chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết việt nam sau 1975 qua sáng tác của nguyễn trọng oánh và bảo ninh - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-------o0o-------

NGUYỄN QUỐC BẢO

CHỦ ĐỀ CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM SAU NĂM 1975 QUA SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN TRỌNG OÁNH VÀ BẢO NINH

LUẬN VĂN THẠC SI ̃
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội 2011

1


MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................

01

PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………….....................

03

1. lý do chọn đề tài ……………………………………………………....

03


15

1.1.2. Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975- những dấu hiệu vận
động và đổi mới..........................................................................................

18

1.2. Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh với những dấu ấn của sự đột phá.....

27

1.2.1. Đất trắng, Mây cuối chân trời - Một cách nhìn mới về thực tế
chiến trận....................................................................................................

28

1.2.2. Nỗi buồn chiến tranh - Một tác phẩm có số phận đặc biệt...............

34

CHƢƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ ĐỀ CHIẾN
TRANH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN TRỌNG OÁNH
VÀ BẢO NINH..........................................................................................

40

2.1. Quan niệm mới về hiện thực chiến tranh............................................

41


CHƢƠNG 3: NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT NGUYỄN TRỌNG OÁNH VÀ BẢO NINH............................

85

3.1. Những tìm kiếm, đổi mới trong kết cấu tác phẩm...............................

85

3.2. Những cách tân trong giọng điệu và điểm nhìn trần thuật................

94

3.3. Sự đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật..............................

103

PHẦN KẾT LUẬN................................................................................

116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................

121

3


PHẦN MỞ ĐẦU

viết về chiến tranh là một lẽ thƣờng tình bởi lẽ đất nƣớc có chiến tranh thì
sẽ có văn học viết về chiến tranh. Nhƣng viết về chiến tranh, cảm nhận về
chiến tranh nhƣ thế nào khi chiến tranh đã dần lùi vào quá khứ lại là một
vấn đề mới đƣợc đặt ra. Tiếp tục dòng mạch văn xuôi cách mạng, từ sau
năm 1975, đề tài chiến tranh vẫn thu hút sự quan tâm của những ngƣời
cầm bút. Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu nhƣ : Năm 1975 họ đã sống
như thế-1978 (Nguyễn Trí Huân), Ký sự miền đất lửa-1978 (Nguyễn Sinh
và Vũ Kì Lân), Họ cùng thời với những ai- 1981(Thái Bá Lợi), Đất không
giấu mặt-1983 (Hào Vũ), Đất trắng - 1979-1984(Nguyễn Trọng Oánh),
Miền cháy - 1977(Nguyễn Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh-1990 (Bảo
Ninh)…
Nhìn nhận, đánh giá lại cuộc kháng chiến đã qua là một nhu cầu tâm lý
thƣờng trực của các nhà văn. Trong hoàn cảnh không còn phải trực tiếp
đối đầu với bom đạn, chết chóc, ở mỗi nhà văn, cách nhìn nhận và tái hiện
thực tại chiến tranh qua từng tác phẩm đã có chiều sâu lắng, chân thực
hơn.
Có thể nói, văn học viết về đề tài chiến tranh là một trong những bộ phận
quan trọng nhất của nền văn học Việt Nam sau 1975 bởi lẽ chiến tranh là
một hiện thực lớn, quan trọng của đất nƣớc. Phải thừa nhận rằng, văn học
sau 1975 đã có sự vận động, đổi mới trong cách tiếp cận đề tài chiến tranh
và bên cạnh sự xuất hiện của các tác phẩm văn học là sự quan tâm sâu sắc
của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.Đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu, các luận văn, khóa luận, các bài viết về đề tài chiến tranh
trong văn học sau 1975. Tuy vậy, bạn đọc cũng nhƣ ngƣời nghiên cứu về
đề tài chiến tranh trong văn xuôi tự sự Việt Nam thƣờng tập trung vào
nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề tác giả, tác phẩm, những phƣơng

