ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÙI BÌNH AN
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÙI BÌNH AN
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN DŨNG
Hà Nội – Năm 2014
Mục lục
12
6. Phương pháp nghiên cứu
12
7. Kết cấu luận văn
15
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
16
1.1. Khái luận về chất lượng đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ
16
1.1.1. Đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ và yêu cầu về trình độ đối với đội ngũ này
16
1.1.2. Vai trò của đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ
23
1.1.3. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
29
56
2.1. Thực trạng về đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình từ
năm học 2005-2006 đến năm học 2011-2012
56
2.1.1. Khái quát các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình
56
2.1.2. Thực trạng về đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ ở tỉnh Ninh Bình từ năm
học 2005-2006 đến năm học 2011-2012
58
2.2. Các chính sách của Ninh Bình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các
trường Đại học, Cao đẳng
77
2.2.1. Các chủ trương, chính sách của địa phương
77
2.2.2. Đối với các trường Đại học, Cao đẳng
79
2.3. Đánh giá chung
89
3.2. Quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học,
Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình
93
3.2.1. Nâng cao chất lượng trên cơ sở số lượng và cơ cấu hợp lý, phải chú ý đến tính
đồng bộ, toàn diện, đồng thời phải có trọng tâm, trọng điểm
93
3.2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, gắn
với nhiệm vụ chính trị của nhà trường và địa phương
93
3.2.3. Nâng cao chất lượng ĐNGV phải đổi mới hệ thống tổ chức CB, cơ chế chính sách
hợp lý, nhưng để nâng cao chất lượng trước hết phải do chính bản thân GV
94
3.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên phải đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân
lực ở bậc Đại học, Cao đẳng và đội ngũ công nhân có trình độ, tay nghề cao, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững
95
3.3.6. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; đổi mới cơ chế chính sách, tạo điều kiện làm
việc, nâng cao chất lượng đời sống cho giảng viên an tâm công tác, hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao
102
KẾT LUẬN
104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CH
:
Cao học
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
ĐH, CĐ
:
Uỷ ban nhân dân
QTKD
:
Quản trị Kinh doanh
NGƯT
:
Nhà giáo ưu tú
NCKH
:
Nghiên cứu khoa học
NCS
:
Nghiên cứu sinh
SL
:
Tiến sĩ
TC
:
Trung cấp
VH-DL
:
Văn hóa - Du lịch
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lượng các trường ĐH, CĐ ở tỉnh Ninh Bình
56
66
Bảng 2.10. Kết quả NCKH của trường Đại học Hoa Lư
68
Bảng 2.11. Kết quả NCKH của các trường CĐ ở tỉnh Ninh Bình
69
Bảng 2.12. Số giờ dạy (hệ chính qui) năm học 2005-2006 đến 2011-2012 của giảng viên
trường ĐH Hoa Lư
71
Bảng 2.13. Số giờ dạy (hệ chính qui) năm học 2005-2006 đến 2011-2012 của giảng viên
các trường Cao đẳng tỉnh Ninh Bình
72
ii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực gắn với chất lượng nguồn nhân lực, chất
lượng và bản sắc văn hóa, liên quan đến sự tồn vong, hưng thịnh của một quốc
gia. Vì vậy, từ xa xưa đến nay, dù trong hoàn cảnh nào, đất nước ta cũng luôn
quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài.
những tri thức vào thực tiễn cuộc sống.
Trong chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo, bậc giáo dục Đại học
được xác định là yếu tố quyết định diện mạo nguồn nhân lực bậc cao. Thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, đã tạo cho giáo dục đào tạo phát triển, trong đó giáo
dục Đại học có nhiều cơ hội phát triển mới nhưng cũng buộc ngành Giáo dục và
Đào tạo, nhất là giáo dục Đại học phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt. Đại
hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “Phát triển giáo dục là
quốc sách hàng đầu, trong đó tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi
trọng giáo dục đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng
lập nghiệp và đẩy mạnh nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên
nghiệp”.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo
dục Đại học nói chung và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại
học, Cao đẳng nói riêng là một việc làm rất quan trọng và hết sức cần thiết.
Chất lượng đào tạo được xây dựng trên ba yếu tố đó là: Chương tình đào
tạo, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Tại hội nghị quốc tế bàn về giáo dục và
đào tạo cho thế kỷ XXI tại Giơ – ne – vơ đã nhấn mạnh “Muốn có nền giáo dục
2
tốt cần phải có những giáo viên tốt”. Đội ngũ giáo viên chính là nhân tố quyết
định cho sự nghiệp và nâng cao chất lượng giáo dục.
Chất lượng đội ngũ giảng viên ĐH, CĐ có vai trò quyết định trong việc
đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặc dù đã đạt được nhiều
thành tựu, cung cấp hàng triệu nhân lực có trình độ cao làm nòng cốt phục vụ sự
nghiệp đổi mới đất nước, nhưng giảng viên ĐH, CĐ nước ta hiện nay cũng bộc lộ
nhiều hạn chế, bất cập. Chất lượng đào tạo nhìn chung chưa đáp ứng được yêu
cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Do vậy, việc
Trong những năm qua, nhờ có sự quan tâm của Nhà nước và địa phương và
sự nỗ lực, cố gắng của các trường, đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao
đẳng ở Ninh Bình đã có những bước tiến đáng kể cả về phẩm chất chính trị, đạo
đức nghề nghiệp lẫn số lượng, trình độ và năng lực chuyên môn. Tuy nhiên, trước
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, thực trạng về chất lượng của đội
ngũ giảng viên ở các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình hiện nay còn
nhiều bất cập, tồn tại và hạn chế, chưa hợp lý về cơ cấu.
Đội ngũ giảng viên ĐH,CĐ ở các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh
Bình có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ chưa cao; giảng viên cốt cán, chuyên gia
đầu ngành hầu như không có, nội dung chương trình; phương pháp giảng dạy
chậm đổi mới chưa theo kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại...
Bên cạnh đó còn tồn tại một số yếu kém như: Chất lượng giảng dạy còn
chưa đạt yêu cầu, đặc biệt trong gắn việc dạy học với nghiên cứu khoa học và
phục vụ sản xuất. Nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới.
Trình độ đào tạo chưa theo kịp với phát triển khoa học công nghệ hiện đại.
4
Việc mở rộng nhanh quy mô đào tạo ở một số cơ sở cùng với đó là sự gia
tăng số lượng HSSV cũng khiến các giảng viên phải giảng dạy quá nhiều, không
đủ thời gian cho việc tự học, tự bồi dưỡng, tham gia nghiên cứu và triển khai hoạt
động khoa học & công nghệ.
Trong công tác đào tạo đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng còn nhiều bất
cập: Nhìn chung các trường chưa có kế hoạch đào tạo dài hạn, thiếu chủ động và
chưa tận dụng thời cơ. Cơ chế chính sách trong việc tuyển dụng nhân tài chưa có
sức thu hút.
Về số lượng: Kể từ năm 2005 đến nay, số lượng đội ngũ giảng viên Đại
học, Cao đẳng (GVĐH,CĐ) của tỉnh đã có sự gia tăng đáng kể, từ 561 người vào
năm học 2005-2006 lên 1.013 người vào năm học 2011-2012 và dự báo sẽ còn
động giảng dạy và chất lượng NCKH của giảng viên. Ở nội dung này, thực tế ở
các trường cho thấy có tình trạng một số ngành quá tải giờ dạy của đội ngũ giảng
viên do thu hút được HSSV vào học trong khi số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy
không tăng kịp theo tốc độ tăng quy mô. Thực tế này diễn ra tập trung vào một số
ngành, như: ngoại ngữ, quản lý kinh tế, công nghệ thông tin, tài chính kế toán, YDược... Có những giảng viên dạy hơn 1.000 tiết/năm trong khi quy định là 260
tiết/năm, như trường Cao đẳng nghề: LILAMA I, trường Cao đẳng Y tế Ninh
Bình (năm học 2008-2009, 2009-2010,..) Tình trạng quá tải giờ dạy diễn ra liên
tục làm cho rất nhiều giảng viên không còn thời gian dành cho học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, không cập nhật được một cách thường xuyên các
kiến thức, kỹ năng mới,.. vì vậy nội dung bài giảng của họ nghèo nàn, lạc hậu và
không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Phương pháp giảng dạy của một bộ
phận không nhỏ giảng viên chậm được đổi mới, chủ yếu vẫn là thuyết trình theo
kiểu thầy đọc – trò chép. Trong khi đó, công tác nghiên cứu khoa học (NCKH)
chưa được chú trọng; nội dung NCKH không có chất lượng, hiệu quả, thiếu tính
6
thực tiễn và khả năng ứng dụng mà chỉ nhằm đối phó hoặc để chấm điểm bình xét
thi đua, xét phong danh hiệu.
Công tác quản lý, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ giảng viên hiện nay chưa phát
huy hết tiềm năng của cả đội ngũ và từng cá nhân, không kích thích được sự phấn
đấu trong chuyên môn; không sàng lọc được dễ dàng và thường xuyên những
người yếu kém. Cơ chế, chính sách đãi ngộ, động viên khuyến khích chưa tương
xứng, vẫn dựa chủ yếu vào khối lượng giảng dạy và thâm niên công tác mà không
căn cứ vào thành tích và khả năng nghiên cứu của cá nhân; chưa bảo đảm cho
giảng viên có cuộc sống đủ để có thể toàn tâm, toàn ý cho việc bảo đảm chất
lượng hoạt động giảng dạy và NCKH để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Những hạn chế về số lượng và chất lượng đội ngũ GVĐH, CĐ hiện nay ở tỉnh
Ninh Bình như đã đề cập trên đây cũng nằm chung trong trạng thái của cả nước
và được đánh giá xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu:
Những kết quả đạt được, cũng như các hạn chế, yếu kém nêu trên đã ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, giảng dạy của các cơ sở đào tạo Đại học,
Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để tháo gỡ những
khó khăn, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các trường Đại học, Cao
đẳng trong tỉnh được xem là khâu mấu chốt để nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo nguồn nhân lực của tỉnh Ninh Bình và khu vực lân cận đang trở thành một yêu
cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng
viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề giáo viên và việc phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ này đã
8
được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, của nhiều nhà khoa học ở các cấp
cũng như các trường… Qua tìm hiểu, sưu tầm và dựa trên các tài liệu đã thu thập
được, thời gian qua đã có nhiều đề tài, hội thảo, bài viết của nhiều tác giả nghiên
cứu, tiếp cận dưới những góc độ khác nhau:
Nhóm công trình, bài viết mang tính nghiên cứu về lý luận chung:
Trần Bá Hoành “Vấn đề giáo viên - những nghiên cứu lý luận và thực
tiễn”, NXB Đại học Sư phạm. Tác giả đã đề cập những vấn đề nội hàm của đối
tượng giáo viên và việc nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn để có cái nhìn rõ nét về
giáo viên và những vấn đề cần được quan tâm nhìn nhận về đội ngũ này.
Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng “Giáo dục Việt Nam hướng tới tương
lai - Vấn đề và giải pháp”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tác giả Cuốn sách
đã bàn về giáo dục ở nước ta và đưa ra những giải pháp định hướng cho phát triển
giáo dục Việt Nam trong tương lai.
Đại học Quốc gia Hà Nội “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo
viên”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội. Đây là tập hợp những bài viết của nhiều
tác giả tại hội thảo bàn về chất lượng giáo dục và vấn đề giáo viên.
Phan Thị Phương “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên các trường nghiệp vụ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội”. Đây là
Luận án tiến sĩ quản trị nhân lực tập trung đề xuất một số giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên của các trường nghiệp vụ của Bộ LĐTB & XH.
Dương Trọng Hạnh “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao
đẳng trên địa bàn Ninh Bình”. Luận văn này được hoàn thành năm 2011 trong
phạm vi nghiên cứu là việc phát triển đội ngũ giảng viên, tác giả cũng đã nêu ra
thực trạng và đề xuất các giải pháp để phát triển đội ngũ này.
Các luận văn và bài nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến yêu cầu cấp thiết
10
của việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đội ngũ giảng viên
trong các trường ĐH, CĐ. Từ đó, xác định những nội dung và giải pháp cơ bản về
phát triển đội ngũ giảng viên của các trường ĐH, CĐ trong điều kiện hiện nay.
Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào thuộc lĩnh vực
“Nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng ở
tỉnh Ninh Bình” một cách toàn diện và có hệ thống. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn
đề tài này để nghiên cứu với tư cách là đề tài độc lập ở trình độ luận văn Thạc sĩ,
nhằm đóng góp một phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các
trường ĐH, CĐ ở Việt Nam hiện nay.
Những kết quả nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ
giảng viên nêu trên là những tài liệu giúp tác giả tham khảo về mặt lý luận, thực
tiễn, kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu luận văn này.
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là:
(i)
Tại sao phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại
học, Cao đẳng hiện nay?
Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ giảng viên dạy tại các
trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình về trình độ học vấn, khả năng giảng
dạy và trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp. Luận văn không nghiên cứu sức khỏe,
thể lực của đội ngũ này.
Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến nay.
5. Đóng góp của đề tài
5.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần xây dựng được cơ sở lý luận cho việc nâng cao chất lượng
đội ngũ giảng viên dạy ở các trường ĐH, CĐ tỉnh Ninh Bình đến năm 2020.
5.2. Về mặt thực tiễn
12
Đề tài đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình đủ về số
lượng, vững về môn và hợp lý về cơ cấu.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu
như: Phương pháp duy vật biện chứng; duy vật lịch sử; phương pháp hệ thống và
khái quát hóa; phương pháp toán thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, so
sánh và các phương pháp hỗ trợ, dự báo.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở
tỉnh Ninh Bình hiện nay.
14
hội. Bổn phận người trí thức là trung thực với lương tâm mình, kiên trì lý tưởng
được cống hiến cho xã hội, phục vụ tổ quốc và cả nhân loại.
Karl Marx nhắc nhở những người trí thức phải đấu tranh cho sự tiến bộ của
xã hội: “Trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến
riêng đối với các vấn đề của xã hội, nên họ phải là những người phê bình không
nhân nhượng những gì đang hiện hữu…, không nhân nhượng với chính quyền,
bất cứ chính quyền nào”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính thực hành của trí thức: “Trí thức học
sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì
phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực
hành phải nhằm theo lý luận”.
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức. Khoảng hơn 60
quan niệm khác nhau về trí thức đã được công bố. Nhưng chắc chắn những định
nghĩa chưa dừng lại ở con số đó. Đó là điều bình thường vì trí tuệ và năng lực
sáng tạo của con người không ngừng phát triển.
Theo Từ điển tiếng Nga (11/1991): Trí thức là những người có học vấn và
kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa và đang làm
nghề lao động trí óc.
Trong Từ điển tiếng Nga do C.I. Ozegov chủ biên, thì khái niệm trí thức
được định nghĩa là những người lao động trí óc có học vấn, có kiến thức nghề
nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học, kỹ thuật và văn hóa.
Trong Từ điển bách khoa Liên Xô (1985) do A.M. Prokhorov chủ biên thì
khái niệm trí thức lại được khai thác từ chức năng xã hội: trí thức là tầng lớp
những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá
văn hóa.
Tương tự như vậy, trong Từ điển bách khoa Triết học (tiếng Nga M. 1983)
16
Từ những định nghĩa và quan niệm kể trên, có thể khái quát người trí thức
có hai đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, làm nghề lao động trí óc - lao động phức
tạp, có sức sáng tạo, phát triển và trình độ chuyên môn cao. Hai là, có học vấn
cao và có khả năng truyền bá văn hóa.
Đương nhiên, ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, đòi hỏi người trí thức còn
phải có lương tri. Cho nên, không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn
dặn người trí thức phải luôn luôn chú ý cả hai mặt “đức” và “tài”, “Đức” là gốc,
“Tài” là cái quan trọng không thể thiếu. Thiếu Đức hoặc Tài đều không phải là
người trí thức hoàn toàn.
Ở nước ta cũng đã có rất nhiều định nghĩa về trí thức. Chẳng hạn, theo Từ
điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1994) thì: “Trí thức là người chuyên làm
việc trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của
mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) thì: “Trí thức là tầng lớp xã hội
làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn
cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí
thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật
sư, nhà văn, nghệ sĩ, v v... Trí thức nói chung thường nhạy cảm với cái mới, tiếp
thu và truyền bá những tư tương cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò
rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và
công nghệ ngày nay”…..
Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu trí thức là những người lao động trí óc,
trong đó có các nhà khoa học lớn có phát minh, sáng chế. Do sáng tạo, nên họ
nhạy cảm với cái mới, tiếp thu dễ dàng những tư tưởng tiến bộ, có vai trò lớn đối
với lịch sử. Khác với tất cả các tầng lớp lao động khác trong xã hội, trí thức có tài
sản vô giá là chất xám - trí tuệ. Tài sản này được nhân lên nhanh chóng rất nhiều
lần, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu biết phát huy, khai
thác, sử dụng.