UBND QUẬN HẢI AN
TRƯỜNG MẦM NON ĐẰNG LÂM
======&=======
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
Đề tài:
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN LỜI NÓI CHO
TRẺ 24 – 36 THÁNG”
Tác giả: PHẠM THỊ BẮC
Trình độ chuyên môn: ĐHSPMN
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Mầm non Đằng Lâm – Hải An
Hải An, tháng 02/2014
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN CAM KẾT
I. Tác giả
Họ và tên : PHẠM THỊ BẮC
Năm sinh : 14 – 02- 1980
Đơn vị : Trường Mầm Non Đằng Lâm
Điện thoại trường : 0313.829553 ; Di động : 01214174283
II. Sản phẩm
* Tên đề tài :
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN LỜI NÓI CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG”
NĂM HỌC
XẾP LOẠI
2009– 2010
XL A cấp quận
2010-2011
XL B Thành
phố
Đề tài :
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN LỜI NÓI CHO TRẺ
24 – 36 THÁNG”
Người thực hiện: Phạm thị Bắc- Giáo viên- Trường Mn Đằng Lâm- Hải An- HP
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường xuyên phải sử dụng ngôn ngữ để
giao tiếp, để nhận thức và tư duy. VI Lênin đã nói: “ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
quan trọng nhất của con người”. Định nghĩa này đã chỉ ra cho ta thấy tầm quan
trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục để hình thành nhân cách con người cho trẻ.
Ở lứa tuổi mầm non, trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó mà tư duy
của trẻ phát triển mạnh. Việc phát triển của tư duy không thể tách rời việc trau dồi
ngôn ngữ vì ngôn ngũ là phương tiện biểu đạt của tư duy. Ngôn ngữ của trẻ được
phát triển thì tư duy mới phát triển và ngược lại.
Đối với trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng, đây là lứa tuổi bắt đầu hình thành mầm
mống đầu tiên của sự phát triển ngôn ngữ, sự phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi này
II. GIỚI THIỆU
Trường mầm non Đằng Lâm là trường luôn đảm bảo đi đầu trong công tác
chăm sóc giáo dục trẻ. Tuy điều kiện có nhiều khó khăn nhưng nhà trường luôn
quan tâm đầu tư trang thiết bị, mua sắm đồ dùng để nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ.
Về đội ngũ giáo viên: Hầu hết các giáo viên đã đạt trình độ chuẩn và trên
chuẩn .
Về học sinh: Các cháu đều khỏe mạnh, tâm sinh lý phát triển bình thường,
phụ huynh quan tâm chăm sóc yêu thương trẻ.
Thực tế tại trường:
* Về phía giáo viên:
- Hình thức tổ chức các hoạt động của giáo viên còn hạn chế, chưa sáng tạo.
5
- Đồ dùng, đồ chơi còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn trẻ.
* Về phía trẻ:
- Một số trẻ chưa tích cực nói, phát âm khi tham gia vào các hoạt động
- Trẻ cảm thấy chán, mệt mỏi, gò bó khi tham gia vào hoạt động.
- Nhiều trẻ còn nhút nhát.
1. Giải pháp thay thế
Để gây hứng thú kích thích trẻ tham gia tích cực vào hoạt động nhằm phát
triển lời nói cho trẻ thì việc sáng tạo ra các hình thức tổ chức các hoạt động kích
thích trẻ nói là việc làm cần thiết.Ngoài việc lựa chọn các hoạt động cô giáo phải là
người chủ động gợi mở tạo tình huống bằng cách đặt câu hỏi kích thích trẻ tìm
hiểu, khám phá và trả lời câu hỏi.
Ví dụ :
- Khi cho trẻ quan sát và tìm hiểu về quả cam, đầu tiên cô đặt câu hỏi trực
tiếp: Đây là quả gì? Sau đó cô lần lượt tiến hành các thao tác bóc, tách múi, cho trẻ
ăn...và đặt câu hỏi về tên các bộ phận, vị, hình dạng của quả cam...
cô đặt ra trong một môn học nhất định mà chưa đi sâu nghiên cứu việc kích thích
trẻ phát âm, cung cấp vốn từ cho trẻ.
Qua đây tôi muốn nghiên cứu, đánh giá cụ thể hơn và đánh giá được hiệu quả
của việc đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động, từ đó giúp trẻ tích cực phát âm
hơn.
2. Vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng các biện pháp khi tổ chức các hoạt động có giúp trẻ phát triển
được lời nói hơn không?
