một số nước đang phát triển
không coi trọng tính chất bên trong, các lý thuyết này nêu ra một giải pháp có
tính nguyên tắc: phải xây dựng một cơ cấu kinh tế có sự liên kết, thúc đẩy, lôi
kéo lẫn nhau trong qúa trình phát triển. Một cơ cấu kinh tế có sự liên kết vừa
là điều kiện của sự phát triển trong công nghiệp hoá, đồng thời lại vừa là kết
quả, là một chỉ số để đánh giá mức độ thành công của công nghiệp hoá và
phát triển.
- Hình thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của các nước đang phát
triển trong thời kỳ công nghiệp hoá từ nửa sau thập niên 60 (thế kỷ XX) trở
lại đây là rất đa dạng, không có khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia mà tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước cũng như sự phát triển của nền kinh
tế khu vực và thế giới.
- Vai trò của nhà nước can thiệp vào quá trình công nghiệp hoá là một
trong những yếu tố có tính chất quyết định cho sự phát triển kinh tế. Chính
phủ phải đánh giá được các nguồn lực bên trong, đồng thời phải kết hợp được
hoá. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế [10, tr.88-90].
15
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá được xem như một quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động, gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng
trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là
vấn đề lớn, cấp thiết ở nước ta trong quá trình đổi mới nền kinh tế trên cả góc
độ cơ cấu kinh tế ngành cũng như cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu thành phần
kinh tế; được thực hiện trên cơ sở phát huy thế mạnh, lợi thế so sánh của từng
vùng và của đất nước, nhằm tăng sức cạnh tranh, gắn liền với nhu cầu thị
trường trong, ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng an ninh,
tạo thêm sức mua của thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước,
đẩy mạnh xuất khẩu.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng có ý nghĩa là quá trình chuyển một
nước từ nền kinh tế sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng xuất lao động thấp
thành một nước có cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, khoa
học và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao. Đối với nước ta đó là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, từ cơ cấu nông nghiệp- công nghiệp
sang cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Nước ta giai đoạn
2000- 2005 hướng tới mục tiêu kinh tế là: đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so
với năm 1995. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm
2001- 2005 là 7,5 %, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3 %; công nghiệp
và xây dựng tăng 10,8%; dịch vụ tăng 6,2%.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,8%/năm.
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng 13%/năm.
- Giá trị dịch vụ tăng 7,5%/năm
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/năm
nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.
Nếu so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thì kinh tế thị trường định
17
hướng xã hội chủ nghĩa có những điểm khác căn bản về mục đích, về chế độ
sở hữu, về các thành phần kinh tế, về chế độ quản lý, về chế độ phân phối, về
chính sách xã hội.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu
phát triển của mô hình kinh tế đã lựa chọn.
Trên cơ sở mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại
hội IX của Đảng đã xác định đường lối phát triển kinh tế của nước ta trong
thời kỳ quá độ là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn
hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát
triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng- an ninh” [10, tr.89].
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bảo đảm cho nền kinh tế thị trường
hoạt động với hiệu quả cao nhất. Nghĩa là phải giải quyết được những vấn đề
cơ bản của kinh tế thị trường: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất
cho ai? Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh phải thoả mãn với mức độ ngày
càng cao những nhu cầu đa dạng và chính đáng của người tiêu dùng.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bảo đảm quy mô hợp lý và bước đi
thích hợp, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư ít, tạo nhiều việc làm cho
người lao động, từng bước áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ
nghệ hiện đại của các nước phát triển nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.3. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
19
1.1.3.1 Xuất phát từ thực trạng cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay
Từ Đại hội Đảng VI đến nay, với đường lối đổi mới toàn diện do Đảng
khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu rất
quan trọng. Chúng ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã
hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm trên 7%. Sản
xuất công nghiệp đạt nhịp độ tăng bình quân hàng năm 13,5%; năng lực sản
xuất một số ngành và sản phẩm quan trọng như điện, dầu khí, xi măng tăng
nhanh. Nhịp độ tăng giá trị dịch vụ bình quân hàng năm 10%. Sản xuất nông
nghiệp phát triển tương đối toàn diện, đã đảm bảo an toàn, an ninh lương thực
quốc gia; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm hơn 6%; đã
tạo được ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ 2 thế giới), cà phê
(đứng thứ 3 thế giới) và hàng thuỷ sản. Có thể nói cơ cấu kinh tế đang biến
đổi cả về cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
Quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng theo hướng đa dạng hoá, đa phương
hoá; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 20%. Chúng ta đã có
những chính sách phù hợp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có quan hệ chặt
chẽ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, đang chuẩn bị các điều kiện để
gia nhập WTO [10, tr.69].
Về mặt quản lý, chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, sử dụng các hình thức và phương pháp quản lý của kinh tế
thị trường để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo
của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, nhưng là để đi lên Chủ nghĩa xã hội, không để cho thị trường tự phát
xuống còn khoảng 50%… Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và
cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [10, tr.90].
1.1.3.2. Xuất phát từ yêu cầu thực hiện mục tiêu và nội dung công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nước ta
21
Từ Đại hội Đảng III đến nay, Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá là
nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Bởi vì, công nghiệp hoá thực
chất là xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không phải
chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong
nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới căn
bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đảng ta đề ra là: xây
dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng
và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Trước mắt, ra sức phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì thế, đại hội IX khẳng định, phát
triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải được xem là nhiệm vụ trung
tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI [2,
tr.125- 126].
Từ Hội nghị Trung ương 7 (khoá VII) Đảng ta đã có quan niệm mới,
ngày càng toàn diện và sâu sắc về công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá. Đại
hội Đảng VIII (1996) cho rằng, đất nước đang chuyển sang thời kỳ mới đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời Đại hội Đảng VIII còn nêu ra
6 quan điểm về công nghiệp hoá và những nội dung cơ bản của công nghiệp
chặt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế” [2, tr.127-128].
Một trong những nhiệm vụ trung tâm để phát triển kinh tế, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là cần phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững,
23