quy định về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự - Pdf 33

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự
của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths.
Nguyễn Ngọc Kiện.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong khóa luận
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tôi xin
chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Sinh Viên
Lê Doãn Toàn


THỐNG KÊ TRÍCH DẪN
STT

Tác giả tài liệu trích dẫn

1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung
ương (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của
Bộ Chính trị, Hà Nội.
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm
trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác
giả Nguyễn văn Sản làm Chủ nhiệm, được nghiệm thu
năm 1999
Bài viết “Đổi mới chế định hội thẩm nâng cao hiệu
quả hoạt động của Toà án” của PGS – TS Nguyễn Tất
Viễn đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số 1/1999
Bài viết “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía
cạnh hoạt động và tiêu chuẩn của Hội thẩm” của tác
giả Chu Hải Thanh đăng trên Thông tin khoa học pháp


1

Tần
suất
trích
dẫn
1

2

1

2

1

3

1

3

1

3

1

3


20
21
22
23
24

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam , nhà xuất
bản Công an nhân dân Hà Nội năm 2011 , Trang 109
Từ điển luật học nhà xuất bản tư pháp , nhà xuất bản
từ điển bách khoa thuộc viện khoa học pháp lý của Bộ
tư pháp . trang 238
Bài viết một số nhận thức về hội thẩm nhân dân Tác
giả : Bùi Thị Hoa - TK Nhà nước pháp luật trang 38
/> /> /> />Nghị quyết số 10 /NQ-HĐND nghị quyết về việc xác
nhận kết quả bầu cử hội thẩm nhân dân - toà án nhân
dân tỉnh
Tạp chí tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị Kỳ 1 tháng 05
-2014 (Số 9) trang 27
Theo thông tư của thủ tướng chính phủ Số:
41/2012/QĐ-TTG quyết định về chế độ bồi dưỡng đối
với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết
việc dân sự
Báo cáo công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm
vụ năm 2013 (tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa VI)
Báo cáo công tác năm 2013và phương hướng nhiệm
vụ năm 2014 (tại kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh khóa VI)
Báo cáo công tác năm 2014và phương hướng nhiệm
vụ năm 2015 (tại kỳ họp thứ 14 HĐND tỉnh khóa VI)
/>Tạp chí Khoa học pháp luật số 6/2004


1

37

1

39

1

41

1

42

1

42

1

42

1

52

1

Bộ luật tố tụng hình sự
Hội đồng xét xử
Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm nhân dân


A.MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp “xây dựng nền tư pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước
hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu
quả và hiệu lực cao”[1] thì nhiệm vụ của ngành Toà án là rất quan trọng. Có
thể nói, đây là công tác có vai trò quyết định của hoạt động cải cách tư pháp.
Tuy nhiên, khâu quan trọng nhất trong hoạt động tố tụng nói chung và công
tác xét xử nói riêng vẫn là con người, mà cụ thể trong công tác xét xử là đội
ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký.
Lịch sử phát triển của nền tư pháp nước ta từ năm 1945 đến nay cho
thấy Hội thẩm giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Toà án.
Đội ngũ Hội thẩm qua nhiều thế hệ đã cùng với các Thẩm phán luôn luôn
đứng trên tuyến đầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý. Sự hiện diện của Hội
thẩm trong xét xử, kết quả hoạt động của họ đã khẳng định rằng nhân dân có
thể và cần phải có tiếng nói của mình trong hoạt động tư pháp. Sự tham gia
tích cực và có hiệu quả của Hội thẩm đã tôn vinh thêm vị trí, vai trò và uy tín
của Toà án trong chế độ ta.
Mặc dù Thẩm phán và Hội thẩm đều là những người có vị trí rất quan
trọng trong Toà án nhưng việc nghiên cứu lại mới chỉ tập trung vào pháp luật
về Thẩm phán mà chưa tập trung vào pháp luật về Hội thẩm.
Hơn 60 năm qua, pháp luật về Hội thẩm nhân dân trong những điều
kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã phát huy được yếu tố tích cực, làm
cho nhân dân thực sự có tiếng nói trong hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, trước

thẩm.[3]

2


+ Bài viết “Hiệu quả của công tác xét xử nhìn từ khía cạnh hoạt động
và tiêu chuẩn của Hội thẩm” của tác giả Chu Hải Thanh đăng trên Thông tin
khoa học pháp lý Số 1/1999, bàn về vấn đề hiệu quả mà Hội thẩm đóng góp
cho hoạt động xét xử của Toà án, tiêu chuẩn của Hội thẩm và đưa ra số giải
pháp để Hội thẩm phát huy được tác dụng, xét xử có hiệu quả.[4]
+ Bài viết “Sự hình thành và phát triển của chế định hội thẩm ở Việt
Nam” của tác giả Lê Thu Hương đăng trên Thông tin khoa học pháp lý Số
1/1999 đã khái lược lịch sử hình thành và phát triển của chế định Hội thẩm ở
Việt Nam.[5]
+ Bài viết “Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của
hội thẩm” của tác giả Hoàng Hùng Hải đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân Số
6/2005, đưa ra một số ý kiến về việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
của Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân.[6]
+ Bài viết “Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân
dân” của tác giả Phạm Văn Chung đăng trên Tạp chí Pháp lý Số 7/2006, đưa
ra các kiến nghị để nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân.[7]
+ Bài viết “Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm Toà
án - thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Lộc đăng trên Tạp
chí Toà án nhân dân tháng 8/2006 - Số 15, kiến nghị một số giải pháp nâng
cao công tác quản lý bồi dưỡng Hội thẩm.[8]
Nhìn chung, kết quả đề tài và các bài viết trên rất đáng trân trọng, đã lý
giải một số vấn đề khá sâu sắc về chế định Hội thẩm nhân dân, và đề ra một
số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân. Nhưng
trong điều kiện mới và tư duy mới hiện nay đã phát sinh nhiều vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu, đồng thời những vấn đề về thực tiễn cũng cần được tổng kết

chức thực hiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân tại tỉnh quảng trị; làm rõ
những mặt được, những mặt còn hạn chế, vướng mắc bất cập trong pháp luật

4


về Hội thẩm nhân dân và tổ chức thực hiện pháp luật về Hội thẩm nhân dân,
nêu các nguyên nhân và bài học kinh nghiệm;
- Phân tích các các quy định của pháp luật về hội thẩm nhân dân trong
bộ luật tố tụng hình sự 2003 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
Hội thẩm nhân dân ở Việt Nam
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sở vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phương pháp phân tích , phương
pháp tổng hợp,phương pháp lịch sử,phương pháp thống kê,phương pháp so
sánh, tổng kết thực tiễn.
6. Cơ cấu của khóa luận :
Chương 1 : những vấn đề chung về hội thẩm nhân dân
Chương 2 : các quy định về hội thẩm nhân dân theo luật tố tụng hình sự
việt nam và thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật tại tỉnh quảng trị và đề
xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân :
Như chúng ta đều biết một trong những biểu hiện dân chủ của nền tư

dân được bầu hoặc cử là ai.
Khái niệm thứ ba cho rằng:
“Hội thẩm nhân dân là người có uy tín, được nhân dân tín nhiệm bầu
ra trong các tầng lớp nhân dân tham gia vào công tác xét xử”[12,tr. 38]
Khái niệm là đã đưa ra được đối tượng để bầu và cử làm hội thẩm đó là
người có uy tính. Tuy nhiên
Khái niệm đã có quá nhiều thiếu sót đó là về cơ chế để bầu và cử hội
thẩm nhân dân . khái niệm cũng chưa đề cập rõ ràng về bản chất và phạm vi
hoạt động của hội thẩm nhân dân
Như vậy hội thẩm nhân dân có các đặc điểm sau :
- Bản Chất
- Cơ Chế
- Phạm Vi Hoạt Động
- Đối Tượng
Từ việc làm rõ các khái niệm về hội thẩm nhân dân ở trên em đã xây
dựng được khái niệm khoa học về hội thẩm nhân dân như sau :
“Hội thẩm nhân dân là công dân Việt Nam , có phẩm chất đạo đức tốt ,
có uy tính trong cộng đồng dân cư ,có kiến thức pháp luật có hiểu biết xã hội
và được Ủy ban mặt trận tổ quốc việt nam giới thiệu cho hội đồng nhân dân
cùng cấp có thẩm quyền theo luật định bầu hoặc cử để thực hiện nhiệm vụ xét
xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân ”
1.2 Vị trí vai trò của hội thẩm nhân dân :
Các vị Hội thẩm Toà án nhân dân có vai trò rất quan trọng, đã tích cực
tham gia công tác xét xử của Toà án đã thể hiện được vị trí của mình là đại

7


diện của nhân dân để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và của công dân, đã thể

vào phán quyết của Hội đồng xét xử thấu tình đạt lý. Là những người đại biểu
của dân, các vị Hội thẩm có quan hệ mật thiếtt với quần chúng nhân dân ở cơ
sở như cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể xã hội, làng xóm, khu phố, trường học...
Đồng thời với tư cách là người tham gia hoạt động xét xử các vị Hội thẩm
nhân dân có điều kiện tiếp cận trực tiếp đối với người thật, việc thật nên hiểu
được tính chất và các tình tiết cụ thể của từng vụ án do vậy khi tham gia xét
xử phán quyết của Hội đồng xét xử đảm bảo được tính khách quan, toàn diện
đúng với các quy định của pháp luật.
Các vị Hội thẩm bằng sự gương mẫu của bản thân, gương mẫu trong
sinh hoạt, trong việc tuân thủ pháp luật và trong ý thức tự bồi dưỡng những
kiến thức pháp luật cho bản thân đã góp phần nâng cao uy tín của Hội thẩm
Toà án góp phần nâng cao uy tín của cơ quan xét xử.
1.3 Nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân :
Hội thẩm nhân dân là những người kiêm nhiệm giữ nhiệm vụ xét xử
không chuyên, chịu sự quản lý của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương
theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm. Cũng nhưThẩm phán
“Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Tòa án
nơi mình được bầu làm Hội thẩm” (Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm Tòa án nhân dân 2002)[13]. Hội thẩm nhân dân được thực hiện tất cả
các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định kể từ khi nhận được quyết định
phân công xét xử của Tòa án. Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 tại điều 40 có quy định “1. Hội thẩm được phân công xét xử vụ án hình
sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà;
b) Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm;

9


c) Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc

của các thành viên trong Hội đồng xét xử được ghi lại một cách trung thực,
khách quan trong biên bản nghị án, nếu có ý kiến cần bảo lưu thì được ghi
nhận bằng văn bản riêng và được lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Hội thẩm phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, phải giữ bí mật theo quy
định của pháp luật, phải tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.
Hội thẩm có nhiệm vụ vận động giải thích cho nhân dân thực hiện pháp luật,
đồng thời đóng vai trò hòa giải viên nhân dân trong việc giữ gìn trật tự xã hội,
văn hóa tại địa phương. Hội thẩm còn phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật,
thường xuyên rèn luyện, nâng cao kiến thức, phấn đấu để luôn bảo đảm
những tiêu chuẩn khi được bầu. Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân
có người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm Tòa án nhân dân có trách nhiệm tạo
điều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ. Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ
theo sự phân công của Chánh án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân
dân có Hội thẩm đó không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc
khác, trừ trường hợp đặc biệt (Điều 40 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
Tòa án nhân dân2002).
1.3.2 Tham gia xét xử :
Theo điểm b khoản 1 điều 40 bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định
“hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm , phúc thẩm
” việc tham gia của Hội thẩm nhân dân giúp cho Tòa án xét xử không chỉ
đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hội thẩm
nhân dân có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên họ
hiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân
dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏi
hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình. Với vốn hiểu biết thực
tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa
phương, Hội thẩm nhân dân sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã
hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp
luật, được xã hội đồng tình ủng hộ.
11

12


theo chúng tôi là hợp lý và nó phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ
luật tố tụng hình sự về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:
“Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”.
Như vậy, xét hỏi tại phiên toà là một hoạt động tố tụng rất quan trọng,
nếu bỏ qua giai đoạn này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Từ khi có
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm của công tác tư pháp thì vấn đề xét hỏi tại phiên toà hình sự lại càng
được quan tâm hơn, đặc biệt đối với vai trò của Kiểm sát viên tham gia phiên
toà. Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp là: “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác...; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ
yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà”.
Như vậy, vấn đề tranh tụng tại phiên toà hình sự vừa là một trong
những nội dung rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, vừa là một
vấn đề có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay.
Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh tụng, mà chỉ là
người tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên toà giữa những người có
quyền và lợi ích đối lập nhau.
1.3.4 Trách nhiệm :
Được quy định tại khoản 2 điều 40 bộ luật tố tụng hình sự 2003 “ hội
thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định
của mình” Cũng như các cán bộ, công chức khác, Hội thẩm vẫn phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ-quyền hạn của mình,
kể cả trách nhiệm hình sự. Điều 295 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung
2009 đã quy định những chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với Hội thẩm vi
phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp: “Hội thẩm nào ra bản án mà mình

(Khoản 2 Điều 33 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002).

14


1.4 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.4.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này được hiến pháp năm 2013 quy định tại điều 8 với nội
dung nguyên tắc
Điều 8
1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật,
quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ.
2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng
Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng
nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.
Mặt khác nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự là
những quy định cơ bản chung nhất được ghi nhận trong bộ luật tố tụng hình
sự và mang ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự theo đó
các cơ quan tiến hành tố tụng , những người tiến hành tố tụng và những người
tham gia tố tụng trong khi thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng phải triệt để
tuân theo những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
được quy định tại Điều 3 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Mọi hoạt động
tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”
Như vậy với tính chất là nguyên tắc hiến định và của pháp luật , pháp
chế xã hội chủ nghĩa luôn luôn giữ vai trò chỉ đạo định hướng cho toàn bộ cơ
chế điều chỉnh pháp luật , có ảnh hưởng rất lớn tời ý thức pháp luật , trật tự

hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp
luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung
cho mọi trường hợp.

16


Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp
dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thay
thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần có những
tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyết
định đối với một quan hệ xã hội nào đó.
Ở nước ta, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về sự ra đời của chế định
hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử. Có ý kiến cho rằng, với sự giao thoa
và tiếp nhận văn hoá pháp lý Trung Quốc thì các tư tưởng về pháp luật của nho
giáo Trung Quốc ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa pháp lý Việt Nam. Do đó, các
chế định pháp luật của nước ta cũng mang đậm dấu ấn của tư tưởng nho giáo đó
là tính trọng tình: “Trăm cái lý không bằng tí cái tình”[14] … Cho nên, pháp
luật chưa phải là quy tắc cao nhất để phán xét đối với hành vi của xã hội. Vì vậy,
cần phải có tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội thì mới coi đó là các phán
xét “thấu tình, đạt lý”[15] và những người góp phần mang lại tiếng nói đó chính
là các hội thẩm nhân dân được đề cử.
Hay cũng có cách lý giải rằng, trong một Nhà nước pháp quyền của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì việc quy định về số lượng của hội
thẩm nhân dân trong thành phần Hội đồng xét xử cũng là thể hiện tính nhân
dân của Nhà nước pháp quyền đó…
Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh Nhà nước pháp quyền thì các cách lý giải
trên đều có vẻ là chưa thoả đáng. Bởi lẽ, vấn đề mấu chốt của Nhà nước pháp
quyền là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật chỉ được thượng tôn
khi mà mọi quy định của pháp luật phải được nghiêm chỉnh tuân thủ một cách

đồng xét xử là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà
nước pháp quyền.
1.4.3 Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của
Nhà nước, phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà

18


nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, công
tác xét xử phải khách quan, toàn diện, tuân thủ pháp luật, đúng người, đúng
tội, không để lọt tội phạm nhưng cũng không xử oan người vô tội. Muốn vậy,
khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật. Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong bốn bản Hiến pháp
và trong Bộ luật tố tụng hình sự.
Nguyên tắc này cũng được bộ luật tố tụng hình sự quy định tại Điều 16:
“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”
- Thứ nhất, các cơ quan nhà nước khác không được can thiệp vào việc
xét xử của Tòa án, vì chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao
cho thực hiện chức năng xét xử;
- Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án không lệ thuộc vào ý kiến của
cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Nếu qua phiên tòa xét xử, Tòa án xét thấy
cần thiết xử lý khác với ý kiến của các cơ quan đó thì Tòa án sẽ căn cứ vào
các quy định của pháp luật để đưa ra quyết định xử lý.
- Thứ ba, trong nội bộ ngành Tòa án, Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án
cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng Tòa án cấp
trên không quyết định trước về chủ trương xét xử cụ thể một vụ án buộc Tòa án
cấp dưới phải tuân theo. Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm không chỉ độc lập với
các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn độc lập với chính các thành viên của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status