Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái (nghiên cứu trường hợp tại khu 2 – thôn quan ngoại – xã tam quan – huyện tam đảo – tỉnh vĩnh phúc) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC



TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Môn học: Xã hội học giáo dục
Đề tài: Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái (Nghiên cứu trường hợp tại Khu 2 – Thôn Quan Ngoại – Xã Tam Quan
– Huyện Tam Đảo – Tỉnh Vĩnh Phúc).
Giảng viên

: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà.

Nhóm 8

: 1. Lăng Hoàng Việt.
2. Nguyễn Hùng Cường.
3. Trần Đức Việt.
4. Nguyễn Đức Lợi.
5. Nguyễn Xuân Nam.
6. Vũ Tùng Dương.

Lớp

: K57 – Xã hội học.

Hà Nội, tháng 5/ 2015


ở mỗi gia đình.
Trong vấn đề giáo dục, ở nước ta là một vấn đề rất được coi trọng, hầu hết mọi
gia đình đều tạo mọi điều kiện cho con cái mình đi học. Tuy nhiên, vấn đề nam – nữ
trong việc giáo dục cũng là một vấn đề khá nhức nhối từ xưa đến nay, khi mà trong tư
tưởng Nho giáo từ thời phong kiến là chỉ con trai mới được đi học, thì điều này vẫn
ảnh hưởng tới tư tưởng và suy nghĩ của các bậc làm cha, làm mẹ ngày nay. Theo số
3


liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2013, thì số học sinh phổ thông giữa nam và nữ
luôn có sự chênh lệch, tỉ lệ nam đến được đến trường luôn cao hơn nữ ở một tỉ lệ nhất
định, năm 2005-2006 tỉ lệ nữ đến trường là 48,5%, tỉ lệ nam đến trường là 51,5%, đến
năm 2013 tỉ lệ này đã được giảm xuống còn nữ là 49%, nam là 51% (nguồn: Tổng cục
thống kê). Ở mức độ nào đó thì vẫn có sự phân biệt giữa nam và nữ trong việc đầu tư
cho việc học tập của cha mẹ dành cho con trai và con gái ở mỗi gia đình. Vậy nguyên
nhân vì sao lại có sự chênh lệch như vậy giữa tỉ lệ đến trường của nam và nữ hiện nay?
Ở đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm hiểu xem liệu rằng với sự bất bình đẳng
giới vẫn còn tồn tại ở nước ta hiện nay liệu có ảnh hưởng đến giáo dục, ảnh hưởng đến
việc đầu tư cho học tập của cha mẹ dành cho con cái hay không? Vì gia đình luôn là bệ
phóng của những tài năng, là nơi chắp cánh cho những ước mơ của mọi trẻ em trên đất
nước Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.
Chính vì những lý do trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu một khía cạnh nhỏ với
vấn đề “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái”
trong một mảng lớn về giới tính và giáo dục. Đây thực sự là một vấn đề quan trọng mà
chúng ta cần tìm hiểu, vì nó sẽ tạo điều kiện để các bậc phụ huynh có một nhận thức
mới về việc đầu tư học tập cho con trai và con gái.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Trong thời đại ngày nay việc học tập luôn được đề cao và là vấn đề được đặt lên
hàng đầu ở mỗi gia đình, mỗi địa phương và mỗi quốc gia. Hiện nay các bậc cha mẹ rất
quan tâm tới việc học tập của con cái họ. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh

đang tiến hành nghiên cứu là: “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập
của con trai và con gái”.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
3.1 Ý nghĩa khoa học.
Nghiên cứu đề tài “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con
trai và con gái” đã áp dụng một số lý thuyết chuyên ngành của bộ môn Xã hội học giáo
dục, Xã hội học gia đình, Xã hội học giới và các lĩnh vực về mối liên hệ giữa gia đình
và giáo dục, sự khác biệt giới ảnh hưởng như thế nào tới giáo dục. Từ kết quả nghiên
cứu của đề tài này sẽ góp phần nhỏ làm phong phú thêm cho mảng nghiên cứu Xã hội
học về gia đình – giáo dục – giới tính.
5


3.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Thông qua việc vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu, đề tài có được kết quả
nghiên cứu mới về sự khác biệt giới có hay không ảnh hưởng và nó ảnh hưởng như thế
nào đối với việc đầu tư cho việc học tập của con cái hiện nay. Qua đó, đề tài giúp các
bậc cha mẹ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc đầu tư học tập cho con trai và con
gái, giúp các bậc phụ huynh, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và miền núi có một cách
nhìn mới tiến bộ hơn về việc đầu tư học tập cho con cái. Để từ đó các bậc phụ huynh
có thể tạo ra cơ hội được học tập ngang bằng nhau cho chính con em mình và góp phần
hạn chế tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục và bất bình đẳng trong xã hội.
4. Câu hỏi nghiên cứu.
- Sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái được
thể hiện như thế nào?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con
cái ?
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
“Sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và

Đoàn Hà Nội với đề tài “Thái độ của cha mẹ với việc học của con và định hướng nghề
nghiệp cho con ở vùng ngoại thành Hà Nội”,2006.
Bài viết “Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con
cái” của Lê Thuý Hằng (Tạp chí Xã hội học số 2 (94), 2006).
8.2 Phương pháp quan sát.
Thông qua việc quan sát hoạt động học tập, cơ hội được đến trường của con trai
và con gái. Ở đây, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát để xem xét có hay không
sự tồn tại của sự khác biêt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái,
và quan sát xem việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái thông qua hình
thức nào.
8.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Chúng tôi tiến hành đi phát bảng hỏi để hỏi ý kiến của người dân ở địa bàn
nghiên cứu để biết được ý kiến của người dân về vấn đề nghiên cứu. Chúng tôi tiến
hành phát 35 bảng hỏi cho 35 phụ huynh học sinh, sinh viên có con đang đi học. Trong
đó: 1 người là bác sĩ thú y, 1 người là cán bộ xã, 2 người là bộ đội, 4 người là giáo viên
và 27 người làm ruộng. Để có thể biết được ý kiến và cái nhìn của các bậc phụ huynh
về sự khác biệt giới ảnh hưởng như thế nào tới đầu tư cho việc học tập của con trai và
con gái. Để thấy được các gia đình ở đây có quan niệm hay có bị sự khác biệt giới làm
ảnh hưởng đến đầu tư cho việc học tập của con trai và con gái hay không.
8.4 Phương pháp phỏng vấn sâu.
7


Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 5 mẫu. Với 5 phụ huynh đang có con đi
học, có 3 nam và 2 nữ (trong đó: 3 người làm ruộng, 1 giáo viên, 1 bộ đội). Chúng tôi
phỏng vấn những cha mẹ có học vấn từ THCS trở lên để đảm bảo sự nhận thức về việc
học tập của con cái được tốt hơn. Nghề nghiệp của các gia đình khá đa dang nên việc
việc thu được thông tin từ những người có nghề nghiệp khác nhau là khả quan.
9. Giả thuyết nghiên cứu.
- Có sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con trai và

con vai trò đó tác động ra sao, có liên quan với yếu tố khác.
Quan điểm duy vật lịch sử yêu cầu nhà nghiên cứu xem xét sư vật hiện tượng
phải đặt trong bối cảnh điều kiện cụ thể. Vận dụng vào nghiên cứu, sự vật hiện tượng
phải đặt trong bối cảnh và điều kiện cụ thể, nghề nghiệp vận dụng vào nghiên cứu,
việc xem xét khi đầu tư cho việc học tập của con cái cũng như những yếu tố tác động
đến việc đầu tư cho giáo dục đặt trong bối cảnh cụ thể của đất nước, đặc biệt là điều
9


kiện kinh tế gia đình, bối cảnh địa bàn nghiên cứu khi bước vào giai đoạn hội nhập
quốc tế và tác động của quá trình đô thi hóa.
1.2. Những khái niệm công cụ cơ bản.
1.2.1. Khái niệm gia đình.
Gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau,
thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người
ốm…
(Nguồn: Mai Huy Bích, Giáo trình Xã hội học gia đình, Nxb ĐHQGHN, 2009, tr 14).

1.2.2. Khái niệm giới.
Giới là những khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình, trong
và giữa các nền văn hóa, là cấu trúc xã hội – văn hóa có thể biến đổi theo thời gian.
Những khác biệt này được phản ánh trong các vai trò, trách nhiệm, khả năng tiếp cận
các nguồn lực, những sức ép, những ưu tiên, các nhu cầu, nhận thức và quan điểm…
được thấy trong cả hai giới. Do vậy, giới không đồng nhất với phụ nữ mà được xem là
cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác của họ (World Food
Programe: Gender Glossary, 1996, tr:26-27).
Luật bình đẳng giới định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ
trong tất cả các mối quan hệ xã hội” (2007:6).
1.2.3. Khái niệm khác biệt giới.

1.3. Lý thuyết xã hội học.
1.3.1. Lý thuyết hành vi của George Homans(1910- 1989).
George Homans đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lý của hành vi cá nhân trên cơ
sở những nguyên tắc cơ bản đã được khái quát thành định đề Ông đưa ra một số định
đề cơ bản trong lý thuyết của mình: Phần thưởng, kích thích, giá trị, duy lý, giá trị suy
giảm, mong đợi. Dựa vào những định đề đã nêu, Homan đã đưa ra quy tắc liên quan
đến phần thưởng của họ tương xứng với việc đầu tư của họ.
Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người, hành động
nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng lặp lại.
Định đề kích thích: nếu một nhóm kích thích nào trước đây đã từng khiến cho
hành động nào đấy được khen thưởng thì một nhóm mới càng giống kích thích đó bao
nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự trước đây được lặp lại bấy
nhiêu.

11


Định đề giá trị: kết quả của hành động có giá trị cao đối thủ với chủ thể bao
nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu. Và khi mối
lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được
nó.
Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành
động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất.
Định đề giá trị suy giảm: càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào
đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động.
Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta
sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng.
Áp dụng đề tài nghiên cứu cho thấy, việc đầu tư học tập cho con cái cũng được
coi là một hành vi lựa chọn nhằm đạt được phần thưởng theo mong muốn. Mỗi gia
đình đầu tư học tập cho con với mong muốn đạt được một phần thưởng nào đó, như là

tạo ra, chống lại những áp lực từ bên ngoài. Duy trì khuôn mẫu là hoạt động không thể
thiếu để đảm bảo được vị trí, vai trò, chức năng của các hệ thống và tiểu hệ thống xã
hội nên cũng là duy trì tính ổn định xã hội.
Đưa mô hình lý thuyết này vào phân tích giới , Parsons cho rằng xã hội hóa giới
cần phải tuân thủ các nguyên tắc để hướng phụ nữ và nam giới thực hiện các chức
năng đã được quy định sẵn của họ trong cơ cấu ổn định của xã hội.
Thuyết chức năng đem tới cho chúng ta sự giải thích tương đối có lý về nguồn
gốc của sự khác biệt vai trò giới và cũng thể hiện sự hữu dụng của chức năng về những
nhiệm vụ được quy định và phân công trên cơ sở giới. Trong gia đình, người chồng –
người cha sẽ thực hiện vai trò công cụ giúp duy trì cơ sở xã hội , hoàn thiện cơ sở vật
chất gia đình, là cầu nối giữa gia đình và thế giới bên ngoài còn người vợ – người mẹ
sẽ thực hiện vai trò tình cảm tức là người tạo các mối quan hệ gắn bó, tình cảm và nuôi
dưỡng gia đình, đảm bảo cho gia đình luôn êm ấm. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại
cũng sẽ xuất hiện những sai lệch về vai trò, những sai lệch này có thể được điều chỉnh
hoặc sẽ tạo ra một trạng thái cân bằng mới về vai trò trong gia đình.
Cụ thể, trong đề tài nghiên cứu này của chúng tôi, chức năng của người cha,
người mẹ sẽ được thể hiện cụ thể trong việc đầu tư cho việc học tập của con cái trong
gia đình.
13


14


Chương 2. Thực trạng đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con
gái.
2.1. Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và con gái.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã phát ra 35 bảng hỏi, thu về 35 bảng hỏi hợp lệ và
thu được kết quả về nhận thức của cha mẹ về việc học tập của con trai và con gái như
sau:

con gái.

Từ bảng 1 ta thấy, trong số 35 bảng hỏi phát ra thì tất cả đều hợp lệ. Trong đó,
số người cho rằng việc học tập của các con mình là “rất quan trọng” là 25 người, chiếm
71,4%. Có 15 người cho rằng việc học tập của các con mình là “quan trọng”, chiếm
25,7%. Chỉ có 1 người cho rằng việc học tập là “bình thường”, chiếm 2,9% và không
có ai cho rằng việc học tập là không quan trọng.
Như vậy, đa số các phụ huynh học sinh đều cho rằng công việc học tập là quan
trọng đối với con cái họ. Việc học tập của con cái họ luôn được coi trọng và được đặt
lên hàng đầu.
Hộp 1: Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và con gái.
PVS 5, D.T.N, 44 tuổi: “Việc học tập luôn luôn phải đặt lên hàng đầu. Đối với gia
đình cô, các con có học tập tốt mới có thể trở thành công dân tốt cho xã hội. Học không
chỉ để lấy kiến thức, mà học để các con có sự giao tiếp trong xã hội”.

15


Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

2.2. Đầu tư tài chính của cha mẹ cho việc học của các con.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 2: Mức đầu tư tài chính cho việc học tập của con cái. (Đơn vị: VNĐ/tháng)
Mức

Từ

500.000


1

2,9

18

51,4

Giới

- 700.000

(%)

700.0001000.000

Tỷ lệ

Trên

Tỷ lệ

500.000

Tỷ lệ

Từ

Dưới


dục.
Hộp 2: Đầu tư vật chất cho việc học tập của con cái.
PVS 3, B.T.L, 43 tuổi: “Thường thì cô đầu tư cho con trong sách vở, đồ dùng học
tập. Cô hạn chế cho con đi học thêm vì sợ chúng sẽ ỉ lại vào học thêm mà lơi là việc
học trên lớp. Quan niệm của cô là thưởng phạt rõ ràng. Nếu con được điểm tốt cô sẽ có
thưởng, và ngược lại. Cô cũng cho các con đi học thêm để có thêm kiến thức. Về tài
chính thì cô cũng luôn đáp ứng đầy đủ cho việc học của các con”.

Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

2.3. Lượng thời gian cha mẹ đầu tư cho việc học của các con.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 3: Số lượng thời gian cha mẹ đầu tư cho việc học của các con.
Thời gian

Dưới 1 tiếng

Từ 1 - 2 tiếng

Từ 2 - 3 tiếng

Từ 3 - 4 tiếng

Trên 4 tiếng

Giới tính

Số
lượng

0

0

6

17,1

2

5,7

5

14,3

22

62,9

Con gái

2

5,7

3

8,6


thường xuyên. Ngay cả ông bảo vệ gia đình chú cũng biết hết. Buổi sáng các cháu đi
học nên thời gian đó các cháu chịu sự quản lý của nhà trường. Chỉ có thời gian buổi tối
khi ăn cơm thì chú cũng trao đổi với các cháu về vấn đề học hành. Để biết được các
con có vướng mắc gì không, có cần hỗ trợ gì không. Hằng ngày ngoài những việc vặt
trong gia đình thì hầu hết thời gian của các cháu đều dành cho học tập”.
Qua đó có thể thấy, dù sự chênh lệch là không nhiều nhưng ở một mức độ nào
đó thì con trai vẫn được đầu tư nhiều hơn con gái, nhưng tỉ lệ đó cũng là khá nhỏ nên
có thể thấy ở thời điểm hiện tại thì quan niệm của các bậc phu huynh đã không còn quá
nhiều sự phân biệt giữa nam và nữ trong việc đầu tư về thời gian học tập cho con.

18


Biểu đồ 3: Số thời gian cha mẹ đầu tư cho việc học của con trai và con gái (Tỷ lệ:
%)
Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

2.4. Sự quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của các con.
2.4.1. Mức độ quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của con trai và con gái.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 4: Mức độ quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của con trai và con gái.
Số người

Tỉ lệ

Con trai

3


rất ít (20%).
Hộp 4: Sự quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của các con.
PVS 4, Đ.V.D, 38 tuổi: “Với chú, con trai hay con gái đều phải có những lợi ích
và sự quan tâm từ gia đình như nhau. Gia đình chú thường hỏi han về học tập của các
con vào buổi tối khi các con đi học về. Thực sự cũng rất bận nhưng cô chú vẫn luôn
ghi nhớ rằng việc học của các con phải đặt lên hàng đầu”.

19


Như vậy, trong việc quan tâm đến việc học tập của các con mình thì các bậc phụ
huynh hầu như không có sự phân biệt giữa con trai và con gái.
2.4.2. Hình thức cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con trai và con gái.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 5: Hình thức cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con trai và con gái.
Giới tính
Hình thức

Con trai

Con gái

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)


88,6

31/35

88,6

35/35

100

34/35

97,1

32/35

91,4

32/35

91,4

26/35

74,3

27/35

77,1


Thuê gia sư

Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

Trong số 35 bảng hỏi phát ra thì tất cả đều hợp lệ. Từ số liệu ở bảng 5, ta thấy
các bậc cha mẹ học sinh đều có những cách khác nhau để quan tâm đến việc học tập
của con cái họ. Nhưng gần như không có sự phân biệt giới tính trong cách quan tâm
đến việc học của con cái họ. Trong số 35 người được hỏi thì: với hình thức là dạy con
học thì việc quan tâm đến con trai có 9 người, con gái là 8 người; hình thức kiểm tra
bài vở thì cả con trai và con gái đều là 21 người; hình thức trao đổi với giáo viên thì
với con trai là 30 người và con gái là 31 người; hình thức dành nhiều thời gian cho con
20


học đều là 31 người; hình thức nhắc nhở, khuyên bảo với con trai là 35 người và con
gái là 34 người; hình thức động viên, khuyến khích thì cả con trai và con gái đều là 32
người; hình thức mua tài liệu với con trai là 26 người và con gái là 27 người; hình thức
cho con đi học thêm thì cả con trai và con gái đều là 29 người; hình thức thuê gia sư thì
chỉ có 1 người thuê gia sư cho con trai họ.
Hộp 5: Hình thức cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con cái.
PVS 2, B.B.P, 45 tuổi: “Hàng tuần gia đình chú vẫn kiểm tra sách vở các cháu để
nắm được tình hình học tập. Xem điểm học tập của các cháu thông qua cuốn sổ liên
lạc. Còn về kiến thức học thì chú không có khả năng để học theo các con. Nên chỉ biết
đôn đốc, nhắc nhở và quan tâm đến các cháu thông qua bài vở kiểm tra và sổ liên lạc”.
Qua đó có thể kết luận là không có sự phân biệt giới tính của cha mẹ học sinh
trong việc quan tâm đến việc học tập của con cái họ và với sự quan tâm như vậy của
các bậc phụ huynh học sinh thì sẽ góp phần vào việc giúp con cái họ có thể học tập tốt
hơn và đạt kết quả cao trong học tập.
2.5. Dự định bậc học của cha mẹ cho các con.

0

0/35

0

THPT

0/35

0

2/35

5,7

Trung cấp nghề

2/35

5,7

0/35

0

CĐ - ĐH

19/35


con gái là 12, chiếm 34,3%.

Hộp 6: Dự định bậc học của cha mẹ cho các con.
PVS 5, D.T.N, 44 tuổi: “Cô luôn tôn trọng quyết định của con. Các con có khả
năng đến đâu thì cô sẽ đầu tư đến đó. Cô cũng sẽ không ép con phải học cái này hay
cái kia. Vì như thế vô hình chung đã ép các con vào những áp lực và gây phản tác
dụng. Con trai hay con gái thì đều cần phải đầu tư đúng mức”.
Qua số liệu trên thì việc dự định đầu tư của cha mẹ cho con học tới các bậc học
là không có sự phân biệt nhiều giữa con trai và con gái, nhưng vẫn có một số ít gia
đình chỉ cho con gái học hết THPT. Như vậy, dù không nhiều nhưng trong việc dự định
đầu tư của cha mẹ cho con học tới các bậc học là vẫn có sự phân biệt giữa con trai và
con gái.
2.6. Những nguồn thông tin cha mẹ học sinh tham khảo để đầu tư cho việc học
của các con.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Trong số 35 phiếu phát ra thì tất cả đều hợp lệ. Trong đó, có 33 người nói là có
tham khảo thông tin để đầu tư cho việc học tập của con cái, chiếm 94,3%; chỉ có 2
người chọn họ không tham khảo thông tin để đầu tư cho việc học của con cái, chiếm
5,7%.
Bảng 7: Nguồn thông tin cha mẹ tham khảo để đầu tư cho việc học của con.

22


Nguồn thông tin

Số lượng

Tỷ lệ (%)


Khác

1

3

Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

Trong 33 người trả lời thì họ có tham khảo qua nhiều nguồn thông tin khác
nhau. Trong đó, tham khảo thông tin qua tivi thì cả 33 người đều chọn, chiếm 100% ;
tham khảo thông tin qua báo chí có 27 người, chiếm 27% ; qua đài thì có 6 người,
chiếm 18,2% ; qua Internet có 14 người, chiếm 42,4% ; qua người thân, bạn bè có 27
người, chiếm 81,8% ; qua nguồn khác chỉ có 1 người, chiếm 3%.
Từ số liệu trên cho thấy những nguồn thông tin phổ biến và người dân dễ tiếp
cận vẫn được người dân thông qua để tham khảo chiếm tỉ lệ đa số như tivi (100%), báo
(81,8%), người thân - bạn bè (81,8%). Có thể thấy, các bậc phụ huynh học sinh đã
không chỉ đầu tư tiền bạc và thời gian cho việc học của các con mà còn thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng để tìm hiểu về việc học tập để giúp cho việc đầu tư
cho việc học của các con họ thêm chất lượng và đạt hiệu quả cao.
Hộp 7: Nguồn thông tin cha mẹ học sinh tham khảo để đầu tư cho việc học của
các con.
PVS 3, B.T.L, 43 tuổi: “Có chứ. Cô cũng là giáo viên, chính vì vậy cô thường
hay xem các trang báo mạng về giáo dục để áp dụng vào việc dạy dỗ con học tập. Điều
đó rất bổ ích và có lợi”.

23


24


Cán bộ xã

1

2,9

Giáo viên

4

11,4

Làm ruộng

27

77,1

Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và
con gái.

Trong số 35 phiếu phát ra thì tất cả đều hợp lệ. Từ số liệu ở bảng 8 thì đa số phụ
huynh học sinh được hỏi là làm ruộng với 27 người, chiếm 77,1%, giáo viên có 4
người, chiếm 11,4%, bộ đội có 2 người, chiếm 5,7%, cán bộ xã và bác sĩ thú y cùng có
1 người, chiếm cùng là 2,9%. Với địa bàn là một vùng nông thôn ở trung du miền núi
thì số người có nghề nghiệp là làm nông chiếm đa số không có gì là lạ. Với nhiều
ngành nghề như vậy thì chắc chắn sẽ có sự khác biệt trong cách đầu tư cho việc học tập
của con cái họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status