Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN
VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO CHẤT THẢI RẮN
2.1. Khái niệm cơ bản về chất thải rắn
2.1.1 Đònh nghóa về chất thải rắn
Chất thải rắn “Soild Wastes” là toàn bộ các loại vật chất không phải dạng
lỏng và khí được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế – xã hội của mình
(bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của
cộng đồng v.v…). Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt
động sản xuất và hoạt động sống. (Trần Hiếu Nhuệ,2001)
Chất thải rắn đô thò (gọi chung là rác thải đô thò) được đònh nghóa là : Vật
chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thò mà không đòi hỏi
được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải
rắn đô thò nếu chúng được xã hội nhìn nhận một thứ mà thành phố phải có trách
nhiệm thu gom và tiêu huỷ. (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
Rác thải là thuật ngữ dùng chỉ chất thải rắn có hình dạng tương đối cố đònh,
bò vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là
một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt
động sinh hoạt thường ngày của con người.
2.1.2 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn là
các cơ sở quan trọng để thiết kế , lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các
chương trình quản lý chất thải rắn.
Các nguồn phát sinh chất thải rắn độ thò gồm:
• Sinh hoạt của cộng đồng
• Trường học, nhà ở, cơ quan
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 13
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
nguy hại,
Thương mại Cửa hàng, nhà hàng, chợ, văn
phòng, khách sạn, dòch vụ, cửa
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ,
chất thải thực phẩm, thủy
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 14
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
hiệu in… tinh, kim loại, chất thải đặc
biệt , chất thải nguy hại.
Cơ quan Trường học , bệnh viện, nhà
tù, trung tâm chính phủ…
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ,
chất thải thực phẩm, thủy
tinh, kim loại, chất thải đặc
biệt , chất thải nguy hại.
Xây dựng
và phá dỡ
Nơi xây dựng mới , sửa đường,
san bằng các công trình xây
dựng , vỉa hè hư hại…
Gỗ, thép, bê tông, đất…
Dòch vụ đô
thò (trừ trạm
xử lý)
Quét dọn đường phố, làm đẹp
phong cảnh, làm sạch theo lưu
vực, công viên và bãi tắm,
những khu vực tiêu khiển
− Giấy
− Hàng dệt
− Rác thải
− Cỏ, gỗcủi, rơm
− Chất dẻo
− Da và cao su
− Các vật liệu làm từ giấy
− Có nguồn gốc từ sợi
− Các chất thải ra từ đồ ăn, thực phẩm
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ gỗ, tre,
rơm
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ chất dẻo
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ da và cao
su
2. Các chất không cháy
được :
− Kim loại sắt
− Kim loại không phải
sắt
− Thuỷ tinh
− Đá và sành sứ
− Các loại vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ sắt
mà dễ bò nam châm hút.
− Các vật liệu không bò nam châm hút.
− Các vật liệu và sản phẩm chế tạo từ thuỷ tinh.
− Các vật liệu không cháy khác ngoài kim loại và
thuỷ tinh
3. Các chất hỗn hợp :
− Tất cả các loại vật liệu khác không phân loại ở
phần 1 và 2 đều thuộc loại này. Loại này có thể chia
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 17
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
Chất thải rắn công nghiệp : là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp
gồm :
− Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ, trong
các nhà máy nhiệt điện;
− Các phế thải từ nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
− Các phế thải trong quá trình công nghệ;
− Bao bì đóng gói sản phẩm.
Chất thải xây dựng : là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bêtông vỡ do
các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình v.v… chất thải xây dựng gồm :
− Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
− Đất đá do việc đào móng trong xây dựng;
− Các vật liệu như kim loại, chất dẻo …
− Chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiên
nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố.
Chất thải nông nghiệp : là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt
động nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản
phẩm thải ra từ các chế biến sữa, của các lò giết mổ …
2.1.3.4 Phân loại theo mức độ nguy hại
Chất thải nguy hại : bao gồm các loại hoá chất dễ gây phản ứng, độc hại,
chất thải sinh học thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các
chất thải nhiễm khuẩn, lây lan … có nguy cơ đe doạ tới sức khoẻ người, động vật
và cây cỏ. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế,
công nghiệp và nông nghiệp.