5




6


Việc nghiên cứu và khảo sát hai nhà văn này sẽ cho thấy tính liên tục của
văn học viết về chiến tranh, tính kế thừa của các thế hệ qua các giai đoạn
và quan trọng hơn là những biểu hiện mới về chủ đề chiến tranh và cách
mạng trong một giai đoạn văn học mới.
Xuất phát từ thực tế đó và những khả năng đó, chúng tôi chọn đề tài : Chủ
đề chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 qua sáng tác
của Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh với mục đích làm rõ những khía
cạnh đổi mới trong văn học viết về chiến tranh của các nhà văn đƣơng đại.
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Có thể nói, chiến tranh đối với văn học nói chung không còn mang ý nghĩa
đề tài một cách thuần túy. Chiến tranh chiếm một phần lớn thực tại đời
sống dân tộc suốt nhiều thế kỷ. Nhâ ̣n đinh
̣ về vấ n đề này , nhà nghiên cứu
Đinh Xuân Dũng đã có nhƣ̃ng nhâ ̣n xét xác đáng: “Đề tài chiế n tranh trong
văn ho ̣c Viê ̣t Nam có đô ̣ dài ngang với chính độ dài của lịch sử văn học
dân tô ̣c. Nế u tin
́ h tƣ̀ truyề n thuyế t Thánh Gióng, chúng ta có thể nghĩ rằng,
đề tài chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc là nguồn chủ lực, là nguồn
mạch phong phú nhấ t, không bao giờ vơi của văn ho ̣c Viê ̣t Nam

tƣ̀ khi

hình thành đến nay” [8]. Lẽ đƣơng nhiên là khi đất nƣớc có chiến tranh thì
cuộc sống và con ngƣời sẽ bị chi phối bởi quy luật chiến tranh nhƣng vấn
đề đặt ra ở đây là sau 1975, khi đất nƣớc toàn vẹn, văn học thống nhất, đời
sống hòa bình thƣờng nhật, cuộc sống và con ngƣời trở về với đời thƣờng

trung, thì ở đây nhà văn đều muốn cuộc chiến đấu đã qua mà tìm lấy và
nhắn nhủ một điều tâm huyết, một bài học nào đấy về đạo đức, về trách
nhiệm, về ý nghĩa sự sống và cống hiến của con ngƣời hôm nay…”[28].Ý
kiến của nhà văn Nguyên Ngọc tuy chƣa định hình rõ một khuynh hƣớng
mới trong nhận thức lại hiện thực chiến tranh và những lối viết mới nhƣng
phần nào đã cho thấy sự thay đổi trong mối tƣơng quan giữa lối viết cũ và

8


mới. Nhà văn Hữu Mai trong bài Viết về đề tài chiến tranh giải phóng
cũng nhận định: “Bình diện viết về chiến tranh đã đƣợc mở rộng. Chúng ta
đã có điều kiện đi vào nhiều vấn đề trƣớc đây do những yêu cầu của chiến
thắng, của giai đoạn lịch sử ta còn chƣa đề cập tới” và “Một tầm nhìn mới
của nhà văn là điều kiện không thể thiếu để đào sâu những vấn đề triết
học, đạo đức nâng cao khả năng miêu tả biện chứng những mặt khác nhau
của hiện thực chiến tranh: anh hùng và hèn nhát, yêu thƣơng và căm thù,
trung thành và phản bội, ý thức trách nhiệm và bản năng sợ chết của con
ngƣời, chiến thắng và những hi sinh, mất mát, cái đẹp và cái tàn phá, ác
liệt của chiến tranh…”[26]. Phải nói rằng, nhà văn Hữu Mai đã rất thẳng
thắn trong việc chỉ ra những hạn chế của văn học viết về chiến tranh trƣớc
đây. Đó phải chăng là những né tránh hiện thực mà nay ngƣời viết phải
mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật mà cụ thể là những mă ̣t khác nhau của
hiện thực chiến tranh. Cũng trong xu hƣớng thống nhất về một sự đổi mới
cần thiết cho văn học Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh cách mạng,
trong bài viết Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách
mạng, Giáo sƣ Phan Cự Đệ cũng khẳng định “ Bây giờ đây, sau khi cuộc
kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc, trong những điều kiện mới, các nhà
tiểu thuyết đang đặt vấn đề nâng cao chất lƣợng hiện thực của những tác
phẩm viết về đề tài chiến tranh”. Tiếp tục nhấn mạnh thêm vấn đề này, nhà

văn ho ̣c sau 1975 chủ yếu là kh ám phá và biểu hiện tâm hồn , tính cách ,
sƣ́c số ng của con ngƣời qua nhƣ̃ng số phâ ̣n rấ t khác nhau trong muôn vàn
sƣ̣ kiê ̣n xảy ra trong cuô ̣c số ng và “càng đi sâu vào con ngƣời

