1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của đời sống con người. Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội, và cũng là bản
chất của Nhà nước Việt Nam. Hay nói cách khác, “Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [1].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng, nhà mác xít sáng tạo lớn của cách
mạng Việt Nam, không chỉ để lại những kiến giải sâu sắc về dân chủ và thực
hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ đối với
con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống. Lúc sinh thời, Người đã
từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, là chìa khóa vạn
năng để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [24, t.8, tr. 279].
Xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất
kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ
rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt
Nam. Đặc biệt, đối với cơ sở việc thực hành dân chủ rộng rãi có ý nghĩa hết sức
quan trọng, thể hiện rõ nhất bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Nhằm phát huy
đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về việc xây dựng và
thực hiện QCDC ở cơ sở. Chỉ thị đã xác định: "... để giữ vững và phát huy được
bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu
hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước,
khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng. Khâu
quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ
sở, là nơi trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp
thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện
tra, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cơ sở.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn là vấn đề mang tính thời sự và đòi hỏi phát
triển không ngừng, đầy tính sáng tạo. Vì thế, chúng ta vừa phải đi sâu nghiên cứu
và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để
tìm ra hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp để đưa QCDC vào cuộc
sống. Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện
3
các quy định về dân chủ ở cơ sở, dân chủ ở cấp xã, cho đến nay chúng ta đã triển
khai thực hiện rộng khắp trong cả nước và đạt được những thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội:
“Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hoá trong nhiều văn bản pháp quy về thực
hiện QCDC cho một số loại hình cơ sở; các cơ quan, đơn vị, cơ sở đã tích cực
xây dựng quy chế, quy định; thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố xây dựng hương ước,
quy ước thực hiện dân chủ trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực hiện
QCDC cơ sở được gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ thục hành
chính, cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh",
các phong trào, các hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở.
Nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả. Dân chủ và thực hành
dân chủ XHCN ở nước ta, nhất là dân chủ trực tiếp của nhân dân tiếp tục được
coi trọng, tăng cường.
Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở đã góp phần đổi mới phương thức,
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các Đoàn thể nhân dân; phát huy
tính tiền phong, gương mẫu, chấn chỉnh phong cách, lề lối làm việc của cán bộ,
công chức theo hướng sát dân, trọng dân và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; góp phần quan
trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí;
thức yêu nước của Bắc Ninh với tố chất thông minh đã sớm tiếp thu, truyền bá
chủ nghĩa Mac - Lênin vào địa phương, tiêu biểu như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn
Cừ, Hoàng Quốc Việt…và đã trở thành những lãnh tụ xuất sắc của Đảng và cách
mạng Việt Nam.
Từ xa xưa nhân dân Bắc Ninh đã sớm chủ ý đến sản xuất vật phẩm tiêu
dùng, tiểu thủ công nghiệp. Hệ thống làng nghề xuất hiện sớm, các sản phẩm của
làng nghề phong phú đa dạng (đúc đồng, đồ sắt, đồ gốm, dệt lụa..). Do thương
mại phát triển nên hoạt động buôn bán ở Bắc Ninh cũng khá sôi nổi; nhiều làng
buôn đã xuất hiện, thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông cuả hàng hóa ở các làng nghề
(các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng - Từ Sơn; Xuân Cầu, Đa Ngưu). Tuy
nhiên, dù làm ruộng, làm nghề thủ công hay buôn bán, từ thượng cổ cho đến ngày
nay, nhân dân Bắc Ninh vẫn sống gắn bó cùng nhau với mô hình cộng đồng làng
xóm. Do đó, nghiên cứu việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh và phân tích để đưa ra các kết luận giải pháp hoàn thiện có ý nghĩa
quan trọng trong sự nghiệp phát triển của một địa phương điển hình và trong sự
nghiệp phát triển chung của đất nước.