Chất thải y tế nguy hại : là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
Bảng 2.3 : Thành phần chất thải rắn đô thò phân theo nguồn gốc phát sinh
Nguồn phát thải % trọng lượng
Dao động Trung bình
Nhà ở và thương mại, trừ các chất thải đặc
biệt và nguy hiểm
50 - 75 62
Chất thải đặc biệt( dầu , lốp xe, thiết bò điện,
bình điện)
3 - 12 5
Chất thải nguy hại 0,1 - 1,0 0,1
Cơ quan 3 – 5 3,4
Xây dựng và phá dỡ 8 – 20 14
Các dòch vụ đô thò
Làm sạch đường phố 2 – 5 3,8
Cây xanh và phong cảnh 2 – 5 3,0
Công viên và các khu vực tiêu khiển 1,5 – 3 2,0
Lưu vực đánh bắt 0,5 – 1,2 0,7
Bùn đặc từ nhà máy xử lý 3 – 8 6,0
Tổng cộng 100
(Nguồn: George Tchobanoglous, et al , Mc Graw- Hill Inc, 1993)
Bảng 2.4: Thành phần chất thải rắn đô thò theo tính chất vật lý
Thành phần % trọng lượng
Khoảng giá trò Trung bình
Chất thải thực phẩm 6 – 25 15
Giấy 25 – 45 40
Bìa cứng 3 – 15 4
Chất dẻo 2 – 8 3
Vải vụn 0 – 4 2
Cao su 0 – 2 0,5
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
2.1.5 Tính chất của chất thải rắn.
2.1.5.1 Tính chất vật lý
Việc lựa chọn và vận hành thiết bò, phân tích và thiết kế hệ thống xử lý,
đánh giá khả năng thu hồi năng lượng … phụ thuộc rất nhiều vào tính chất vật lý
của chất thải rắn.
Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn đô thò bao gồm : khối
lượng riêng, độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp. Trong đó, khối lượng riêng
và độ ẩm là hai tính chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý chất thải rắn
đô thò ở Việt Nam
Khối lượng riêng: Khối lượng riêng (hay mật độ) của rác thải thay đổi theo
thành phần, độ ẩm, độ nén của chất thải. Trong công tác quản lý chất thải rắn,
khối lượng riêng nói lên khả năng nén, giảm kích thước là thông số quan trọng
phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải. Qua đó có thể phân
bố và tính được nhu cầu trang thiết bò phục vụ cho công tác thu gom vận
chuyển ,khối lượng rác thu gom và thiết kế quy mô bãi chôn lắp chất thải …
Khối lượng riêng được xác đònh bởi khối lượng của vật liệu trên một đơn vò
thể tích (kg/m
3
). Dữ liệu về khối lượng riêng thường cần thiết để đònh mức tổng
khối lượng và thể tích chất thải cần phải quản lý. Khối lượng riêng của các hợp
phần trong chất thải rắn đô thò được trình bày ở Bảng 2.6
Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ ràng theo vò
trí đòa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ , do đó cách tốt nhất là sử dụng các
giá trò trung bình đã được lựa chọn. Khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay
đổi từ 120 đến 590 kg/m
3
.
Khối lượng riêng của rác được xác đònh bằng phương pháp cân trọng lượng
để xác đònh tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vò là kg/m
Độ ẩm : Độ ẩm của chất thải rắn được đònh nghóa là lượng nước chứa trong
một đơn vò trong lượng chất thải ở trạng thái nguyên thủy. Độ ẩm của chất thải
rắn là thông số có liên quan đến giá trò nhiệt lượng của chất thải, được xem xét
như lựa chọn phương án xử lý, thiết kế bãi chôn lắp và lò đốt. Độ ẩm rác thay đổi
theo thành phần và theo mùa trong năm. Rác thải thực phẩm cóđộ ẩm từ 50 –
80%, rác thải là thủy tinh, kim loại có độ ẩm thấp nhất. Độ ẩm trong rác cao tạo
điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kò khí phân hủy gây thối rửa.
Độ ẩm của chất thải rắn thường được biểu diển bằng 2 cách:
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 23
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
* Phương pháp trọng lượng ướt, độ ẩm của mẫu được biểu diễn bằng %
của trọng lượng ướt vật liệu.
* Phương pháp trọng lượng khô, độ ẩm của mẫu được biểu diễn bằng %
của trọng lượng khô vật liệu.
Phương pháp trọng lượng ướt thường được sử dụng trong lónh vực quản lý
chất thải rắn. Độ ẩm theo phương pháp trọng lượng ướt được biểu diễn dưới dạng
toán học như sau:
M =100*[(a-b)/a]
Trong đó: M: độ ẩm %
a: trọng lượng ban đầu của mẫu , kg(g)
b: trọng lượng riêng của mẫu sau khi sấy khô ở 105
0
C , kg(g)
2.1.5.2 Thành phần hóa học
Các chỉ tiêu hóa học quan trọng của chất thải rắn đô thò gồm chất hữu cơ,
chất tro, hàm lượng cacbon cố đònh, nhiệt trò.