, văn ho ̣c

càng gần tới bản chất cuộc sống , do đó t ính nhân văn cũng cao hơn ”[37].
Ở một tầng bậc khác nhà văn Xuân Thiều đã phân tích khá toàn diện và
sâu sắc những vấn đề của văn học viết về đề tài chiến tranh trong sự tƣơng
quan của văn học trƣớc và sau 1975. Trong bài viết Mấy suy nghĩ về
mảng văn học chiến tranh cách mạng, nhà văn nhận định: “Nhân dân ta
đã trải qua nửa thế kỷ chiến tranh, nên sự biến động xã hội sẽ vô cùng lớn

10


lao. Nó chi phối số phận từng con ngƣời, cả trong chiến tranh và thời hậu
chiến. Nó vẫn là một vấn đề lớn của con ngƣời Việt Nam không chỉ trong
quá khứ mà còn trong cả hiện tại và cả tƣơng lai nữa”[51]. Tác giả cũng
rất sắc sảo khi đƣa ra đánh giá về những tác phẩm viết về chiến tranh trong
sự đổi mới: “Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã khác trƣớc kia,
ngòi bút nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng hiện thực chiến tranh, đào sâu
vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ đẹp khác
nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng nhƣ nó vốn có”. Phân tích và
nâng lên tầm lý luận, Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng trong bài Văn học
Việt Nam về chiến tranh, hai giai đoạn của sự phát triển đã khẳng định:
“Khuynh hƣớng chính của sự phát triển, mặc dầu trải qua không ít khó
khăn, nhiều nhà văn trong số những ngƣời nhiều năm viết về chiến tranh
trong chiến tranh, đã bứt lên, tự đổi mới chính mình, đặc biệt các nhà văn
hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra đời những tác phẩm thực

thuyết Nỗi buồn chiến tranh hay còn gọi là Thân phận của tình yêu.
Có thể nói, những đánh giá, nghiên cứu về sự đổi mới của tiể u thuyế t Việt
Nam viết về chiến tranh sau 1975 cũng nhƣ những nghiên cứu về hai tác
giả Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh là rất đa dạng và phong phú. Nhìn
chung các nghiên cứu đó đều chú ý đề cập đến những vấn đề cơ bản sau:
Một là, Tiể u thuyế t viết về chiến tranh sau 1975 đã có sự thay đổi về
nhiều phƣơng diện do nhu cầu đổi mới đặt ra từ cả những đòi hỏi cấp bách
của đời sống xã hội và cả phía chủ thể sáng tạo. Sau 1975, mặc dù chƣa có
một sự thay đổi rõ ràng nhƣng đã bắt đầu xuất hiện những tác phẩm viết
theo xu hƣớng nhận chân mang đến những dấu hiệu của một cuộc cách
mạng văn học.
Hai là, giá trị nhân văn, giá trị nhân bản đƣợc khám phá và đánh giá
trên bình diện cao hơn, chân thực và sâu sắc hơn. Nó hƣớng con ngƣời ta

12


đến thái độ và cách nhìn vấn đề thời cuộc cũng nhƣ con ngƣời một cách
nhân bản và toàn vẹn hơn.
Ba là, hiện thực chiến tranh đƣợc đào sâu hơn, con ngƣời trong chiến
tranh đƣợc nhìn nhận nhân bản, bộc lộ sâu sắc hơn trọn vẹn sự khốc liệt
của chiến tranh, do đó ngƣời viết có điều kiện phơi bày đầy đủ và toàn
diện sự khốc liệt của hiện thực cũng nhƣ tình ngƣời trong chiến tranh. Và
cũng từ đó đã xuất hiện những ngƣời anh hùng với những tiêu chí thẩm mĩ
mới, phù hợp với cuộc sống xã hội, đời sống chiến tranh trong sự đa dạng,
đa chiều của nó.
Những nhận định trên đây có đầy đủ cơ sở để xác lập hệ thống quan điểm
cho đề tài của luận văn. Sự đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975
đã dẫn đến sự thay đổi gì trong sự biểu hiện của chủ đề chiến tranh? Khi
quan niệm về hiện thực chiến tranh thay đổi dẫn tới quan niệm về số phận