3. Giả thuyết nghiên cứu:
Việc sử dụng các biện pháp khi tổ chức các hoạt động sẽ gây hứng thú cho trẻ
tích cực phát âm hơn.
III. PHƯƠNG PHÁP
1. Khách thể nghiên cứu
Lựa chon đề tài nghiên cứu tôi thấy có những thuận lợi sau:
* Giáo viên:
Tôi dạy cùng cô có trình độ chuyên môn,có kinh nghiệm giảng dạy.
Bản thân tôi cũng là một giáo viên đã đứng lớp nhiều năm ở độ tuổi này.
7
Chúng tôi có lòng nhiệt tình,có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ.
1. Phạm Thị Bắc – Giáo viên dạy nhóm 1(Nhóm thực nghiệm)
2. Nguyễn Thị Thảo – Giáo viên dạy nhóm 2 (Nhóm đối chứng)
* Học sinh:
Hai nhóm được tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau.
Ý thức học tập: Các trẻ 2 nhóm đều tích cực, các thành tích học tập của năm
trước cả 2 nhóm tương đương nhau.
Bảng 1: Giới tính của 2 nhóm nhà trẻ trường MN Đằng Lâm
- Nhận biết quả cam.
- Thiết kế môi trường hoạt động theo chủ đề “Tết và mùa xuân”
Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của 2 nhóm có sự khác nhau, do đó
tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung
bình của 2 nhóm khi tác động.
Bảng 2: Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương
Điểm trung bình
Đối chứng
Thực nghiệm
5,6
5,5
P=
0,388
8
p =0,388 >0,05,từ đó kết luận độ chênh lệch điểm số trung bình của 2 nhóm
thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, 2 nhóm được gọi là tương đương.
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu:
Kiểm tra
Nhóm
bản,cô ấn định trước cho
trẻ, trẻ chỉ việc trả lời
theo trí nhớ.
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép T-test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu:
* Chuẩn bị của giáo viên:
Cô Thảo dạy nhóm đối chứng: Thiết kế giờ hoạt động đơn giản, quy trình
chuẩn bị bài bình thường, các hoạt động không kích thích được tư duy sáng tạo của
trẻ, do đó mà không khích thích được trẻ phát âm và cung cấp vốn từ mới cho trẻ.
Tôi thiết kế các giờ hoạt động bằng nhiều hình thức, sử dụng đa dạng các loại
đồ dùng khác nhau, đặt câu hỏi gợi mở để kích thích sự tìm tòi khám phá của trẻ
giúp trẻ tích cực phát âm, cung cấp vốn từ cho trẻ.
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
9
Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn thực hiện theo kế hoạch dạy học của
nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
Cụ thể:
Bảng 4: Thời gian thực nghiệm:
Tháng/năm
Tháng 11/2012
Tên họat động
Kể chuyện: Thỏ con không
vâng lời
Tên chủ đề
Những con vật đáng yêu
Điểm trung bình
5,6
6,7
Độ lệch chuẩn
0,69
0,94
Giá trị P của T-test
0,004
Chênh lệch giá trị trung
1,594
10
bình chuẩn(SMD)
Như trên đã chứng minh được rằng kết kết quả của 2 nhóm trước tác động là
tương đương. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-test
cho kết quả p = 0,004 cho thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng là rất có ý nghĩa, tức là kết quả điểm trung bình nhóm
thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là không phải ngẫu nhiên mà do kết quả tác
động .
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong các giờ hoạt động sử dụng nhiều biện pháp tổ chức cho trẻ hoạt động
kích thích trẻ tích cực phát âm hơn.
2. Khuyến nghị
- Đối với các cấp lãnh đạo: Cần quan tâm về cơ sở vật chất, các trang thiết
bị,đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ hoạt động.Đồng thời tạo cho giáo viên có
nhiều cơ hội được học hỏi, tích lũy thêm kinh nghiệm.
- Đối với giáo viên:
+
Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm,tìm ra được những biện pháp nâng cao chấy lượng chuyên môn.
+ Cô giáo phải là người nhiệt tình, yêu nghề,mến trẻ, có chuyên môn vững
vàng, phát âm chuẩn tiếng mẹ đẻ từ đó mới có khả năng rèn trẻ phát âm và dạy trẻ
nói đúng ngữ pháp.
+ Cô giáo phải biết tận dụng mọi tình huống trong mọi hoạt động chơi tập
hằng ngày của trẻ ở mọi lúc mọi nơi để kết hợp vừa dạy trẻ nhận biết vừa dạy trẻ
nói.