5
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998
của Bộ Chính trị, tỉnh Bắc Ninh đã đạt được một số kết quả sau:
“Việc xây dựng và thực hiện QCDC trên địa bàn được triển khai chặt chẽ,
đồng bộ trong tất cả các loại hình cơ sở. Hầu hết các quy định trong quy chế được
các địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc, đạt nhiều kết quả; thực
hiện QCDC đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ
sở, phương thức lãnh đạo, điều hành của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ
và đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới theo hướng: Trọng dân, gần dân, học dân
và có trách nhiệm với dân; tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, người
đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị được nâng lên rõ rệt…” [45].
dân chủ, công bằng, văn minh”, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức thực
hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” với mong muốn, đề tài sẽ
đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi trong việc thực hiện dân chủ ở
cấp xã, đồng thời giúp người dân thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề dân chủ nói chung và thực hiện dân chủ ở cơ sở, ở xã,
phường, thị trấn đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà hoạt động chính trị
cũng như các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Các công trình nghiên
cứu đã đề cập đến một số nội dung: nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân chủ và vận dụng tư tưởng đó vào việc xây dựng Nhà nước XHCN; 1 nghiên
cứu việc thực hiện dân chủ cơ sở và một số giải pháp trong quá trình triển khai
thực hiện;2 nghiên cứu về mối quan hệ giữa thực hiện dân chủ ở cơ sở với việc
xây dựng chính quyền ở cơ sở; 3… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề
cập tới vai trò và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ và dân chủ ở cơ sở,
đồng thời đưa ra một số giải pháp trong quá trình triển khai và thực hiện.
Trong mấy năm gần đây, có một số ít đề tài tập trung nghiên cứu riêng ở
địa bàn cấp Tỉnh, Huyện về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
1
() Nguyễn Tiến Phồn (2001), Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
Lại Quốc Khánh, “Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học”, Tạp chí
cộng sản, (số 23/2010)); nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ và dân chủ ở cơ sở, đồng thời nêu bật
tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ (Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong
tình hình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Bạch Đằng, "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền
thống của dân tộc Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (số 35, 12/2003); Vũ Văn Hiền (2004), Quy chế dân chủ ở cơ sở
- vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), Thực hiện
quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội)
2
() Nguyễn Thu Cúc (2002), Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Chí Mỳ, “Dân chủ cơ sở - sự sáng tạo của Đảng ta”, Tạp chí
bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và
cũng là nơi để đánh giá, thẩm định hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước một
cách rõ ràng, trực tiếp nhất. Vì vậy, dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là dân chủ ở xã,
phường, thị trấn là nền tảng của nền dân chủ XHCN.
Do đó, nếu dân chủ ở cơ sở nói chung và dân chủ ở xã, phường, thị trấn nói
riêng không được triển khai thực hiện, hoặc tuy được thực hiện nhưng không
đúng yêu cầu của nhà nước, của xã hội, của nhân dân, hoặc việc thực hiện không
đem lại hiệu quả thực tế thì đó sẽ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hách dịch,
cửa quyền, tham nhũng… và điều quan trọng hơn là sẽ tạo ra phản ứng trái chiều
đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
4
() Bùi Thị Hạnh (2009), Thực hiện dân chủ cơ sở tại tỉnh Bắc Giang - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc
sỹ, chuyên ngành quản lý hành chính công, mã số 603482, Học viện HCQG.
8
trong nhân dân từ đó làm cho nhân dân mất niềm tin đối với Đảng và Nhà nước,
kìm hãm sự phát triển chung của đất nước và cuối cùng sẽ làm mất đi bản chất
của Nhà nước XHCN (bản chất dân chủ), mà khi một nhà nước đã đánh mất bản
chất của mình thì nhà nước đó không còn tồn tại.
Vì vậy, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng, sẽ đem lại
quyền dân chủ trực tiếp cho người dân. Hơn nữa, nhân dân là người chủ của đất
nước, nhân dân lập ra bộ máy nhà nước thay mặt mình xây dựng pháp luật và
quản lý đất nước, thực hiện quyền làm chủ và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Vì
vậy, việc bảo đảm cho nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình ở cơ sở là
điều kiện và tiền đề để xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, xây dựng một
chính quyền của dân, do dân và vì dân. Trên tinh thần đó, Đảng ta đã khẳng định:
về việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở và một số đánh giá cơ bản năm
2009, 2010), rút ra ưu, nhược điểm và vấn đề đặt ra cần giải quyết trong tổ chức
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn những năm tiếp theo.