Về phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu
lịch sử- xã hội, kết hợp với các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, qua
đó đặt sáng tác trong mối quan hệ với sự vận động lịch sử – xã hội và đời
sống văn học. Ngoài ra có kết hợp các nghiên cứu tiếp cận thi pháp học để
tìm hiểu, phân tích tác phẩm.
5. KẾT CẤU LUẬN VĂN.
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
triển khai thành 3 chƣơng.
Chương I: Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh trong đời sống văn học đƣơng
đại.
Chương II: Những biểu hiện mới của chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết
của Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh.
Chương III: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Trọng
Oánh và Bảo Ninh.

14


CHƢƠNG 1

NGUYỄN TRỌNG OÁNH, BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HỌC ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu
hòa bình
Sau chiế n thắ ng vi ̃ đa ̣i , lịch sử 1975, cùng với niềm phấn khởi hân hoan
của cả đất nƣớc , của dân tô ̣c, văn ho ̣c Viê ̣t Nam đã tiế p nố i truyề n thố ng
của văn học cách mạng tiếp tục phản ánh sự nghiệp cách mạng to lớn và
vinh quang của đấ t nƣớc, trong đó có dòng văn ho ̣c viế t về chiế n tranh với
nhƣ̃ng tác phẩ m mang đâ ̣m nét sƣ̉ thi, giàu tính chiến đấu và ngợi ca. Bƣớc
vào thời kỳ đổi mới , cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, tình hình

1975 đã vƣơn mình

mạnh mẽ, đào sâu hiê ̣n thƣ̣c trên tinh thầ n nhân bản và nhân văn, phản ánh
sâu sắ c số phâ ̣n con ngƣời với nhƣ̃ng phƣơng thƣ́c biể u hiê ̣

n nghê ̣ thuâ ̣t

mới mẻ và táo ba ̣o.
1.1.1.Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1975
Đại thắng mùa Xuân 1975 đã đƣa đất nƣớc ta bƣớc vào kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, kế t thúc hơn 20 năm
kháng chiến trƣờng kỳ chống Mĩ. Có thể nói với chiến thắng lịch sử này,
dân tộc ta đã giành đƣợc thành quả hết sức to lớn đó là giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất đất nƣớc. Tuy vậy, những vấn đề lớn về việc
khắc phục hậu quả của 20 năm chiến tranh, ổn định và khôi phục kinh tếvăn hóa là những vấn đề cấp thiết.
Ngay trong tháng 9-1975, bốn tháng sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng, khi nhân dân trên cả hai miền đất nƣớc đang tập trung ra sức
khắc phục hâu quả của chiến tranh, ổn định tình hình miền Nam, tiến tới
thống nhất đất nƣớc về mặt Nhà nƣớc, Đảng họp Hội nghị toàn thể Ban
chấp hành Trung ƣơng lần thứ 24 để quyết định những nhiệm vụ của cách
mạng trong giai đoạn mới, nhằm đƣa cả nƣớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Hội
nghị của Đảng nêu rõ: “ Hoàn thành thống nhất nƣớc nhà, đƣa cả nƣớc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”[13]. Để đƣa đất

