công tác vận động phụ nữa của đảng bộ tỉnh vĩnh phúc tu nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MINH PHƢƠNG

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH VĨNH PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MINH PHƢƠNG

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH VĨNH PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS: Vũ Quang Hiển

Hà Nội - 2012
2


nhiệm vụ giành độc lập dân tộc.
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Trần Thị Minh Hải (2010): “Đảng với
cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2009”. Luận văn đã tập hợp được một
cách cụ thể và chính xác những chủ trương của Đảng về vận động phụ nữ từ năm
1986 đến năm 2009 qua việc khảo sát các văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết,

4


Chỉ thị của Bộ chính trị, đã trình bày được những chủ trương của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam trong việc chỉ đạo phong trào phụ nữ, đồng thời đã khái quát được
phong trào phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chủ yếu và các phong trào thi đua yêu
nước của phụ nữ diễn ra trong giai đoạn 1986 - 2009. Qua việc nghiên cứu chủ
trương vận động phụ nữ của Đảng và phong trào phụ nữ từ năm 1986 đến năm
2009, tác giả đã rút ra được những nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong công tác vận
động phụ nữ của Đảng và nêu lên những kinh nghiệm lịch sử để công tác vận động
phụ nữ đạt kết quả cao hơn, thiết thực hơn.
Bài tham luận của tác giả Đặng Thị Vân Chi "Đường lối vận động phụ nữ của
Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc" (Hội thảo quốc tế Việt
Nam học lần II: Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập: Truyền thống và hiện đại,
tháng 7 - 2004). Bằng cách tiếp cận tư liệu báo chí và ấn phẩm, tác giả đã bước đầu tiếp
cận với đường lối vận động phụ nữ của Đảng trong những năm 1930 - 1945.
Về công tác phụ nữ ở Vĩnh Phúc có những công trình sau:
Cuốn "Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú : 1930 - 1996, sơ thảo, Ban
Chấp hà nh Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉ nh Vĩ nh Phú

, 1996, đã khái quát về lịch sử

phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1930 đến năm 1996. Tác phẩm đã đề cập
đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với phong trào phụ nữ. Đây là công

Làm sáng tỏ công tác vận động phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
1997 đến năm 2010, từ đó rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ
trong công tác vận động phụ nữ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách có hệ thống diễn biến của công tác vận động phụ nữ của
Đảng bộ Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010 qua hai khoảng thời gian: 1997 - 2000,
2001 - 2010, gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể, với những kết quả cụ thể.
- Đánh giá, nhận xét những ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong
công tác vận động phụ nữ cùng với những nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiêm cứu
- Những chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác
vận động phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2010.
- Những chủ trương và biện pháp của tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh
Vĩnh Phúc trong việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ về công tác vận
động phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2010.

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
`- Thời gian: từ năm 1997 đến năm 2010, năm 1997 là năm tỉnh Vĩnh Phúc
và Đảng bộ Vĩnh Phúc được tái lập, năm 2010 là mốc thời gian có ý nghĩa tương
đối, là mốc thời gian lựa chọn bảo vệ đề tài. Tuy nhiên trong luận văn cũng đề cập
đến công tác vận động phụ nữ và phong trào phụ nữ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
trước năm 1997, mặt khác quá trình làm luận văn cũng đề cập đến một số tư liệu sau
năm 2010 để có thêm cơ sở đánh giá.
- Không gian: Chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng cũng có sự
so sánh ở mức độ nhất định với một số địa phương, chủ yếu với Phú Thọ - tỉnh cũng
tách ra từ tỉnhVĩnh Phú cũ, để làm rõ điểm riêng, sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

công tác vận động phụ nữ.
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
chia làm ba chương:
Chƣơng I . Công tác vận động phụ nữ của Đảng bộ tỉ nh Vĩnh Phúc từ
năm 1997 đến năm 2000.
Chƣơng II. Công tác vận động phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ
năm 2001 đến năm 2010.
Chƣơng III. Ƣu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm .

8


Chương 1
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NƢ̃ CỦA ĐẢNG BỘ TỈ NH
VĨNH PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Điều kiện lịch sử và chủ trƣơng của Đảng bộ
1.1.1. Điều kiện lịch sử
Vĩnh Phúc gồm hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên được thành lập khi thực dân Pháp
đến xâm lược Việt Nam. Tỉnh Vĩnh Yên thành lập năm 1890; tỉnh Phúc Yên thành lập
năm 1901. Ngày 12-2-1950, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra nghị định
số 03/TTg hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH
hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Đến tháng 11 - 1996,
Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết về việc phân chia địa giới
hành chính của một số tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành hai tỉnh là
Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Như vậy, sau gần 29 năm hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phúc được tái
lập và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997.
Sau ngày tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc có sáu đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã
Vĩnh Yên, và năm huyện: Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Yên Lạc,

Đặc điểm sinh thái trên tạo điều kiện phát triển nông nghiệp đa dạng về cây
lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi và phát triển kinh tế đồi rừng. Dọc theo dãy Tam
Đảo với nhiệt độ trung bình 180C, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, rất
thuận lợi cho phát triển du lịch.
Vĩnh Phúc đã trở thành một bộ phận cấu thành của vùng vành đai phát triển
công nghiệp các tỉnh phía Bắc; sự hình thành và phát triển các tuyến hành lang giao
thông quốc tế và quốc gia liên quan đến Vĩnh Phúc đã đưa tỉnh xích gần hơn với các
trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố của quốc gia và quốc tế: Hành lang
kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc,
hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phố Hà Nội.
Do vị trí thuận lợi và chính sách đầu tư hợp lý của tỉnh, Vĩnh Phúc là một địa
chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư. Tháng 7 - 2003, Vĩnh Phúc được Chính phủ phê
duyệt là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường sắt, đường bộ và
đường thuỷ, gần sân bay quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa Thủ đô Hà Nội với các
tỉnh miền núi phía Bắc và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), vì vậy rất thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội và hội nhập, đặc biệt vùng đất cao, có những thuận lợi trong
thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp.

10


Vào thời điểm tái lập, Vĩnh Phúc vẫn là tỉnh nghèo, với xuất phát điểm kinh
tế rất thấp, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung của cả
nước, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (chiếm
52,5% giá trị GDP), dân số ở nông thôn chiếm hơn 90% [1, tr.561]. Khoảng 10,7%
hộ nghèo do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, không có việc làm, đông con.
Thu nhập thấp, đời sống của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (hơn 50% là phụ nữ) còn gặp
rất nhiều khó khăn [3, tr.306].
Dân số của tỉnh có gần 1,2 triệu người, tỷ lệ nữ chiếm 51,8%, đây là nguồn

Nam, Vĩnh Phúc được xem như một vùng đất cổ sớm được người Việt đến định cư
sinh sống. Thời kỳ Hùng Vương dựng nước, Vĩnh Phúc nằm trong địa bàn Phong
Châu - kinh đô đầu tiên của Nhà nước Văn Lang. Mở đầu trang sử oanh liệt chống
ngoại xâm của dân tộc những năm đầu Công nguyên là khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ
ra trên đất Vĩnh Phúc vào mùa xuân năm Canh tý (năm 40 sau công nguyên). Trong
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tổng số 103 tướng chỉ huy, có 51 vị tướng nữ, riêng Vĩnh
Phúc có 28 nữ tướng phụ trách các mũi tiến quân và trấn giữ cửa ải [3, tr.17]. Trong
số những người phụ nữ tiêu biểu tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng có thể kể đến
các nữ tướng tiêu biểu như: Bà Lê Thị Ngọc Chinh, bà Do La Thần Nữ, Hồng
Nương, Thanh Nương…. Ngày nay rất nhiều truyền thuyết, thần tích, đền miếu thờ
Hai Bà Trưng và các nữ tướng của hai bà vẫn còn truyền tụng trong dân gian và
được thờ phụng với nghi lễ cúng tế tôn kính.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỉ XIII, tên tuổi của
Bà Lỗ Thị Bồ (tức Bảy ) người xã Bồ Lý , huyện Lập Thạch cùng nghĩa binh nữ
dũng của bà được lưu truyền là nghĩa quân bất khuất cùng quân dân cả nước đánh
giặc Mông - Nguyên thắng nhiều trận lớn. Sau chiến thắng, bà được nhà Vua ban
tước hiệu "Đô dũng thống chế đại vương, đại tướng quân" và ban thưởng cho vùng
đất Đinh Sơn (núi Đinh) [3, tr.19].
Như vậy, ngay từ những trang sử vàng đầu tiên của cuộc đấu tranh giành và
bảo vệ nền độc lập dân tộc, hình ảnh người phụ nữ Vĩnh Phúc đã được in đậm như
một dấu son trong tiến trình phát triển của đất nước. Truyền thống quý báu của phụ
nữ Vĩnh Phúc đã được kế thừa và phát huy qua nhiều thế hệ với những tấm gương
sáng về đức tính cần cù, lòng dũng cảm thông minh, chính trực trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước. Cái tâm, cái đức của người phụ nữ Vĩnh Phúc ngàn đời nay
được tập trung ở hình tượng Quốc mẫu đã giúp chồng là vua Hùng Chiêu Vương và
con là Hùng Vỹ Vương kế tục truyền thống họ Hùng lâu dài được nhân dân lập đền

12




13


phục, hàn gắn vết thương chiến tranh: phong trào “phụ nữ 5 tốt”, “phụ nữ 3 đảm
đang” do Trung ương Hội LHPN Việt Nam phát động, tạo nên động lực cho phong
trào phụ nữ vượt qua thử thách, khó khăn và vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ.
Đến năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối,
cùng với phụ nữ cả nước, phụ nữ Vĩnh Phúc đã vận động chị em tham gia phong
trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (1978 - 1988) do Trung ương
Hội phát động, với các cuộc vận động: “Cánh đồng Hai Bà Trưng”, “Phong trào
phục vụ nông nghiệp”, “Tiết kiệm trong sản xuất”..., chị em đã tích cực phấn đấu và
đạt thành tích đáng kể.
Sau hơn 10 năm đổi mới , cùng với sự phát triển chung của đất nước , phong
trào phụ nữ và hoạt động của các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh đã có những bước phát
triển mới. Về tổ chức bộ máy, Hội LHPN tỉnh Vĩnh Phúc gồm 7 huyện, thị, 2 đơn vị
trực thuộc, 151 cơ sở hội và 400 đơn vị nữ công [5, tr.3]. Đó là những thuận lợi cơ
bản để phụ nữ các dân tộc và nhân dân trong tỉnh phân đấu xây dựng quê hương
Vĩnh Phúc giàu mạnh.
Thực hiện chính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, phát huy
truyền thống tốt đẹp của phụ nữ, với tinh thần tự lực vượt khó, bằng trí thông minh,
sáng tạo, vươn tới sự bình đẳng, tiến bộ, đông đảo các tầng lớp chị em phụ nữ đã
vươn lên tự khẳng định mình và có nhiều đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của
gia đình, cộng đồng và xã hội. Những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới ở
Vĩnh Phúc có nhiều đóng góp của lực lượng phụ nữ .
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phụ nữ Vĩnh
Phúc vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được giải quyết:
- Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức văn hoá - xã hội của một
bộ phận không nhỏ phụ nữ còn thấp. Phụ nữ nông dân ít được đào tạo nghề. Phụ nữ
dân tộc ít người còn một bộ phận lớn mù chữ. Đặc biệt đáng lo ngại là trình độ văn

có 19 người, trong đó có 05 Uỷ viên thường vụ, do đồng chí Phan Thị Tâm, Tỉnh uỷ
viên làm chủ tịch, đồng chí Lê Thị Nguyệt làm phó chủ tịch.
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng công tác vận động phụ nữ
của tỉnh thường xuyên được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉ nh ủy

, Trung ương Hội

LHPN Việt Nam, sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền,
MTTQ và các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh, đó là những động lực quan trọng
thúc đẩy phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc phát triển trong những năm tới.