Chất hữu cơ: Chất hữu cơ được xác đònh bằng cách lấy mẫu đã làm phân
tích xác đònh độ ẩm đem đốt ở 950
– 1/80
2
) + 40S + 10 N
Trong đó : C: % trọng lượng của Cacbon
H: : % trọng lượng của H
2
O
2
: % trọng lượng của Oxy
S: % trọng lượng của sunfua
N: % trọng lượng của Nitơ
Bảng 2.7: Số liệu trung bình về chất dư trơ và nhiệt năng
của các hợp phần trong chất thải rắn đô thò.
Thành phần Chất dư trơ
+
(%) Nhiệt trò(Btu/lb)
Dao động Trung bình Dao động Trung
bình
Chất thải thực phẩm 2 – 8 5,0 1,500 -3,000 2,000
Giấy 4 – 8 6,0 5,000-8,000 7,200
Bìa cứng 3 – 6 5,0 6000 -7500 7,000
Nhựa dẻo 6 – 20 10,0 12,000 – 16,000 14,000
Hàng dệt 2 – 4 2,5 6,500 – 8,000 7,50
Cao su 8 – 20 10.0 9,000 - 12,000 10,000
Da 8 – 20 10,0 6,500 – 8,500 7,500
Rác thải vườn 2 – 6 4,5 1,000 – 8,000 2,800
Gỗ 0,6 – 2 1,5 7,500 – 8,500 8,000
Thủy tinh 96 – 99* 98.0 50 – 100 60
Vỏ đồ hộp 96 - 99* 98,0 100 – 500 300
Nhôm 90 - 99* 96,0
côn trùng có liên quan đến bản chất phân hủy của các vật liệu hữu cơ tìm thấy
trong chất thải rắn đô thò.
a. Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần hữu cơ trong chất
thải rắn
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác đònh bằng cách đốt cháy chất ở nhiệt
độ 550
o
C, thường được sử dụng để đánh giá khả năng phân huỷ sinh học của hữu
cơ trong chất thải rắn. Tuy nhiên sử dụng VS để mô tả khả năng phân huỷ sinh
học của phần hữu cơ trong chất thải rắn thì không đúng vì một vài thành phần hữu
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 26
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
cơ của chất thải rắn rất dễ bay hơi nhưng lại kém khả năng phân huỷ sinh học là
giấy in và cành cây. Thay vào đó, hàm lượng lignin của chất thải rắn có thể áp
dụng tỉ lệ phần dễ phân huỷ sinh học của chất thải rắn, và được tính toán bằng
công thức như sau:
BF = 0,83 – 0,028 LC
Trong đó: BF phần có thể phân hủy sinh học đựoc diễn đạt trên cơ sở các chất
rắn dễ bay hơi
0,83 và 0,028: hằng số thực nghiệm
LC: thành phần lignin của chất rắn dễ bay hơi được biểu diễn bằng
% của trọng lượng khô
Khả năng phân hủy chung của các hợp chất hữu cơ trong chất thải rắn đô
thò, dựa vào thành phần lignin, được trình bày ở Bảng 2.8. Theo đó, những chất
hữu cơ có thành phần lignin cao, khả năng phân hủy sinh học thấp đáng kể so với
các chất khác. Trong thực tế, chất hữu cơ có trong chất thải rắn đô thò thường
được phân loại dựa vào khả năng phân hủy nhanh hoặc chậm.
ruồi từ khi còn trong trứng cho đến khi trưởng thành được mô tả như sau :
Trứng phát triển : 8 ÷ 12 giờ
Giai đoạn 1 của ấu trùng : 20 giờ
Giai đoạn 2 của ấu trùng : 24 giờ
Giai đoạn 3 của ấu trùng : 3 ngày
Giai đoạn nhộng : 4 ÷ 5 ngày
Tổng cộng : 9 ÷ 11 ngày
d. Sự chuyển đổi lý - hóa sinh của CTR
Những biến đổi lý học cơ bản có thể xảy ra trong quá trình vận hành quản
lý CTR gồm :
Phân loại
Giảm thể tích cơ học
Giảm kích thước cơ học
Phân loại : Quá trình này có thể tách riêng các thành phần CTR nhằm tách
riêng từ hỗn hợp sang dạng tương đối đồng nhất để thu hồi các thành phần có thể
tái sinh, tái sử dụng của CTR đô thò. Ngoài ra có thể tách riêng những thành phần
có khả năng thu hồi năng lượng.