+ Cô giáo phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ để có những biện
pháp thiết thực phù hợp với từng đối tượng trẻ khi rèn và phát triển lời nói cho
trẻ.Chủ động kết hợp với gia đình trẻ trong việc dạy trẻ phát âm và dạy trẻ nói.
+ Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để học hỏi và rút kinh nghiệm.
Với kết quả này, tôi rất mong được sự quan tâm chia sẻ của lãnh đạo nhà
trường và các bạn đồng nghiệp để nâng cao chất lượng dạy học cho trẻ mầm non.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đằng Lâm, ngày 15 tháng 02 năm 2014
Nhận xét của HĐKHSP nhà trường
dặn thỏ con như thế nào? Thỏ con trả lời mẹ ra sao?Thỏ con bị làm sao? Ai
dẫn thỏ con về nhà?
- Cô dạy trẻ cách diễn đạt biểu cảm theo ngữ điệu của nhân vật.
- Kể lần 3: Cho trẻ xem phim truyện “Thỏ con không vâng lời” trên maý tính.
13
Hoạt động 3: Cô tổ chức cho trẻ đi hái củ cà rốt tặng thỏ con, cô khuyến khích
trẻ vừa hái cà rốt vừa hát tặng thỏ con bài hát “ Thỏ con”.
Chủ đề: Cây và những bông hoa đẹp
Bài dạy:Nhận biết quả cam
* Mục đích – yêu cầu:
- Trẻ nói đúng tên quả cam, tên các bộ phận của quả can.
- Trẻ nói đúng vị của quả cam, tác dụng của quả cam
- Giáo dục trẻ cách giữ vệ sinh trong ăn uống.
* Chuẩn bị:
- Quả cam thật, tranh lô tô một số loại quả, mô hình vườn cam
* Tiến hành:
Hoạt động 1: Khu vườn của bé.
Cô cho trẻ cùng đi tham quan khu vườn cam, hỏi trẻ : Đây là vườn quả gì?
Quả cam có màu gì?
- Cô cùng trẻ hái cam bỏ vào giỏ.
Hoạt động 2: Cô cho trẻ cùng quan sát đàm thoại về quả cam.
- Cô cho trẻ cùng quan sát, sờ, ngửi cam.
- Hỏi trẻ: Quả cam có hình dạng ntn? Sờ vào quả cam con thấy nhẵn hay sần
sùi?
- Cô lần lượt bóc, tách và hỏi trẻ từng bộ phận của quả cam: vỏ, múi, hạt, tép
cam...
- Hỏi trẻ: Trước khi ăn cam phải làm gì? (Rửa tay, gọt vỏ...),vỏ cam có ăn
1
2
3
Tiêu chí đánh giá
Trẻ tham gia hoạt động học tập một cách tích cực, trong
quá trình học không có biểu hiện mệt mỏi, buồn chán.
Trẻ biết cách trả lời câu hỏi của cô, tích cực phát âm.
Trẻ nói đúng ngữ pháp, nói đủ câu
15
Điểm
4
3
2
3. Phụ lục 3: Mẫu phiếu điều tra
Mẫu phiếu điều tra giáo viên.
Trường:.....................................
Lớp:...........................................
Họ và tên giáo viên:....................................
Để nghiên cứu một số biện pháp phát triển lời nói cho trẻ. Xin chị trả lời các
câu hỏi sau( Đánh dấu x vào câu trả lời).
1. Theo chị việc phát triển lời nói có quan trọng với trẻ 24-36 tháng.
- Quan trọng
- Không quan trọng
- Rất quan trọng
2. Chị có thích tổ chức các hoạt động giúp trẻ phát triển lời nói không?
Điểm kiểm tra sau
tác động
tác động
7
6
5
8
6
7
7
6
7
8
Vũ Huy Phương
Đoàn Diệp Phương
Võ Hồng Phúc
Mạc Nguyên Anh
Bùi Khánh Diệp Anh
Vũ Hải Yên
Đinh Tuấn Kiệt
Đoàn Duy Mạnh
Trần Tuấn Cường
Nguyễn Đoàn Thảo Vi
6
5
5
6
5
6
5
6
7
5
6
5
5
6
6
6
5
5
7
5
6
5
5
Trương Bảo Lâm
Bùi Vũ Xuân Huy
Nguyễn Trọng Mạnh Hải
Hứa Phạm Ngọc Hà
Nguyễn Khánh Duy
Trần Hoài Nam
Nguyễn Thị Diệu Linh