15


1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ
Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và Đảng ta về vấn đề
vận động phụ nữ
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề vận động phụ nữ đã bác bỏ một cách
hùng hồn những thành kiến coi thường phụ nữ của xã hội cũ để lại , đồng thời cũng
khẳng định phụ nữ là một nửa của nhân loại, bị áp bức nặng nề và là lực lượng quan
trọng của cách mạng. Theo Lênin, “không thể lôi cuốn quần chúng tham gia chính trị
mà lại không lôi cuốn phụ nữ tham gia chính trị” [54, tr.38]. Trong cuộc cách mạng
xây dựng chủ nghĩa xã hội: “giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn nếu
không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ” [54, tr.61]. Vì vậy, “muốn giải phóng
phụ nữ thì trước hết phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, phải
xóa bỏ ách áp bức bóc lột giai cấp và ách nô dịch dân tộc [65, tr. 20 - 21].
Lênin nhấn mạnh: “giải phóng phụ nữ lao động phải là việc làm của bản thân
phụ nữ lao động” [54, tr.55]. Chỉ bằng cách tham gia vào phong trào cách mạng
chung, phụ nữ mới chứng tỏ được lực lượng và khả năng to lớn của mình, từ đó tư
tưởng trọng nam, khinh nữ mới được đẩy lùi dần, phụ nữ mới có điều kiện vươn lên

luôn được bổ sung và hoàn thiện. Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều
khẳng định: phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Ngoài ra còn có hàng loạt các văn bản, chỉ thị, nghị quyết khác
khẳng định quyền bình đẳng nam nữ như: Nghị quyết 04, Nghị quyết 11 của Bộ
Chính trị, Chỉ thị 37 CT/TW, Chỉ thị 44/CT...
Trên cơ sở của Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị, các vấn đề cần giải quyết đối
với phụ nữ trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VII, ngày 4-10-1997, Thủ tướng
chính phủ ký Quyết định số 822/TTG về việc duyệt "Kế hoạch hành động quốc gia
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000" với Kế hoạch hành động đi kèm.
Đặc biệt, sau khi thực hiện thành công Chiến lược và Kế hoạch hành động
quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết
định phê duyệt Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm
2010 và Kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2005.
Điều đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề phát triển
phong trào của phụ nữ.
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng,
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên,
đất nước vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như: tụt hậu xa hơn về kinh tế
so với các nước trong khu vực và thế giới; nguy cơ tệ nạn tham nhũng quan liêu,

17


nguy cơ diễn biến hoà bình từ các thế lực thù địch. Xuất phát từ tình hình trên và
căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng khẳng định: “Cần
tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [32, tr. 80]. Quyết tâm ra sức phấn
đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Để đáp ứng được
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phụ nữ Việt