16


nƣớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng phải xác định đƣờng lối
cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu khách
quan đó đƣợc Đảng đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Đại

năm tiếp theo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã kiểm
điểm toàn diện sự lãnh đạo của Đảng từ Đại hội lần thứ IV, xác định
những nhiệm vụ chiến lƣợc cho cách mạng trong tình hình mới. Đại hội
khẳng định: “ Trong giai đoạn mới của cách mạng, toàn dân toàn quân
ta…đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu làm hai nhiệm vụ chiến lƣợc: Một
là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[10]. Đại hội V khẳng định
tiếp tục đƣờng lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đƣờng lối xây
dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ do Đại hội IV đề ra.
Tuy nhiên, đến Đại hội V, đƣờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời
kỳ qua độ của Đảng bắt đầu có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thể
hóa cho từng chặng đƣờng, từng giai đoạn phù hợp với những điều kiện
lịch sử cụ thể. Trong kế hoạch 5 năm (1981- 1985), Đảng chủ trƣơng đẩy
mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển thêm một bƣớc và sắp xếp lại cơ
cấu kinh tế, nhằm đạt đƣợc sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứng
các nhu cầu cấp thiết của đời sống xã hội.
Để giữ vững ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn định đời sống của
nhân dân, đƣa đất nƣớc thực sự vƣợt qua khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã
hội, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tƣ duy về chủ nghĩa xã hội, điều chỉnh lại
đƣờng hƣớng xây dựng chủ nghĩa xã hội theo từng chặng đƣờng trên con
đƣờng dài lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình, đặc điểm của đất
nƣớc. Trách nhiệm lịch sử đó đặt ra với Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng.

18


Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra nhiệm vụ
chung cho cả chặng đƣờng phát triển đổi mới đất nƣớc với những chủ
trƣơng đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế chính trị đến văn hóa tƣ

phát huy truyền thống của mình , vẫn đồ ng hành và gắ n bó với vâ ̣n mê ̣nh
của dân tộc, đi qua nhƣ̃ng bƣớc thăng trầ m và thƣ̣c sƣ̣ đã ta ̣o ra nhƣ̃ng biế n
đổ i sâu sắ c, toàn diện, làm nên diện mạo của một nền văn ho ̣c mới.
Mƣời năm đầ u sau chiế n thắ ng

30 tháng 4, là chặng đƣờng chuyển

tiế p tƣ̀ nề n văn ho ̣c cách ma ̣ng trong chiế n tranh sang nề n văn ho ̣c thời kỳ
hâ ̣u chiế n . Sƣ̣ chuyể n tiế p đó là rấ t toàn diê ̣n , biể u hiê ̣n sâu sắ c trên tấ t cả
các mặt từ nội dung phản ánh , cảm hứng sáng tác , đề tài chủ đề , phƣơng
thƣ́c phản ánh nghê ̣ thuâ ̣t và rấ t quan tro ̣ng là quy luâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng của văn
học.. Trong nhƣ̃ng năm đầ u kế t thúc chiế n tranh , chủ đề xuyên suố t trong
các sáng tác văn học vẫn là đề tài cách mạng với khuynh hƣớng sử thi

.

Bƣớc vào nhƣ̃ng năm 1980, trong tình hình khó khăn chung của đất nƣớc ,
với sƣ̣ khủng hoảng về kinh tế – xã hội, với nhiề u khó khăn và thƣ̉ thách ,
nề n văn ho ̣c có dấ u hiê ̣u chƣ̃ng la ̣i , chƣa chuyể n biế n bắ t kip̣ với thƣ̣c tiễn
xã hội, với các quan niê ̣m hiê ̣n thƣ̣c mới và cách tiế p câ ̣n đời số ng xã hô ̣i
mới.
Nhâ ̣n đinh
̣ về tin
̀ h hiǹ h này, Tổ ng Bí thƣ Nguyễn Văn Linh nói: “Tôi có
cảm giác trong hơn mƣời năm qua (tƣ̀ khi nƣớc nhà thố ng nhấ t , cả nƣớc đi
vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ), so với hai cuô ̣c kháng chiế n trƣớc đó ,
thành tựu văn học của chúng ta con nghèo” [22]. Nhà văn Nguyên Ngọc
cũng có nhâ ̣n đinh
̣ xác đáng: “Trong khi các nhà văn chúng ta say sƣa: bây
giờ hòa bin

trong cá tính sáng tạo và trong phong cách nhà văn . Xu thế tấ t yế u ấ y đã
đƣơ ̣c thể hiê ̣n trong đƣờng lố i đổ i mới của Đảng vớ i tinh thầ n “ đổ i mới tƣ
duy, nhìn thẳng vào sự thật”, tạo cơ sở tƣ tƣởng cho xu hƣớng dân chủ hóa
và sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong văn học đƣợc khai dòng và phát triển
mạnh mẽ. Chính xu hƣớng dân chủ hóa và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là
nhƣ̃ng yế u tố chủ đa ̣o ta ̣o ra sƣ̣ phát triể n phong phú , sôi nổ i và đa da ̣ng
của văn học nƣớc nhà và bƣớc vào chiều sâu của sự hiện đại hóa văn học
trong xu thế hô ̣i nhâ ̣p và giao lƣu với nề n văn hóa , văn ho ̣c trên thế giới .
Có thể thấy văn học Việt Nam sau năm 1975 ở thời kỳ đầu sau những năm
chiế n tranh mới kế t thúc đã phát triển theo quy luật của sự hồi sinh. Mặc
dù chƣa có những biểu hiện rõ rệt của một thời kỳ văn học đổi mới nhƣng
bản thân cuộc sống mới bộn bề những vấn đề bức xúc đã có một sự chi
phối, hấp dẫn đối với nền văn học. Từ đó đã xuất hiện những tác phẩm có
dấu hiệu thay đổi, biểu hiện xu hƣớng phản ánh hiện thực cuộc sống đang
mở rộng, đi vào chiều sâu của những vấn đề nhân sinh nóng bỏng. Và đặc
biê ̣t là, sau đại hội VI (1986) của Đảng, Văn học đƣợc sống trong bầu

21


không khí mới và phát triển theo hƣớng hiện đại, dân chủ hoá. Văn học đổi
mới có nghĩa là một nền văn học cởi mở, đƣợc đụng chạm đến những đề
tài, những vấn đề mà văn học trƣớc đó chƣa đƣợc đề cập đến. Điều quan
trọng là văn học đổi mới thay đổi quan niệm về hiện thực, nhận ra tính đa
dạng của hiện thực. Thay đổi quan niệm về con ngƣời và nhận ra tính phức
tạp của con ngƣời. Bên cạnh đó văn học đổi mới đã nhấn mạnh đến những
giá trị nhân văn và dân chủ hoá nền văn học. Nhâ ̣n đinh
̣ về xu thế mới
trong văn ho ̣c sau 1986, Phƣơng Lƣ̣u viế t: “ Tôi muố n nói đế n sƣ̣ tôn tro ̣ng
sƣ̣ thâ ̣t. Trƣớc đây vì ý chí luâ ̣n , vì cách suy nghĩ giản đơn , vì lối ca ngơ ̣i

Là một bộ phận lớn và rất quan trọng của nền văn học Việt Nam , văn
học viết về chiến tranh cũng phát triển theo đúng quy lu ật chung của nền
văn ho ̣c đấ t nƣớc . Trong nhƣ̃ng năm kế t thúc đầ u tiên của cuô ̣c chiế n
tranh, vấ n đề nhìn la ̣i cuô ̣c chiế n tranh của nhƣ̃ng con ngƣời vƣ̀a bƣớc ra
khỏi bom đạn đã bùng nổ với một loạt các tác phẩm văn xuôi ở thể

tài kí

sƣ̣ nhƣ Tháng Ba ở Tây nguyên của Nguyễn Khải , Mặt trận phía Đông
Bắ c Sài Gòn của Nam Hà , Phía tây m ặt trận của Hồ Phƣơng… Mô ̣t điề u
cầ n ghi nhâ ̣n trong sƣ̣ phát triể n của đô ̣i ngũ sáng tác văn ho ̣c viế t về chiế n
tranh sau năm 1975 là sự xuất hiện và khẳng định của một loạt nhà văn
bƣớc ra tƣ̀ cuô ̣c chiế n , gắ n bó với cuô ̣c số ng chiế n đấ u và trƣ̣c tiế p cầ m
súng trong chiến tranh nhƣ Chu Lai , Thái Bá Lợi , Xuân Đƣ́c, Nguyễn Trí
Huân, Khuấ t Quang Thu ̣y…: Chính đội ngũ nhà văn này đã đƣa vào văn
học viết về chiến tranh sau 1975 nhƣ̃ng trải nghiê ̣m của cá nhân cũng nhƣ
cả một thế hệ cầm súng trong chiến tranh . Điề u đó có thể nhâ ̣n thấ y n gay
sau năm 1975, trong khoảng mƣời năm đầ u , văn ho ̣c viế t về chiế n tranh
vẫn là mảng gây đƣơ ̣c nhƣ̃ng tiế ng vang nhấ t đinh
̣ trong công chúng
Ngƣời đo ̣c hồ hởi đón nhâ ̣n

.

Miền cháy của Nguyễn Minh Châu , Trong

cơn gió lố c của Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thế nào của
Nguyễn Trí Huân , Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh , Nắ ng đồ ng bằ ng
của Chu Lai…Cũng rất dễ hiểu cho thái độ nồng nhiệt của bạn đọc đối với
các tác phẩm viết về chiến tranh bởi lẽ chiến tranh vừa mới đi

̣ so với loa ̣i hình ấ y ở gia i đoa ̣n trƣớc. Bên ca ̣nh nhu cầ u tái
hiê ̣n la ̣i lich
̣ sƣ̉ với nhƣ̃ng sƣ̣ kiê ̣n mang tính biên niên sƣ̉ , các tác phẩm
cũng bƣớc đầu tâ ̣p trung vào xây dƣ̣ng tiń h cách nhân vâ ̣t , phân tić h và lý
giải về các sự kiện, biế n cố lich
̣ sƣ̉.
Có thể nói những bƣớc đầu trong sự khác biệt của văn học viết về
chiế n tranh sau 1975 mới chỉ là nhƣ̃ng nét chấ m phá mang tiń h sơ khai bởi
do đƣ́ng trƣớc nhƣ̃ng đòi hỏi của cuô ̣c số ng mới , của công chúng với thị
hiế u đã có sƣ̣ thay đổ i thì văn ho ̣c nói chung trong đó có văn ho ̣c viế t về
chiế n tranh phải có sự đổi mới, cách tân sao cho hòa nhâ ̣p cùng với sƣ̣ đổ i
mới của đấ t nƣớc và dân tô ̣c . Nhu cầ u đổ i mới viế t về chiế n tranh đă ̣t ra
ngay tƣ̀ trong tâm lý và suy nghi ̃ của đô ̣i ngũ nhƣ̃ng ngƣời cầ m bút . Ngay
tƣ̀ khi cuô ̣c chiế n tranh chố ng Mi ̃ chƣa

kế t thúc , trong Trang sổ tay viế t

văn in trên Báo Quân đô ̣i nhân dân (1971), nhà văn Nguyễn Minh Châu –
mô ̣t nhà văn luôn say mê hế t miǹ h cho sƣ̣ nghiê ̣p cách ma ̣ng của dân tô ̣c –
đã nhâ ̣n đinh
̣ : “ Hin
̀ h nhƣ cuô ̣c chiế n đấ u sôi nổ i hiê ̣n na y đang đƣơ ̣c văn
xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên mô ̣t lớp men trƣ̃ tiǹ h hơi dày cho nên
ngắ m nghiá nó thấ y mỏng manh , bé bỏng, óng chuốt quá, khiế n ngƣời ta
phải ngờ vực” . Sau này trong bài viế t Hãy đọc lời ai điếu cho một giai

24


đoạn văn nghê ̣ minh họa , nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nghiêm khắc đòi

,

trung thƣ̣c , tƣ̣ do, tiế ng nói của lƣơng tri , của sự thậ t, của tinh thần nhân
đa ̣o cô ̣ng sản chủ nghiã phản ánh đƣơ ̣c nguyê ̣n vo ̣ng sâu xa của quầ n
chúng và quyết tâm của Đảng trong công cuô ̣c đổ i mới đế n thắ ng lơ ̣i ”[4].

25


Trích đoạn Chân dung ngƣời lính với những chuẩn mực thẩm mỹ mới Chủ nghĩa nhân văn với những khuynh hƣớng biểu hiện mới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status