- Rút ra kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh với mục đích hô
trợ người dân thực hiện đúng, tốt hơn quyền làm chủ của mình.
6. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ khi QCDC ở cơ sở ra đời.
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tập trung nghiên cứu những nội dung trong việc tổ chức thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn (những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những
nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát;
trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân
phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực
hiện dân chủ ở cấp xã) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ khi QCDC ở cơ sở ra đời
(10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính
trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và một số đánh giá cơ bản
năm 2009, 2010).
8. Phương pháp nghiên cứu
10
Luận văn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với việc sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu khoa học hành chính cơ bản như:
- Nghiên cứu lý thuyết, tài liệu liên quan đến dân chủ và việc tổ chức thực
hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương,
người dân - chủ nhân của đất nước.
10. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn dự kiến được trình bày với 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN
DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ
1.1. Khái quát về nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Dân chủ là bản chất của Nhà nước XHCN mà cốt lõi của vấn đề dân
chủ trong Nhà nước XHCN đó là “Dân làm chủ và dân là chủ”. Vậy để hiểu
rõ hơn về các luận điểm này, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số vấn đề
sau:
1.1.1. Một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mac - LêNin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Xã hội chủ nghĩa
a. Dân chủ và dân chủ Xã hội chủ nghĩa
Quan niệm chung về dân chủ:
Dân chủ (demos - nhân dân, Kratos - chính quyền), một từ có gốc từ
Hy Lạp, có nghĩa là chính quyền của nhân dân hay sự cai trị của nhân dân.
Xét về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những thứ quý báu nhất
của con người, là một giá trị vĩnh hằng mà từ khi có con người, từ khi chưa có
chữ viết và chưa có khái niệm dân chủ, con người lúc đó đã có một đời sống
“hoàn toàn” dân chủ. Con người lúc đó đã cùng nhau làm chủ, bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ, cùng lao động, cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản
hơn nô lệ” [36].
Các nhà chính trị học ngày nay định nghĩa “Dân chủ là hình thức tổ
chức chính trị của xã hội dựa trên sự công nhận nhân dân như là nguồn gốc
của quyền lực, dựa trên quyền của nhân dân trong việc tham gia giải quyết
những vấn đề của quốc gia và trao cho các công dân một loạt quyền và quyền
tự do thực sự” [36]. Tại Mỹ, đất nước tiêu biểu cho một nền dân chủ tư sản,
cựu Tổng thống Mỹ, R. Reagan, cho rằng “Dân chủ không chỉ là biện pháp
cai trị mà còn là biện pháp giới hạn quyền lực của Chính phủ để nó không
ngăn cản sự phát triển những giá trị quan trọng nhất mà con người nhận được
từ gia đình và nhà trường” [36].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - LêNin, có thể tiếp cận khái niệm
dân chủ ở một số khía cạnh sau:
Dân chủ là một hình thái nhà nước, một chế độ xã hội, trong đó thừa
nhận về mặt pháp luật những quyền tự do, quyền dân chủ, quyền bình đẳng
của nhân dân (tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do bầu cử…). Dân chủ được
quy định thành quyền, nghĩa vụ của công dân với nhà nước và trách nhiệm
của nhà nước với công dân.
Dân chủ là một phạm trù chính trị, bởi vì nó gắn liền với bản chất giai
cấp thống trị xã hội, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị (trong lịch sử
phát triển đã có hình thức dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản hay
còn gọi là dân chủ XHCN). Theo nghĩa này, không có dân chủ thuần túy, phi
giai cấp, đồng thời dân chủ sẽ mất đi khi nào trong xã hội không còn giai cấp.
Mặt khác, dân chủ là một phạm trù lịch sử khi gắn với chế độ Nhà
nước. Dân chủ còn là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động chống áp
bức, bóc lột, đòi quyền tự do, quyền làm chủ của mình. Quyền lực thuộc về
nhân dân là giá trị cao nhất của dân chủ và theo nghĩa này thì dân chủ sẽ tồn
tại lâu dài khi xã hội còn giai cấp và nhà nước. Dân chủ chi phối tính dân tộc,
phản ánh tính chất của chế độ chính trị, văn hoá xã hội ở môi quốc gia, dân
nhất, bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân con
người. “Công nhận phẩm giá vốn có của mọi thành viên gia đình nhân loại,
công nhận các quyền bình đẳng và bất khả phân của họ là cơ sở của tự do,
công bằng và hoà bình trên thế giới” (lời nói đầu Tuyên ngôn Quốc tế về nhân
quyền).
Nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa:
Chủ nghĩa xã hội là giải phóng toàn bộ nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc
lột. Vì thế, dân chủ XHCN là một nền dân chủ kiểu mới, một nền dân chủ của
những con người thoát khỏi áp bức, bóc lột. Mặc dù kế thừa các giá trị quý
báu của mọi nền dân chủ đã có của nhân loại, nhưng dân chủ XHCN có đặc
điểm riêng: Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN; dân chủ vừa là mục tiêu
vừa là động lực của cách mạng XHCN; dân chủ XHCN là nền dân chủ của
dân, do dân và vì dân. Vì vậy, không có dân chủ nghĩa là không có chủ nghĩa
xã hội. Dân chủ XHCN chính là sự hiện thực hóa khát vọng dân chủ của toàn
thể nhân dân lao động.
Vậy, dân chủ XHCN ra đời như là kết quả tất yếu của lịch sử đấu tranh
lâu dài của nhân dân lao động vì sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân dân lao
động. Dân chủ XHCN được hình thành dần dần và từng bước được hoàn thiện
cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Cùng ở trình độ hiện đại trong
lịch sử hình thành và phát triển của dân chủ, nhưng dân chủ XHCN khác về
bản chất và nguyên tắc so với dân chủ tư sản. Sự khác biệt này được thể hiện:
Thứ nhất: Dân chủ tư sản chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số nắm
quyền lực về kinh tế và chính trị trong xã hội tư sản. Đó là giai cấp tư sản
nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa, đồng thời nắm quyền lực trong thể chế Nhà nước tư sản và chi phối xã
hội về ý thức, tư tưởng, lối sống, đạo đức với hệ tư tưởng tư sản. Pháp quyền
tư sản thừa nhận trên nguyên tắc pháp lý những quyền của con người, nhưng
trên thực tế, việc thực hiện những quyền đó đối với quần chúng thường bị hạn
- xã hội, trình độ dân trí... và năng lực thực hành dân chủ của đông đảo quần
chúng của Quốc gia ấy. Mà nền dân chủ XHCN hoạt động và thể hiện thực tế
thông qua hệ thống chính trị XHCN. Vậy, hệ thống chính trị XHCN là gì?
Theo lý luận của Chủ nghĩa Mac - Lênin thì hệ thống chính trị XHCN
ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính
quyền Nhà nước, đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và được hoàn
thiện dần trong quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội.
Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sản,
Nhà nước XHCN, các tổ chức Chính trị - xã hội hợp pháp, các tầng lớp nhân
dân cùng các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đó, hoạt động trên nguyên
tắc bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và nhằm mục tiêu xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận
lãnh đạo hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản lãnh đạo xã hội bằng việc đề ra
chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của
Chủ nghĩa Mac - LêNin.
Nhà nước XHCN là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân
dân lao động; thay mặt nhân dân lao động, được nhân dân ủy quyền, chịu
trách nhiệm trước nhân dân, quản lý mọi hoạt động của xã hội bằng hệ thống
pháp luật và những thiết chế nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản và sự bảo vệ, giám sát của nhân dân.
Các tổ chức Chính trị - xã hội hoạt động trong khuôn khổ của pháp
luật. Đó là nơi làm chủ tập thể của nhân dân, là khâu trung gian nối liền Đảng
Cộng sản, Nhà nước XHCN với quần chúng nhân dân. Thông qua các tổ chức
này, nhân dân giới thiệu các đại biểu của mình tham gia vào chính quyền,
đóng góp ý kiến cho Đảng, nhà nước, đồng thời qua đây nhân dân thể hiện
tâm tư, nguyện vọng của mình với Đảng, nhà nước.
Ba bộ phận này cùng với cơ chế vận hành của chúng (Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý - nhân dân lao động làm chủ) hợp thành hệ thống chính trị
văn minh nếu môi công dân không tự giác thực hiện đúng luật pháp và hoàn
thành nghĩa vụ của mình đối với xã hội. Pháp luật có liên quan rất mật thiết
với vấn đề dân chủ. Yếu tố bảo đảm để dân chủ vận hành trong một hành lang
an toàn, không bị thiên lệch chính là pháp luật.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người dành trọn cuộc đời, hy sinh,
tranh đấu cho nền độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho nhân dân, những giá trị
về độc lập dân chủ phải mất bao công sức, xương máu giành được là vô cùng
quý giá và phải được bảo vệ, giữ gìn. Không cho phép bất cứ kẻ thù nào lợi
dụng, phá hoại chế độ dân chủ cũng như những giá trị dân chủ đã được xây
dựng nên. Người nói: "Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân,
nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, của nhân dân" [28, t.9, tr. 586].
Có thể khái quát tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành sáu
phạm trù cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân [28, t. 8, tr. 279].
Dân chủ là của báu vì đó là lý tưởng, là ước vọng của toàn thể nhân dân
ta về một xã hội tốt đẹp trong tương lai, một xã hội dân chủ theo đúng nghĩa
của nó “dân làm chủ, dân là chủ”; vì “nó” đem lại quyền làm chủ vận mệnh
của mình cho nhân dân, tạo ra những điều kiện, những tiền đề để toàn xã hội,
cũng như môi cá nhân trong xã hội phát triển và hoàn thiện. Con người nhờ
có dân chủ và thông qua dân chủ mới có hoạt động tích cực, chủ động, sáng
tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ điều này "Có dân chủ mới làm
cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến" [28, t. 6, tr. 274].
Dân chủ không chỉ là của quý của nhân dân mà đối với sự nghiệp cách
mạng, dân chủ cũng là của quý bởi phát huy dân chủ sẽ động viên được lực
lượng của toàn dân hoàn hành những nhiệm vụ cách mạng, "Có phát huy dân
chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa
cách mạng tiến lên" [28, t. 9, tr. 592].
kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”; đối với nông dân, là lực
lượng đông đảo và to lớn nhất của dân tộc, Người khẳng định một luận điểm
quan trọng là “Bao giờ ở nông thôn, nông dân thật sự nắm chính quyền, nông
dân được giải phóng thì mới là dân chủ thực sự”, Người lại nói “Muốn nông
dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo
mặc, nhà ở” [28, t. 7, tr. 23-25]; đối với trí thức, Người nhấn mạnh sắc thái
“Tự do tư tưởng”, Người nói “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải
được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến
của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa
vụ” [28, t. 8, tr. 216]. Như thế, con người tự do là con người biết phục tùng
chân lý; đối với quân đội (và cả công an nhân dân) tư tưởng dân chủ của
Người thật sự sáng tỏ “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống,
phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm,
cán bộ không được kêu đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu
mình rét. Bộ đội chưa đủ chô ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới
dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng” [28, t. 6, tr. 207]; riêng với Thanh niên,
Người tập trung vào yêu cầu quyền được cống hiến của tuổi trẻ. Người
thường nói thanh niên không nên đòi hỏi ở nước nhà mà chỉ nên tự hỏi mình
rằng đã làm gì cho nước, cho nhà. Người nói “Trong xã hội không có gì tốt
đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” [28, t. 8, tr. 276]. Tuy
thế Người vẫn không quên nêu ra những quyền lợi học tập, vui chơi, giải trí
của thanh niên.