Ngay sau khi tỉnh Vĩnh Phúc tái lập, tháng 4 - 1998, Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh ban hành Nghị quyết 03-NQ/TƯ "Về công tác cán bộ của tỉnh đến năm 2010".
Nghị quyết đã đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, những ưu điểm và tồn tại của đội
ngũ cán bộ và công tác cán bộ của tỉnh; từ đó đề ra phương hướng nhiệm vụ và giải
pháp chủ yếu về công tác cán bộ đến năm 2010. Trong đó đã đề ra tiêu chuẩn cán
bộ trong thời kỳ đổi mới, các giải pháp về quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá
luân chuyển cán bộ và thực hiện cính sách cán bộ. Đây chính là cơ sở, là định
hướng để cấp uỷ các cấp, các ngành thực hiện công tác cán bộ nói chung, công tác
cán bộ nữ nói riêng.
Tiếp đó, Thực hiện Chỉ thị 37 - CT/TW và các Nghị quyết của Đảng về công
tác cán bộ đặc biệt là Nghị quyết 03 của Bộ chính trị, Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc, Tỉnh uỷ đã có những chủ trương lãnh đạo các cấp uỷ Đảng, Đảng Đoàn,
Ban cán sự Đảng, người đứng đầu các địa phương, đơn vị có trách nhiệm xây dựng
quy hoạch các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong công tác xây dựng quy
hoạch đội ngũ cán bộ nữ, các cấp uỷ từ tỉnh đến cơ sở đã xác định những ngành,
những lĩnh vực có thể phát huy được khả năng, thế mạnh của phụ nữ và các đơn vị
đặc thù như: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Liên đoàn lao động,
ngành Giáo dục, Y tế, Uỷ ban Dân số, ngành Ngân hàng... để có định hướng và đề
ra tỷ lệ cán bộ nữ nhất định trong xây dựng quy hoạch.
Căn cứ vào nội dung Quyết định 163/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
chính phủ) ban hành ngày 19-10-1988, quy định trách nhiệm của các cấp chính
quyền trong việc đảm bảo cho các cấp hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý Nhà
nước, nhằm phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước. UBND các cấp triển khai thực hiện chặt chẽ, tổ chức từng bước cụ thể,
phối hợp tích cực với hội Phụ nữ xây dựng chương trình, kế hoạch chỉ đạo điểm, sơ
kết rút kinh nghiệm 2 năm, 5 năm, 12 năm thực hiện Quyết định 163/HĐBT. Trong

19




20


Dưới sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng bộ , các cấp chính quyền cơ sở,
Hội LHPN tỉnh có nhiều cố gắng hiện thực hoá chủ trương của Đảng bộ, đưa phong
trào phụ nữ phát triển sâu rộng trong toàn tỉnh, góp phần không nhỏ vào việc thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc.
1.2. Hiện thực hoá chủ trƣơng của Đảng bộ
1.2.1. Công tác tổ chức, tuyên truyền
Quán triệt tình hình nhiệm vụ chung do Trung ương Hội LHPN đề ra, đặc biệt
là căn cứ tình hình thuận lợi và khó khăn của Hội LHPN tỉ nh trong năm đầu tái lập
tỉnh, được Tỉnh uỷ chỉ đạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Đại hội đại
biểu lần thứ X nhiệm kỳ 1997 - 2001 từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 3 năm 1997.
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1997 - 2001 với mục tiêu
chung của phong trào là “ Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy mọi tiềm
năng, sức sáng tạo và phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế, xã
hội nhằm góp phần cải thiện đời sống vật chất , tinh thần, nâng cao kiến thức mọi
mặt cho phụ nữ , thực hiện nam - nữ bình đẳng , góp phần thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước , xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng người phụ nữ
Vĩnh Phúc có sức khoẻ, kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng,
quan tâm đến lợi ích của xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu, xây dựng gia đình
ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ Hội
ngày càng vững mạnh để phát huy vai trò đại diện, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp
pháp và chính đáng của phụ nữ” [39, tr.12].
Đại hội đề ra 5 chương trình hành động trọng tâm, cụ thể là:
- Chương trình nâng cao kiến thức, trình độ và năng lực cho phụ nữ
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập
- Chương trình chăm sóc sức khoẻ phụ nữ, trẻ em, thực hiện sinh đẻ có kế
hoạch, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước, truyền thống Hội đã diễn ra rất sôi
nổi nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 50 năm ngày
thành lập tỉnh Vĩnh Phúc….
Công tác tuyên truyền giáo dục được tiến hành thường xuyên góp phần củng
cố, nâng cao nhận thức chính trị, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
hiểu biết về pháp luật cho phụ nữ, giúp chị em tự tin, vươn lên tham gia các hoạt
động xã hội, làm chủ cuộc sống.

22


Bên cạnh kiến thức về chính trị và pháp luật, kiến thức về những lĩnh vực
khác, nhất là kiến thức về giới, chăm sóc sức khoẻ phụ nữ và trẻ em, dân số - kế
hoạch hoá gia đình, tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi con theo khoa học, phòng
chống dịch bệnh, phòng chống tệ nạn xã hội, khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi
trường… cũng thường xuyên được tuyên truyền, giáo dục trong chị em phụ nữ bằng
những hình thức như mít tinh, toạ đàm, hội thi, gặp mặt nhân các ngày lễ lớn; Hội
LHPN tỉnh phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tốt các hoạt động lồng ghép
trong các chiến dịch truyền thông để giáo dục phụ nữ theo các chuyên đề; nhân rộng
các mô hình CLB phụ nữ, hội thi, thi tìm hiểu, tập trung xây dựng mạng lưới báo
cáo viên , tuyên truyền viên của Hội ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng ; coi trọng cải tiến hì nh thức và nâng cao c

hất

lượng, hiệu quả tuyên truyền của tài liệu , thông tin tuyên truyền của Hội ; tích cực
phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các lớp học tì nh thương , xây dựng quỹ
khuyến học, vận động trẻ em bỏ học trở lại trường, tổ chức các lớp xoá mù chữ ….
Đặc biệt mô hình CLB phụ nữ đã được khẳng định là mô hình có sức hấp dẫn, thu
hút đông đảo mọi tầng lớp phụ nữ tham gia. Năm 1997, toàn tỉnh mới có 203 câu

hợp với Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh thực hiện các phóng sự về phụ nữ ...
Tuyên truyền giáo dục thông qua các phương tiện đại chúng, bằng các xuất bản
phẩm đã đem lại hiệu quả cao.
Hội LHPN tỉnh tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng
lực cho phụ nữ. Từ năm 1997 đến năm 2000, các cấp hội đã mở 4.977 lớp tập huấn các
loại cho 961.208 lượt chị em phụ nữ, 39 lớp xoá mù chữ cho 1.832 chị em [3, tr. 315].
Đăng ký thực hiện các công trình, sản phẩm chào mừng Đại hội Đảng, Đại
hội phụ nữ các cấp cũng là một hình thức mới, linh hoạt, góp phần nâng cao năng
lực của phụ nữ. Năm 2000, đã có 527 công trình, sản phẩm do phụ nữ thực hiện [3,
tr.315]. Việc đăng ký tham gia 2 phong trào thi đua do Trung ương Hội phát động
với 5 tiêu chuẩn đã thúc đẩy phụ nữ vươn lên, nỗ lực học tập, phấn đấu, nâng cao
kiến thức, năng lực của mình đáp ứng yêu cầu công tác. Chị em đã tích cực tham
gia các lớp truyền đạt thông tin khoa học - kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm, tham gia
học tập các điển hình sản xuất giỏi. Nhiều chị em là cán bộ hội đã tích cực tự học
nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tư vấn truyền thông. Chị
em phụ nữ khối công nhân viên chức tích cực học tập nâng cao tay nghề, trình độ
chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ.
Năm 1999, số chị em đăng ký thực hiện tiêu chuẩn “Tích cực học tập” là
110.849 chị, 75% số chị đăng ký đạt tiêu chuẩn này. Năm 2000, số chị đăng ký là

24


132.627, có 82,7% đạt tiêu chuẩn. Các huyện đạt tỷ lệ cao là Mê Linh, Lập Thạch
và thị xã Vĩnh Yên [3, tr.316].
1.2.2. Chỉ đạo các phong trào hành động của phụ nữ
Trong những năm 1997 - 2000, Chương trình vận động phụ nữ nghiên cứu,
ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập, tiếp tục đi
vào chiều sâu, đem lại những kết quả khả quan, tác động tích cực đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status