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 28
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
Giảm thể thể tích cơ học : Phương pháp nén thường được áp dụng để giảm
thể tích chất thải, thông thường sử dụng những xe thu gom có lắp bộ phận ép
nhằm tăng khối lượng rác thu gom trong một chuyến thu gom từ CTR thông
thường, đóng kiện để giảm chi phí xử lý và vận chuyển. Đồng thời áp dụng
phương pháp này tăng thời gian sử dụng BCL.
Giảm kích thước cơ học : Việc giảm kích thước cơ học nhằm thu CTR có
kích thước đồng nhất và nhỏ so với kích thước ban đầu của chúng. Trong một số
trường hợp thể tích của số chất thải sau khi giảm kích thước sẽ lớn hơn thể tích
ban đầu.
thành phần lỏng và khí.
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 29
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
Một số đặc tính cơ bản của quá tình nhiệt phân :
− Dòng khí sinh ra có chứa Hidro, CH
4
, Cacbon monoxit, Cacbon dioxit
và nhiều loại khí khác tuỳ thuộc vào bản chất, thành phần, tính chất của CTR
đem đi điện phân.
− Lượng than dầu dạng lỏng ở điều kiện nhiệt độ phòng chứa các hoá
chất như : axit axetic, axeton, metanol.
− Thành phần cacbon nguyên chất và một số loại chất trơ khác.
Quá trình hoá khí : là quá đốt cháy một phần nguyên liệu cacbon để thu
nguyên liệu và khí CO, H
2
, và một số hidro cacbon, trong đó có metan.
f. Sự chuyển đổi sinh học
Dựa trên đặc điểm của CTR đô thò có các thành phần rác hữu cơ, có thể bò
phân huỷ bởi vi sinh vật như : vi khuẩn, nấm men. Người ta sản xuất phân
compost để bổ sung thêm dung dòch cần thiết trong quá trình ủ phân, xảy ra trong
quá trình hiếu khí hay kỵ khí.
Quá trình phân huỷ kỵ khí : quá trình chuyển hoá các chất hữu cơ trong
CTR đô thò trong điều kiện kỵ khí xảy ra theo các bước sau đây :
Quá trình thuỷ phân các hợp chất có phân tử lượng thành những hợp chất
thích hợp là nguồn năng lượng. Chuyển hoá các hợp chất ở giai đoạn trước thành
những hợp chất có phân tử lượng thấp hơn. Chuyển đổi các hợp chất trung gian
thành những sản phẩm chủ yếu là CH
4
trong việc quản lý rác thải bởi vì từ đó người ta có thể xác đònh được lượng rác
phát sinh trong tương lai ở một khu vực cụ thể có kế hoạch quản lý từ khâu thu
gom, vận chuyển tới quản lý.
Phương pháp xác đònh tốc độ phát thải rác cũng gần giống như phương
pháp xác đònh tổng lượng rác. Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để
đònh lượng rác thải ở một khu vực.
o Đo khối lượng
o Hệ số phát thải(kg/người ngày hay kg/tấn sản phẩm)
o Phân tích thống kê
o Dựa trên các đơn vò thu gom( thí dụ thùng chứa)
o Phương pháp xác đònh tỷ lệ rác thải
o Tính ân bằng vật chất
Lượng vào Lượng ra
(Nguyên liệu+ nhiêu liệu) Sản phẩm
Lượng rác thải
Hình 2.1: Sơ đồ tính cân bằng vật chất
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh chất thải rắn
Sự phát sinh kinh tế và xã hội
Các nghiên cứu cho thấy sự phát sinh chất thải liên hệ trực tiếp với sự phát
triển kinh tế của một cộng đồng. Lượng chất thải sinh hoạt đã được ghi nhận là có
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 31
Nhà máy
Xí nghiệp
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
giảm đi khi có sự suy giảm về kinh tế (rõ nhất là trong thời gian khủng hoảng ở
thế kỷ 17). Phần trăm vật liệu đóng gói (đặc biệt là túi nylon) đã tăng lên trong
ba thập kỷ qua và tương ứng là tỷ trọng khối lượng (khi thu gom) của chất thải
cũng giàm đi.
