Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý, xử lý nước thải chế biến bột dong tại xã Tứ Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên - Pdf 33

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
---------------------------------------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ,
XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHẾ BIẾN BỘT DONG TẠI XÃ TỨ DÂN
HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN

Người thực hiện

: Đỗ Thị Huyền

Lớp

: MTA

Khóa

: 56

Chuyên ngành

: Môi trường

Giáo viên hướng dẫn

: PGS.TS Hoàng Thái Đại


i


Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những nước phương Đông có truyền thống văn hóa hàng
nghìn năm, Việt nam được biết đến với nhiều làng nghề truyền thống.Theo số
liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổng hợp từ báo cáo
chính thức của Ủy ban nhân dân (UBND), Sở Tài nguyên và Môi trường
(TN&MT) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến tháng 7 năm
2011,tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng, trong đó
có 1.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037 làng có nghề chưa được
công nhận. Đi kèm với sự nâng cao thu nhập cho người dân, giải quyết công
ăn việc làm cho xã hội, cải thiện cuộc sống cho nông dân thì kéo theo đó là
sự xuống cấp của môi trường nước trầm trọng do nước thải từ hoạt động sản
xuất, chế biến không qua xử lý.
Mặc dù các ngành, các cấp đã có nhiều văn bản chính sách quản lý để
bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm môi trường nước nhưng hiện trạng môi
trường nước mặt quanh làng nghề ngày càng ô nhiễm do việc xả thải nước
thải trực tiếp mà không qua một hệ thống xử lý nước thải. Vì vậy đòi hỏi sự
quan tâm của các chức năng tổ chức cộng đồng để có chính sách phù hợp với
từng làng nghề.
Hưng Yên với tổng số 66 làng nghề trong đó UBND tỉnh ra quyết
định công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề là 32. Theo kết quả khảo sát môi
trường làng nghề tỉnh Hưng Yên ( năm 2012 – Trần Duy Khánh ) nước thải
từ làng nghề tái chế nhựa Minh Khai thì BOD5 vượt TCCP 1.5 lần, nước
thải có màu xám đen, Cadimi vượt 2,87 lần. Môi trường nước tại làng nghề
chạm bạc Huệ Lai đã bị ô nhiễm, tổng chất rắn hòa tan (TDS) vượt TCCP tới

ii

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi
hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong
đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ
công, giữa họ có mối lên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Làng nghề Việt Nam có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt
Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về
số lao động và thu nhập so với nghề nông”[Đặng Kim Chi, 2005].
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng
nghề gồm có 3 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
-

Chấp

hành

tốt

chính

sách

Pháp

luật

của

2.1.2.Phân loại làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số
dạng như sau:
Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm.
Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ.
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm.
Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu.
Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển.
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục
đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề
môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản
phẩm là phù hợp hơn cả, gồm 6 nhóm ngành chính (Hình 2.1. )

2


Nguồn: Tổng cục Môi trường , 2008
Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Làng nghề chế biền lương thực thực phẩm chăn nuôi và giết mổ phân bố khá
đều trên cả nước, phần nhiểu sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu
trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công, ít thay đổi qui trình so với thời
điểm hình thành nghề.
2.1.3.Những đóng góp tích cực của làng nghề tới kinh tế- xã hội
Cơ cấu các ngành nghề cũng đa dạng hơn, có sự chuyển dịch đáng kể,
tăng tỷ trọng các ngành chế biến lương thực, thực phẩm và cơ khí, giảm tỷ
trọng các ngành sản xuất vật liệu. Các sản phẩm đã và đang dần bám sát nhu
cầu và thị hiếu của thị trường. Nhiều làng nghề mới được thành lập, nhiều
làng nghề cũ đã đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề… Do đó giá trị
sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên, dần xâm

đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm cho ngời lao động trong
lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lợng cuộc sống cho ngời
lao động ở khu vực nông thôn.

4


Đơn vị tính: triệu USD

(Ngun: B NN&PTNT - 2010)
Hỡnh 2.3: Kim ngch giỏ tr xut khu cỏc sn phm ca lng ngh
(4) Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Nhận thức đợc tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia
tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp hoặc dịch vụ ở địa phơng, đồng thời
tăng thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu và
bán sản phẩm truyền thống, nâng cao đời sống của ngời dân thông qua các dịch
vụ phụ trợ ..., điển hình nh các tỉnh Hà Tây (trớc đây), Hoà Bình, Bắc Ninh,
Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng ..., đã và đang phát triển mạnh mẽ loại hình du lịch
làng nghề. ây là điểm đến của nhiều tuyến du lịch lữ hành của khách tham
quan trong nớc đồng thời thu hút nhiều khách du lịch.
2.2.Hin trng ụ nhim mụi trng ti cỏc lng ngh ch bin lng thc
thc phm Vit Nam
2.2.1.ễ nhim mụi trng ti cỏc lng ngh ch bin lng thc thc
phm Vit Nam
Vit Nam cú 197 lng ngh ch bin nụng sn thc phm, ch yu tp
trung min Bc l 142 lng, min Trung 42 lng v 21 lng min Nam.
Cỏc h gia ỡnh thng cú tõm lý v thúi quen sn xut trờn quy mụ nh,
khộp kớn, t phỏt nờn hn ch u t trang thit b, i mi cụng ngh dn
n hiu qu sn xut khụng cao, tiờu tn ngun nhiờn liu ng thi thi ra
mụi trng lng ln cht thi c bit l cht thi hu c. i vi mụi

5.5-9
100
100
50
60
6

Nước
Tinh bột

Bún

mắm

Bình Minh

Phú Đô

Hải

6.1
414
2.967
1.850
20,9
2,79

Thanh
9,59
10

1.002
44,2

5.1
1.764
1.271
1.080
67
23


Nguồn: Báo cáo môi trường, 2008
Lưu lượng nước thải các làng nghề CBLTTP khá lớn, ví dụ làng nghề
CBLTTP Yên Viên – Gia Lâm toàn thôn thải ra một lượng nước thải là
800m3/ngày, có một số làng nghề lượng nước thải lên tới 7000 m3/ngày.
Nước ngầm ở tầng nông tại các làng nghề CBLTTP đều có dấu hiệu ô nhiễm
với hàm lượng COD, TS, NH4+…làng nghề sản xuất tinh bột Dương Liễu
hàm lượng NH+4 trong nước lên tới 18,46 mg/l, làng nghề Tân Phú Đông –
Đồng Tháp hàm lượng NH4+ lên tới 28,40 mg/l.
Nguồn nước mặt bị ô nhiễm trầm trọng, có hàm lượng BOD 5, COD, lượng
SS, Nitots , Photpho ts rất cao. Đặc biệt nước thải từ khâu tách bã, tách bột của
quá trình sản xuất tinh bột sắn và dong có pH thấp, BOD 5, COD có thể vượt
TCVN 5945 – 2005 mức B trên 200 lần. ( Tổng cục môi trường, 2008). Làng
nghề bún Phong Lộc – Nam Định, nước cống của làng nghề đều có hàm
lượng Colifrom lên tới 370.000MPN/100ml. Nước ngâm gạo ít ô nhiễm hơn
nhưng COD vẫn cao (COD = 1.000 –2.000mg/l). [ Trần Duy Khánh, 2012].

• Ô nhiễm môi trường không khí
Đặc trưng nhất đối với môi trường không khí là mùi hôi thối của nguyên vật
liệu tồn đọng lâu ngày và do sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ trong chất

Các làng nghề CBLTTP có nhu cầu nhiên liệu rất cao, nên lượng xỉ than đổ
ra môi trường là rất lớn .
Bảng 2.2: Nhu cầu nhiên liệu và lượng xỉ của một số ngành nghề chế biến
lương thực thực phẩm (đơn vị : tấn/năm)
Làng nghề
Tinh Bột Dương Liễu
Bún Bánh Vũ Hội
Bún Phương Hoa
Đường An Cự
Bún Phú Đô
Bún Ninh Hồng

Sảnlượng sản phẩm

Nhu

66.000
3.100
1.580
760
10.200
4.380

than
34.000
7.200
4.200
1.500
5.250
5.500

Nếp sống còn mang nét cổ truyền, xa xưa nên có phần bảo thủ chưa nhận
thức được tác hại của ô nhiễm, chỉ quan tâm tới lợi nhuận trước mắt. Bên
cạnh đo một số cơ sở sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi thế cạnh
tranh, tăng lợi nhuận mà sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại.
Không có sự đầu tư trang bị an toàn lao động, làm việc ở môi trường ô
nhiễm.
- Quan hệ gia đình mang tính truyền thống gia đình, dòng tộc, làng xã
Các làng nghề chế biến truyền thống, sử dụng lao động có tính truyền thống
“cha truyền con nối ”, giữ bí mật trong dòng họ để có được sản phẩm thương
hiệu mang riêng mình nên cản trở về việc áp dụng các kỹ thuật mới, không
khuyến khích sáng tạo mang tính bảo vệ môi trường.
- Công nghệ sản xuất và thiết bị mang tính cổ truyền, còn lạc hậu, chắp vá

9


Công nghệ sản xuất còn cũ, lạc hậu chưa có sự đổi mới, kiến thức tay nghề
không toàn diện. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề còn chủ yếu là thủ công,
bán cơ khí, chưa có làng nghề nào áp dụng tự động hóa.
- Vốn dầu tư cho các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn thấp, khó có điều
kiện phát triển thay đổi công nghệ hiện đại thân thiện với môi trường
Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài,nguồn kinh phí hộ gia
đình tự cung tự cấp nên còn eo hẹp, khó có điều kiện để đầu tư, đổi mới các
trang, thiết bị cho sản xuất lại càng không thể đầu tư cho xử lý môi trường.
- Trình đô lao động chủ yếu là thủ công , văn hóa còn thấp, nhận thức trong
việc bảo vệ môi trường còn chưa cao
Nhận thấy lao động có trình độ học vấn không cao, chủ yếu mới tốt nghiệp
cấp I và cấp II (chiếm trên 60%) mặt khác có nguồn gốc nông dân nên chỉ
cần có công ăn việc làm ổn định, thu nhập cao hoặc bổ sung nguồn thu nhập
trong lúc nông nhàn nên ngại học hỏi, không quan tâm tới môi trường.

các tai nạn lao động đáng tiếc xảy ra. Tại làng nghề Vũ Hội – Thái Bình tai
nạn trong sản xuất là 70% , tai nạn chủ yếu là bỏng.
Kéo theo đó là tăng chi phí khám chữa bệnh, làm giảm năng suất lao động,
mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau.
• Ảnh hưởng tới môi trường và nông nghiệp
Không những gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà nước thải , chất thải
rắn gây ảnh hưởng nhỏ tới môi trường sống của sinh vật trong tự nhiên. Nước
thải không xử lý đổ trực tiếp ra ao, kênh mương, sông gây ô nhiễm nước,
chết các loài sinh vật, cá, tôm,ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản. Hàm lượng
chất hữu cơ lớn gây hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, nước có mầu đen và
có mùi hôi. Việc đổ tràn lan bã thải tại bãi đất trống làm ảnh hưởng tới sinh
vật sống trong đất đặc biệt các sinh vật có ích trong đất( giun đất), thay đổi
cấu trúc vật lý hóa học của đất, làm bạc màu, thoái hóa đất, ảnh hưởng tới
trồng trọt, giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng tới nông nghiệp. Khí thải từ

11


các lò nung gạch ngói, nung vôi thủ công làm giảm năng suất nông nghiệp,
vườn tược xung quanh, nhất là trong thời kỳ ra hoa, kết quả.
Ô nhiễm môi trường làm giảm sức thu hút du lịch, giảm khách du lịch làng
nghề dẫn tới các thiệt hại kinh tế.
2.3.Hiện trạng công tác quản lý chất thải tại các làng nghề chế biến
lương thực thực phẩm của Việt Nam
2.3.1.Các văn bản có liên quan đến công tác quản lý chất thải làng nghề
chế biến lương thực thực phẩm ở Việt Nam
Hiện tại chưa có văn bản cụ thể nào đối với việc quản lý và xử lý chất thải
làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, việc ban hành các văn bản được sử
dụng chung cho các làng nghề trên cả nước hiện nay.
2.3.1.1.Các văn bản cấp trung ương

nghề.
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ TN&MT
quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2030.
Ngày 2/9/2012 Phó Thủ tường Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định
số 1206/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô
nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015: Chính phủ đã quyết
định dành 5.863 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô
nhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn 2012 – 2015. Trong đó, 2.420
tỷ đồng dành cho dự án khắc phục ô nhiễm ở 47 làng nghề (ngân sách trung
ương chi 1.420 tỷ đồng, ngân sách địa phương đóng góp 700 tỷ đồng, huy
động từ các tổ chức, cá nhân 300 tỷ đồng) (Quyết định số 1206/QĐ-TTg).
2.3.1.2.Cấp địa phương
Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn
bản liên quan đến làng nghề nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng
và Chính phủ ở địa phương, cụ thể:

13


Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 27 tháng 01 năm 2011 của UBND thành
phố Hà Nội phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội
giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020.
Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02 tháng 5 năm 2008 của UBND
thành phố Hà Nội ban hành “Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển
nghề và làng nghề Hà Nội”.
Quyết định 03/2008/QĐ- UBND ngày 16/1/2008 về quy định bảo vệ môi
trường trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trong giải pháp giải quyết ô nhiễm môi
trường các khu vực làng nghề.
Quy chế BVMT làng nghề tỉnh Bắc Ninh và đề án giảm thiểu ô nhiễm môi

tới cấp cơ sở.
2.4.Hiện trạng công tác xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề.
2.4.1.Tổng quan hệ thống xử lý nước thải tập trung tại làng nghề chế biến
nông sản thực phẩm
- Đặc điểm của nước thải làng nghề chế biến lương thực là thường chứa các
tạp chất hữu cơ ở dạng hòa tan hoặc lơ lửng, trong đó chủ yếu là các hợp chất
hydrat cácbon như tinh bột, đường, các loại axit hữu cơ (lactic)... có khả năng
phân hủy sinh học. Bằng phương pháp sinh học có thể xử lý nước thải làng
nghề chế biến lương thực thực phẩm đạt qui chuẩn và được phép xả thải vào
dòng thải chung.
Trên thực tế 1 số làng nghề đã áp dụng các biện pháp xử lý sinh học với nha.
Vì vậy hạn chế được nhược điểm của từng biện pháp riêng lẻ mà đạt tiêu
chuẩn qui định.


Hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước.

15


Hình 2.4: Hệ thống xử lý bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước
-

Nước thải sẽ được lắng sơ bộ ở bể lắng (1) trước khi bơm vào cột kỵ

khí.
-

Cột kỵ khí: nước thải sẽ từ từ dâng lên ngập lớp vật liệu lọc và tiếp xúc


10
24
28

7.05
7.84
8.1
8.25
8.24
8.07

131
40.2
28.9
20.5
4.50
2.70

1357.5
795.4
207.5
181.5
31.8
26.2

15.42
9.36
7.67
5.23
1.11



V = 50 lít được đậy kín, bên trong chứa vật liệu lọc, bên dưới có một tấm đỡ
vật liệu lọc. Nước thải được đi vào bể lọc kị khí theo đường ống dẫn từ trên
bể cao vị xuống. Nước thải sau khi được lọc tại bể kị khí được dẫn sang bể
đĩa quay sinh học theo đường ống dẫn phía dưới đáy của bể kị khí.
+ Mô hình thiết bị đĩa quay sinh học
- Các đĩa quay sinh học: diện tích bề mặt lớn và độ nhám để vi sinh vật có thể
bám dính trong quá trình phân hủy chất hữu cơ.
- Trục quay: các đĩa được lắp trên trục quay.
- Bể xử lý: làm bằng tôn được sơn chống gỉ, với dung tích 60lít.
- Hệ thống động cơ: động cơ được sử dụng trong mô hình là động cơ giảm
tốc. Hệ thống bánh đai truyền động được sử dụng để giảm giảm tốc độ xuống
khoảng 3 vòng/phút (tỉ lệ khoảng 1:5).
=>Kết quả thí nghiệm
Kết quả xử lý nước thải sản xuất bún bằng bể lọc kị khí kết hợp đĩa quay
sinh học cho hiệu suất xử lý cao đối với các thông số đã nghiên cứu COD, SS
và NH4+. Sau 24h xử lý tại bể lọc kị khí với tốc độ dòng tối ưu và 32h tại bể
hiếu khí RBC, hiệu suất xử lý đạt lớn nhất đối với các thông số COD, SS và
NH4+ lần lượt là 97.48; 91.35 và 92.33%. Nước thải sản xuất bún sau khi xử
lý 2 giai đoạn kết hợp thì các chỉ tiêu SS và NH4+ đạt tiêu chuẩn nước thải
công nghiệp loại A, chỉ tiêu COD đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại
B theo QCVN 40/2011-BTNMT.
Ưu điểm:
- Tự động vận hành không yêu cầu lao động có trình độ cao.
- Không gây mùi, thiết kế theo đơn nguyên.
- Tiết kiệm sử dụng mặt bằng, không yêu cầu tuần hoàn bùn.
- Thiết bị làm việc đạt hiêu quả xử lý chất hữu cơ trên 90%, chất dinh dưỡng
N, P đạt 35%.
- Không yêu cầu cấp khí cưỡng bức

2.5.Tổng quan về môi trường làng nghề truyền thống tỉnh Hưng Yên

19


2.5.1.Tình hình phát triển các làng nghề truyền thống tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên với tổng số 66 làng nghề trong đó UBND tỉnh ra quyết định công
nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề là 32, 2 làng nghề được UBND tỉnh công nhận
là ngừng hoạt động [báo cáo môi trường tỉnh hưng yên, 2012]
Các làng nghề ở hưng yên sản xuất các loại sản phẩm khác nhau được phân
theo bốn nhóm : làng nghề chế biến nông lâm thủy sản với 21 làng nghề tập
trung ở các huyện Văn Lâm, Tiên Lữ, Khoái Châu. Nghề sản xuất vật liệu
xây dựng, cơ khí nhỏ dệt may, với 9 làng nghề tập trung Văn Lâm, Phù Cừ,
Yên Mỹ. Sản xuất thủ công mỹ nghệ có 25 làng nghề tập trung ở Khoái
Châu, Tiên Lữ , Mỹ Hào. Còn lại là làng nghề vận tải và các dịch vụ khác
[ báo Nhân Dân - 2014]. Một số làng nghề sản phẩm đã có thương hiệu lớn
trên thị trường được tiêu thụ rộng : tương Bần, long Nhãn, hương thôn
Cao...Một số làng nghề trên địa bàn huyện Khoái Châu như chế biến mứt táo,
quất, long nhãn ở Bình Minh , thêu ren ở Bình Kiều chưa được công nhận
nhưng hoạt động ổn định và có hiệu quả kinh tế cao, giải quyết công ăn việc
làm cho hàng trăm lao động.
Giá trị sản phẩm của làng nghề khá cao so với giá trị sản phẩm nông nghiệp.
Theo báo cáo của huyện khoái châu giá trị sản xuất trên 53 tỷ đồng, giải
quyết trên 2000 lao động, tạo thu nhập 2 triệu đồng/ tháng.
Tuy nhiên nhiều làng nghề ở Hưng Yên đang gặp khó khăn về mặt bằng sản
xuất, ô nhiễm môi trường.
2.5.2.Thực trạng môi trường làng nghề chế biến lương thực thực phẩm
tỉnh Hưng Yên
Vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng
rất lớn đến môi trường sinh thái sức khỏe và đời sống của nhân dân. Các cơ

nước thải ra trong quá trình sản xuất hầu như không được qua xử lý, có tình
trạng ô nhiễm nặng nề ở một số khu vực sản xuất tập trung dân cư.
- Chi phí cho sự khắc phục ô nhiễm làng nghề là một vấn đề đặt ra, các cơ sở
sản xuất thủ công, cơ khí lạc hậu và trình độ khoa học công nghệ thấp sẽ dẫn
21


Trích đoạn Hiện trạng cụng tỏc quản lý nước thải trờn địa bàn xó. Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất củ dong tới mụi trường – sức khỏe cụng đồng Giải phỏp đề xuất nhằm giảm thiểu ụ nhiễm, cải thiện mụi trường làng nghề chế biến củ dong xó Tứ Dõn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status