Tóm lại, trong tư tưởng của Người, nhân dân là lực lượng dựng xây đất
nước, là lực lượng hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do
vậy nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ ba: Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng để xây dựng chính quyền
giản, nhạy bén.
Năng lực và đạo đức phục vụ nhân dân, tập trung thành những yêu cầu:
cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người lên án thói quan liêu, miệng thì
nói dân chủ, nhưng làm việc thì theo lối “quan chủ”, miệng thì nói phụng sự
quần chúng, nhưng họ làm trái ngược lợi ích quần chúng. Người chỉ rõ
“nguyên nhân của bệnh quan liêu là do xa nhân dân, sợ nhân dân, không yêu
thương nhân dân”. Lo lắng về hiểm hoạ ấy, mà Người gọi đó là nguy cơ của
một thứ xâm lược bên trong “nội xâm” và thang thuốc để trị bệnh ấy cơ bản
và trọn vẹn vẫn chỉ là thực hành dân chủ.
Người còn chú ý đến nhiều điều kiện khác nữa, trong đó có sự nhấn
mạnh đến giải pháp “dân trí”. Người từng nói “Quan tham vì dân dại, nếu dân
hiểu biết không chịu đút lót thì quan dù không liêm cũng phải hoá ra liêm”.
Rõ ràng Đảng và Nhà nước ta không thể tự cải tạo, chỉnh đốn, đổi mới nếu
biệt lập nó với quá trình thực hiện dân chủ hoá sâu sắc và mạnh mẽ, với quá
trình tôn trọng và phát huy dân trí và dân quyền của toàn xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ vẫn còn giữ nguyên giá trị
trong việc củng cố và xây dựng một chính quyền nhà nước dân chủ để phục
vụ nhân dân có hiệu quả, hiệu lực, một chính quyền thật sự vì dân và do dân,
chứ không phải là quyền lực riêng của một cá nhân hoặc là một nhóm người
nào đó.
Thứ tư: Đảng cũng ở trong xã hội [28, t. 8, tr. 279]. Đảng từ Trung
ương đến xã do dân tổ chức nên.
Trong tư tưởng dân chủ, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai
trò “cầm quyền” của Đảng, nhưng Người rất ít nói đến quyền uy, quyền lực
của Đảng đối với dân, với nước. Người luôn luôn nhấn mạnh yêu cầu phục
vụ, phụng sự, làm đầy tớ của nhân dân.
Đảng cũng ở trong xã hội, trước hết cần hiểu rằng, khi nói Đảng ở
trong xã hội, nghĩa là Đảng không bao giờ là một lực lượng siêu nhiên, siêu
dân.
Người cũng khẳng định nhiệm vụ của đoàn thể là phấn đấu cho dân và
bênh vực quyền lợi của dân. Chẳng hạn “công đoàn phải bảo vệ cho công
nhân có quyền thực sự trong xí nghiệp”. Đoàn thanh niên “muốn củng cố và
phát triển thì Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh
niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi cô độc”. Với Hội nông dân, Hội phụ nữ,
Người cũng đều nêu những yêu cầu tương tự. Riêng với Mặt trận dân tộc
thống nhất, trước sau Người đều coi đó là một liên minh chính trị của các giai
cấp, các tầng lớp tôn giáo và dân tộc. Người cho rằng vai trò của Mặt trận
chẳng những có ích trong việc đoàn kết toàn dân, chống kẻ thù xâm lược, mà
còn rất cần thiết cả trong giai đoạn tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ sáu: Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của
nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự.
Phạm trù này chính là nói về giải pháp và phương thức thực hiện dân
chủ. Người quan niệm dân chủ là một hệ thống tổng hợp những thiết chế, luật
lệ, vừa là một chế độ xã hội, vừa là một phương thức văn minh của các mối