Rác thải khu dân cư: 0,3 – 0,6 kg/người/ngày
Rác thải thương mại: 0,1 – 0,2 kg/người/ngày
Rác thải quét đường: 0,05 – 0,2 kg/người/ngày
Rác thải công sở: 0,05 – 0,2 kh/người/ngày
Tính trung bình ở: Việt Nam: 0,5 – 0,6 kg/người/ngày
Sigapore: 0,87 kg/người/ngày
Hồng kông : 0,85 kg/người/ngày
Karachi, Pakistan: 0,50 kg/người/ngày
2.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn
2.2.1 Ô nhiễm đến môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bò phân hủy
nhanh chóng. Tại các bãi rác, nước có trong rác sẽ được tách ra kết hợp với các
nguồn nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt sẽ làm tăng khả năng
phân hủy sinh học trong rác cũng như quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm
ra môi trường xung quanh.
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá
trình phân hủy sinh học, hóc học… Nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ
rất cao (COD: từ 3.000 – 45.000 mg/l; N-NH
3
: từ 10 – 800 mg/l; BOD
5
: từ 2.000 –
30.000 mg/l; TOC (Cacbon hữu cơ tổng cộng): từ 1.500 – 20.000 mg/l; Phosphours
tổng cộng: từ 1- 70 mg/l … và lượng lớn các vi sinh vật ).
Đối với các bãi rác thông thường (đáy bãi rác không có lớp chống thấm,
sụt lún hoặc lớp chống thấm bò thủng …) các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước
ngầm gây ô mhiễm cho tầng nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm khi con người sử
dụng tầng nước này phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt . Ngoài ra, chúng còn có khả
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 33
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 34
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
Nước bùn và cống rãnh ở thành phố như sông Tô Lòch(Hà Nội), Nhiêu Lộc
- Thò Nghè, Tân Hóa, Lò Gốm - Bến Nghé(Tp Hồ Chí Minh), trong đó hỗn hợp
gồm rác sinh hoạt và chất thải công nghiệp thành phố, mà thành phần hữu cơ, vô
cơ, kim loãi vừa tạo nên một hỗn hợp vừa tạo thành các phức chất hoặc đơn chất;
vừa có mùn vừa có bùn,cát; vừa có hơi khí vừa có nước; vừa có vi sinh vật, vừa có
động vật và thực vật chúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.
Hàm lượng kim loại nặng như Al, Fe, Zn, Cu,Cr… trong bùn cống rãnh theo
nước thấm vào đất. Nó có thể tích lũy cao trong đất và là một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm nặng môi trường đất và nguy hiểm cho tất cả vi sinh
vật trong môi trường.
2.2.3 Ô nhiễm đến môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi
làm ô nhiễm không khí. Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán
vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp, cũng có loại rác thải dễ phân hủy (thực
phẩm, trái cây hỏng…), trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ được các
vi sinh vật phân hủy tạo mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến
môi trường đô thò, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người. Kết quả quá
trình là gây ô nhiễm không khí.
Thành phần khí thải chủ yếu được tìm thấy ở các bãi chôn lắp rác được thể
hiện ở Bảng 2.9
Bảng 2.9 : Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải bãi rác
Thành phần khí % thể tích
CH
4
CO
2
Chất thải rắn phát sinh từ các khu đô thò , nếu không được thu gom và xử lý
đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư
và làm mất mỹ quan đô thò.
Thành phần chất thải rắn phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ
người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết… tao điều kiện tốt cho
muỗi, chuột, ruồi… sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành
dòch.
Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng… tồn tại trong rác có thể gây
bệnh cho con người như bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dòch hạch, thương hàn, phó
thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao…
Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy đònh là nguy cơ gây bệnh
nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất
thải rắn nguy hại từ y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh…
Tại các bãi rác lộ thiên , nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn
đề nghiêm trọng cho bãi rác và cho cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm
không khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung
gian truyền bệnh cho người.
Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng là một trong những yêu tố gây
cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông rạch và hệ thống
thoát nước.
2.3 Những nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn.
Trường ĐHKỹ Thuật Cơng Nghệ Tp.HCM – Khoa Kỹ Thuật Mơi Trường & Cơng Nghệ Sinh Học
Trang 36
Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt thành phố Long Xun
GVHD: Ts Trương Thanh Cảnh SVTH: Huỳnh Nguyễn Thái Hiền
2.3.1 Quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn
Quản lý và phân loại CTR tại nguồn bao gồm hoạt động nhặt, tập trung và
phân loại chất thải rắn để lưu trữ, chế biến chất rắn trước khi được thu gom.
Trong quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn các loại nhà ở và công trình
phân loại dựa vào số tầng. Ba loại thường được sử dụng nhất là: