BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LINH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN CÁC BỆNH NHÂN
PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA ĐỨC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LINH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN CÁC BỆNH NHÂN
PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA ĐỨC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Các thầy cô trong bộ môn Dược lý và Dược lâm sàng.
Đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề
tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn những bệnh nhân và gia đình của họ, những
người đã cung cấp những thông tin chân thực để em thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân,
những người luôn giúp đỡ, động viên, quan tâm đến em trong cuộc sống cũng như
trong học tập.
Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2015
Nguyễn Thị Linh
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .......................................................................................3
1.1. NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ ................................................................................3
1.1.1. Định nghĩa và phân loại ...............................................................................3
1.1.2. Tác nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh ......................................................4
1.1.2.1. Tác nhân gây bệnh ...............................................................................4
1.1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của nhiễm khuẩn vết mổ .........................................7
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ ..............................................8
1.1.3.1. Các yếu tố thuộc về người bệnh ..........................................................8
1.1.3.2. Các yếu tố liên quan đến phẫu thuật .................................................11
1.1.3.3. Phân tầng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ ............................................13
1.1.4. Tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ trong các nghiên cứu trên thế giới ..........14
1.1.5. Tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ trong các nghiên cứu tại Việt Nam ........15
1.2. KHÁNG SINH DỰ PHÒNG ............................................................................17
1.2.1. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh dự phòng .................................................17
1.2.2. Một số nghiên cứu về việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu
3.1.2.3. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của các bệnh nhân theo khoa phẫu thuật 31
3.1.2.4. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của các bệnh nhân tiến cứu theo loại vết
mổ……. ...........................................................................................................32
3.1.3. Các phác đồ kháng sinh được sử dụng trên bệnh nhân ..............................33
3.1.3.1. Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh được sử dụng trên bệnh nhân ............33
3.1.3.2. Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh theo khoa phẫu thuật .........................33
3.1.3.3. Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh theo loại vết mổ được sử dụng trên
bệnh nhân tiến cứu…….. ................................................................................35
3.1.3.4. Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh trước mổ được sử dụng trên bệnh
nhân….. ..........................................................................................................36
3.1.3.5. Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh sau mổ được sử dụng trên bệnh
nhân…. ...........................................................................................................37
3.1.4. Đặc điểm về tác nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ .........................................39
3.1.4.1. Đặc điểm về xét nghiệm vi sinh và vi sinh vật gây bệnh ...................39
3.1.4.2. Đặc điểm đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được .....40
3.2. PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG PHẪU THUẬT
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG ...........................................................41
3.2.1. Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật sạch, sạch nhiễm sử dụng kháng sinh dự
phòng. ...................................................................................................................41
3.2.2. Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật sạch, sạch nhiễm sử dụng kháng sinh điều trị
sau khi dùng kháng sinh dự phòng .......................................................................41
3.2.3. Phân tích việc sử dụng kháng sinh dự phòng so với phác đồ kháng sinh dự
phòng được khuyến cáo tại bệnh viện đa khoa Đức Giang ..................................42
3.2.3.1. Phân tích việc lựa chọn kháng sinh dự phòng, đường dùng so với
khuyến cáo tại bệnh viện đa khoa Đức Giang ...............................................42
3.2.3.2. Phân tích chế độ liều được bác sĩ chỉ định so với khuyến cáo bệnh
viện đa khoa Đức Giang ................................................................................43
3.2.3.3. Phân tích thời điểm đưa thuốc so với thời điểm trước khi rạch da ở
ASHP
Hiệp hội Dược sĩ Hoa Kỳ (The American Society of Health - system
Pharmacists)
BN
Bệnh nhân
BS
Bác sĩ
CDC
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (Center for Disease
Control and Prevention)
C2G
Cephalosporin thế hệ 2
C3G
Cephalosporin thế hệ 3
DDD
Liều xác định trong ngày (Defined Daily Dose)
Thứ tự
USD
Đô la Mỹ (United States Dollar)
VM
Vết mổ
VNĐ
Việt Nam đồng
DANH MỤC BẢNG
TT
Ký hiệu
Tên bảng
1
Bảng 1.1
Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ thường gặp ở một
số phẫu thuật
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của các bệnh nhân theo thời gian
7
Bảng 3.5
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của các bênh nhân theo khoa phẫu
thuật
8
Bảng 3.6
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của bệnh nhân tiến cứu theo loại vết
mổ
9
Bảng 3.7
Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh được sử dụng trên bệnh nhân
10
Bảng 3.8
Tỷ lệ các phác đồ kháng sinh theo khoa phẫu thuật
11
Bảng 3.15 Tỷ lệ bệnh nhân có chế độ liều được bác sĩ chỉ định phù hợp với
khuyến cáo bệnh viện đa khoa Đức Giang
18
Bảng 3.16 Tỷ lệ bệnh nhân có thời điểm đưa thuốc so với thời điểm rạch
da phù hợp với khuyến cáo
19
Bảng 3.17 Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo khoa phẫu thuật và tỷ lệ nhiễm
khuẩn vết mổ chung trên các bệnh nhân
20
Bảng 3.18 Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ của bệnh nhân tiến cứu theo loại vết
mổ
21
Bảng 3.19 Chi phí kháng sinh nội trú giữa nhóm bệnh nhân hồi cứu và tiến
cứu
22
Bảng 3.20 DDD/ 1000 bệnh nhân/ ngày của nhóm bệnh nhân
hồi cứu và tiến cứu
23
3
Hình 3.2
Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật sạch, sạch nhiễm sử dụng kháng
sinh điều trị sau khi dùng kháng sinh dự phòng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là một trong những nhiễm khuẩn thường gặp
nhất trong các loại nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe [19]. Tại Hoa Kỳ,
nhiễm khuẩn vết mổ chiếm từ 2 – 5% số ca phẫu thuật [19], [37], tương đương với
khoảng 160000 đến 300000 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ một năm [19]. Mức độ
nghiêm trọng của nhiễm khuẩn vết mổ dao động từ nhiễm khuẩn da mô mềm đến
các nhiễm trùng đe dọa đến tính mạng như nhiễm trùng huyết nặng. Nhiễm khuẩn
vết mổ là nguyên nhân chính dẫn đến phẫu thuật thất bại, tăng tỷ lệ tử vong, tăng
chi phí điều trị liên quan đến phẫu thuật [37]. Deverick J.A. và cộng sự đã chỉ ra
rằng bệnh nhân nhiễm khuẩn vết mổ có nguy cơ tử vong cao gấp 2 – 11 lần so với
bệnh nhân không có nhiễm khuẩn vết mổ [19]. Nhiễm khuẩn vết mổ làm kéo dài
thời gian nằm viện sau phẫu thuật từ 7 – 11 ngày [19], tăng chi phí điều trị từ 3000
USD tới 29000 USD tùy theo loại phẫu thuật và tác nhân gây bệnh [53].
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y Tế năm 2012, nhiễm khuẩn vết mổ xảy
ra ở 5 – 10% số người được phẫu thuật hàng năm. Nhiễm khuẩn vết mổ là loại
nhiễm khuẩn thường gặp nhất, với số lượng lớn nhất trong các loại nhiễm khuẩn
bệnh viện [4]. Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cho thấy, 1/3 các
trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiễm khuẩn vết mổ (29,5%) [14]. Trong khi
đó, hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh dự phòng cũng như lợi ích về mặt kinh tế
so với việc sử dụng kháng sinh điều trị trong phẫu thuật sản phụ khoa, ngoại khoa
đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu [9], [12], [16]. Nghiên cứu của Nguyễn
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1.
NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ
1.1.1. Định nghĩa và phân loại
Nhiễm khuẩn vết mổ là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời
gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới
một năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [4].
Theo tiêu chuẩn của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ
(Centers for Disease Control and Prevention - CDC), nhiễm khuẩn vết mổ được
chia thành 3 loại: nhiễm khuẩn vết mổ nông, nhiễm khuẩn vết mổ sâu và nhiễm
khuẩn cơ quan/ khoang cơ thể [33].
Nhiễm khuẩn vết mổ nông
Nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 30 ngày sau khi phẫu thuật, chỉ biểu hiện ở
da và mô dưới da tại vị trí rạch dao, bệnh nhân có ít nhất một trong các biểu hiện
sau:
- Chảy mủ từ vết mổ.
- Cấy phân lập được vi khuẩn từ dịch và mủ thu được tại vết mổ.
- Có ít nhất một trong những dấu hiệu hay triệu chứng sau: đau, sưng, nóng, đỏ
và cần mở bung vết mổ, trừ khi cấy vết mổ âm tính.
- Có chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ nông từ bác sĩ phẫu thuật hoặc bác sĩ điều
trị [33].
Nhiễm khuẩn vết mổ sâu
Nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 30 ngày sau khi phẫu thuật nếu không có
thủ thuật cấy ghép hoặc trong vòng 1 năm sau khi mổ nếu có thủ thuật cấy ghép.
Nhiễm khuẩn tại các lớp cân và/hoặc lớp cơ tại vị trí rạch da, có ít nhất một trong
các biểu hiện sau:
- Mủ chảy từ lớp cơ (không phải từ các cơ quan hoặc các khoang trong cơ thể).
CD., Stoessel K., Korol E. và cộng sự, Staphylococcus aureus là vi khuẩn thường
được phân lập trong nhiễm khuẩn vết mổ, chiếm 15-20% các trường hợp nhiễm
khuẩn vết mổ xảy ra trong bệnh viện, các tác nhân gây bệnh thường gặp khác bao
gồm tụ cầu không sinh men coagulase, trực khuẩn Gram âm, Enterococcus spp., và
Escherichia coli [37], [52].
4
Tác nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ có thể thay đổi tùy theo từng bệnh viện và
có thể khác nhau giữa các năm trong cùng một bệnh viện. Tại Hoa Kỳ, dữ liệu của
hệ thống giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia (National Nosocomial Infections
Surveillance (NNIS) System) cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ do E. coli giảm từ
17,6% (năm 1975) xuống còn 6,5% (2003), trong khi đó tỷ lệ này ở Klebsiella
pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter species tăng lần lượt từ
2,7%; 4,7%; 0,5% (1975) lên 3,0%; 9,5%; 2,1% (2003). Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm
khuẩn vết mổ do trực khuẩn Gram âm giảm từ 56,5% năm 1986 xuống còn 33,8%
năm 2003. Ngược lại, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ do Staphylococcus aureus tăng từ
18,5% (năm 1975) lên 22,5% (năm 2003) [29]. Đến năm 2006 -2007, theo báo cáo
của Mạng lưới an toàn y tế quốc gia (National Healthcare Safety Network (NHSN)),
nhiễm khuẩn vết mổ do S. aureus chiếm 30%, trong số đó 49,2% là Staphylococcus
aureus kháng methicilin (MRSA). Nhiễm khuẩn do MRSA có liên quan đến việc
tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị so với nhiễm
khuẩn do các tác nhân khác [21]. Theo Korol E., S. aureus kháng methicilin là một
tác nhân gây bệnh ngày càng quan trọng và là nguyên nhân của hơn 50% các trường
hợp nhiễm khuẩn bệnh viện do S. aureus ở Hoa Kỳ và Châu Âu, điều này cũng đặt
ra nhiều thách thức trong điều trị do tính đa đề kháng kháng sinh của các chủng này
[37]. Trong khi đó, một nghiên cứu được tiến hành trên 24355 bệnh nhân ở một
bệnh viện của Ấn Độ (2009 - 2013) cho thấy tác nhân chính gây nhiễm khuẩn vết
mổ là trực khuẩn Gram âm (66%), các vi khuẩn Gram dương chỉ chiếm 31,7% [56].
Tại Đông Nam Á, Escherichia coli, Pseudomonas spp., S. aureus là các vi khuẩn
tác động của việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng [45].
Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ thường gặp ở một số phẫu
thuật được trình bày ở bảng 1.1.
6
Bảng 1.1. Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ thường gặp ở một số
phẫu thuật [4]
Vi khuẩn thường gặp
Loại phẫu thuật
Ghép bộ phận giả
S. aureus, S. epidermidis
Phẫu thuật tim, thần kinh
Mắt
S. aureus, S. epidermidis, Streptococcus, Bacillus
Chỉnh hình
S. aureus, S. epidermidis
Phổi, mạch máu, cắt ruột Bacillus, Enterococci
thừa, đường mật, đại trực
tràng, dạ dày tá tràng
Đầu mặt cổ
khuẩn trên da của bệnh nhân tại vị trí phẫu thuật hoặc gần vị trí phẫu thuật vẫn là
nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn vết mổ [18]. Một số ít trường hợp các vi
sinh vật có thể bắt nguồn từ các ổ nhiễm khuẩn ở xa vị trí phẫu thuật theo đường
máu hoặc bạch huyết xâm nhập vào vết mổ và gây nhiễm khuẩn vết mổ [4], [18].
Vi sinh vật ngoài môi trường (ngoại sinh)
Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ đôi khi có thể do các vi sinh vật ngoại
sinh từ nhân viên phẫu thuật, môi trường phòng mổ, dụng cụ phẫu thuật [18], [52].
Một số các tác nhân bất thường gây nhiễm khuẩn vết mổ đã được báo cáo như
Rhizopus oryzae, Clostridium perfringens, Rhodococcus bronchialis, Nocardia
farcinica, Legionella pneumophila, Legionella dumoffii, Pseudomonas multivorans.
Sự phát triển nhiễm khuẩn vết mổ trong các trường hợp này có thể bắt nguồn từ
băng dính, bông gạc, van nước máy, dung dịch thuốc sát trùng bị nhiễm bẩn, sự
xâm lấn của vi khuẩn vào người bệnh từ nhân viên phẫu thuật [18], [45].
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ
Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ bao gồm các yếu tố thuộc về
người bệnh và các yếu tố liên quan đến phẫu thuật (trước phẫu thuật, trong phẫu
thuật, sau phẫu thuật) được trình bày ở bảng 1.2 [45].
1.1.3.1. Các yếu tố thuộc về người bệnh
Các đặc điểm của bệnh nhân có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ nhiễm
khuẩn vết mổ bao gồm các nhiễm trùng ở xa vị trí phẫu thuật, sự trùng cư
(colonization) của các tác nhân gây bệnh, đái tháo đường, hút thuốc lá, sử dụng
steroid đường toàn thân, béo phì (trên 20% trọng lượng cơ thể lý tưởng), tuổi cao,
tình trạng dinh dưỡng kém, bệnh nhân có truyền máu và thời gian nằm viện trước
khi mổ kéo dài [18], [45]. Theo Anderson DJ. các yếu tố này có thể chia thành 2
loại: những yếu tố có thể thay đổi được và những yếu tố không thay đổi được [18].
Yếu tố không thay đổi được nổi bật nhất là tuổi [18]. Kết quả khi tiến hành
phân tích đơn biến trên 1268 bệnh nhân phẫu thuật của Nguyễn Việt Hùng và cộng
sự cho thấy tuổi ≥ 40 là một yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ (p < 0,05) [8].
nhiễm khuẩn vết mổ của bệnh đái tháo đường đã cho thấy RR gộp thô của 14
nghiên cứu thuần tập tương lai là 2,02 (95%CI = 1,68 – 2,43; sự không đồng nhất
giữa các nghiên cứu I2 = 56,50%) và RR gộp hiệu chỉnh là 1,69 (95% CI = 1,33 –
2,13). Qua đó, các tác giả đã kết luận rằng đái tháo đường làm tăng có ý nghĩa nguy
cơ nhiễm khuẩn vết mổ [67].
9
Bảng 1.2. Các đặc điểm của bệnh nhân và phẫu thuật làm tăng nguy cơ phát
triển nhiễm khuẩn vết mổ [45]
Các yếu tố liên quan đến bệnh
Các yếu tố liên quan đến phẫu thuật
nhân
Tuổi
Thời gian rửa tay ngoại khoa
Tình trạng dinh dưỡng
Sát trùng tay của nhân viên phẫu thuật
Bệnh đái tháo đường
Cạo lông cho bệnh nhân trước khi phẫu
Hút thuốc
thuật
bệnh viện Bạch Mai đã chỉ ra rằng thời gian nằm viện trước mổ > 7 ngày là một
trong các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ (OR = 2,7; 95% CI = 1,8 – 4,2; p
khoảng chết, sử dụng chỉ khâu, đặt ống dẫn lưu hợp lý, quản lý vết mổ sau phẫu
thuật hợp lý [45]. Hạ thân nhiệt ở bệnh nhân phẫu thuật được xác định khi nhiệt độ
trung tâm của cơ thể dưới 360C. Một nghiên cứu ở bệnh nhân phẫu thuật đại trực
tràng cho thấy, hạ thân nhiệt có liên quan đến tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
Điều này có thể là do khi thân nhiệt hạ sẽ dẫn đến co mạch, giảm cung cấp oxy cho
vị trí mổ và tiếp theo là sự suy giảm chức năng thực bào của bạch cầu trung tính
[38], [45].
Về loại vết mổ, nghiên cứu của Alp E. và cộng sự đã chỉ ra rằng yếu tố nguy
cơ quan trọng liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ ở các bệnh nhân phẫu thuật là mức
độ nhiễm trùng của vết mổ. Bệnh nhân có phẫu thuật thuộc loại bẩn, nhiễm có nguy
cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao gấp 3 lần so với bệnh nhân phẫu thuật sạch – nhiễm
(tương ứng OR = 3,06; 95% CI = 1,54 – 6,06; OR = 3,10; 95% CI = 1,74 – 5,44)
[17]. Một nghiên cứu khác thực hiện trên 2809 bệnh nhân cắt đại tràng, trực tràng
12
có chọn lọc khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến cho kết quả là tỷ lệ nhiễm khuẩn
vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật nhiễm cao gấp 2,8 lần so với những người phẫu
thuật sạch – nhiễm (OR = 2,8; 95% CI = 1,3 – 5,7; p < 0,01) [62]. Khi so sánh giữa
bệnh nhân phẫu thuật nhiễm, bẩn với các bệnh nhân phẫu thuật sạch, sạch –
nhiễm,Varik K. và cộng sự đã nhận thấy rằng nhiễm khuẩn vết mổ xảy ra thường
xuyên hơn ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật nhiễm, bẩn (7,8%) và tỷ lệ này ở bệnh
nhân phẫu thuật sạch, sạch – nhiễm chỉ là 0,6% (p = 0,0008) [65].
Trong khi đó, nghiên cứu của Malone DL. và cộng sự đã cho thấy thời gian
phẫu thuật là một trong những yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ bất kể bệnh
nhân có vết mổ thuộc loại nào. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sẽ cao gấp 1,6 lần (2,1%
so với 3,3%) khi thời gian phẫu thuật của bệnh nhân < 2 giờ tăng lên đến 2 – 4 giờ
(p < 0,001) và tỷ lệ này sẽ cao gấp 3 lần (2,1% so với 6,4%) khi thời gian phẫu
thuật từ < 2 giờ tăng đến > 4 giờ (p < 0,001) [44]. Một nghiên cứu khác cũng đã
khẳng định thời gian phẫu thuật là một yếu tố nguy cơ độc lập của nhiễm khuẩn vết
[52]. Trong một tổng quan hệ thống của Korol E. và cộng sự đã chỉ ra rằng tỷ lệ
nhiễm khuẩn vết mổ có trung vị là 3,7%, dao động từ 0,1% đến 50,4%. Nhìn chung,
tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ và tỷ lệ S.aureus phân lập được đều cao nhất trong các
phẫu thuật cấy ghép và phẫu thuật liên quan đến khối u. Tỉ lệ mắc nhiễm khuẩn vết
mổ trung bình khi phân tích theo nhóm (subgroup) là 2,2% đối với nhiễm khuẩn vết
mổ nông (29 nghiên cứu), 1,2% nhiễm khuẩn vết mổ sâu (31 nghiên cứu) và 0,6%
đối với nhiễm khuẩn cơ quan hoặc khoang cơ thể (15 nghiên cứu). Thời gian trung
bình cho đến khi khởi phát nhiễm khuẩn vết mổ là 17,0 ngày, trong khi đó phẫu
thuật chỉnh hình và cấy ghép thời gian này có thể dài hơn [37].
Năm 2002, một nghiên cứu tiến cứu được tiến hành ở tất cả các khoa ngoại và
sản – phụ khoa trên 48 bệnh viện tại Ý đã cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung
là 5,2% [53]. Sau khi thực hiện chương trình quốc gia về giám sát nhiễm khuẩn vết
mổ, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ của nước này trong 3 năm 2009 -2011 giảm xuống
còn 2,6% [46]. Tại Tây Ban Nha, theo nghiên cứu của Díaz-Agero Pérez C. và cộng
sự, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ từ năm 1997 – 2012 là 4,51% [26]. Một nghiên cứu
được thực hiện trong năm 2008 tại 39 bệnh viện ở Argentina cho thấy tỷ lệ nhiễm
khuẩn vết mổ là 10,19%, trong khi đó, tỷ lệ này ở Anh là 4,65%, Bắc Ai-len 3,69%,
xứ Wales 5,35%, Cộng hòa Ai-len 4,56% [27].
14
Tại Hoa Kỳ, nhiễm khuẩn vết mổ xảy ra từ 2 – 5% số người phẫu thuật, xấp xỉ
khoảng 160000 -300000 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ mỗi năm [19]. Theo
Anderson DJ. và cộng sự, trong các nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc y tế tại tiểu
bang Bắc Carolina, nhiễm khuẩn vết mổ là phổ biến nhất (chiếm 73%) [20].
Như vậy, nhìn chung các cuộc điều tra ở các nước phát triển Châu Âu và Hoa
Kỳ cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ dao động từ 2 - 5,2% [19], [26], [46], [53].
Tại Châu Á, nhiễm khuẩn vết mổ cũng là một vấn đề được quan tâm nhiều
hiện nay. Tần suất chung của nhiễm khuẩn vết mổ tại Hàn Quốc là 2,0 - 9,7%. Ước
tính mỗi bệnh nhân nhiễm khuẩn vết mổ sẽ tăng thêm 2.000.000 Won viện phí.